Header Page 1 of 16.
1
Nghiên cứu một số mô hình sản xuất nông nghiệp thích ứng biến đổi khí hậu
dựa vào kiến thức bản địa ở xã Như Cố, huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn
Đỗ Thị Lan1, Nguyễn Thị Huệ1, Dương Thị Hoạt1
TÓM TẮT
Kết quả nghiên cứu cho thấy: Những biến đổi của các hiện tượng thời tiết đã ảnh hưởng lớn
đến đời sống của người dân xã Như Cố, đặc biệt là lĩnh vực sản xuất nông nghiệp. Người dân
cũng đã biết vận dụng các kiến thức bản địa về kỹ thuật canh tác và sử dụng các giống cây
trồng bản địa có tiềm năng (Dưa lê, chuối tây, gừng, khoai tây, đỗ xanh...) để thích ứng với
biến đổi khí hậu (BĐKH). Ba mô hình nghiên cứu tại xã đã được người nông dân hưởng ứng
nhiệt tình và đạt được kết quả cao: Mô hình cây khoai tây chịu rét, mô hình cây dưa lê chịu
hạn, mô hình trồng xen chuối và gừng trên đất dốc. Các mô hình này không những đem lại lợi
ích về mặt kinh tế cho người dân mà còn có ý nghĩa về mặt xã hội và môi trường, đảm bảo sự
phát triển bền vững trong điều kiện BĐKH.
Từ khóa: Biến đổi khí hậu, kiến thức bản địa, mô hình, thích ứng, sản xuất nông nghiệp.
1. Đặt vấn đề
Trong những năm gần đây, Bắc Kạn là một trong những tỉnh bị thiệt hại lớn trong sản xuất
nông nghiệp do sự xuất hiện của hiện tượng thời tiết khí hậu cực đoan. Trước tình hình đó,
ngoài những giải pháp về công nghệ thì những tri thức bản địa giúp người dân thích ứng được
với biến đổi khí hậu là vô cùng quan trọng. Cộng đồng người dân ở Bắc Kạn nói riêng và
miền núi phía Bắc Việt Nam nói chung có vốn kiến thức và kinh nghiệm truyền thống sản
xuất nông nghiệp. Người dân đã biết sử dụng các giống cây trồng bản địa có tiềm năng, sử
dụng kỹ thuật chăm bón từ nhiều đời nay để duy trì hoạt động sản xuất của mình trong điều
kiện BĐKH. Nhiều mô hình cây trồng bản địa đã được triển khai trên toàn tỉnh. Tuy nhiên, để
đánh giá được hiệu quả của các mô hình cây bản địa thì đề tài“Nghiên cứu một số mô hình sản
xuất nông nghiệp thích ứng biến đổi khí hậu dựa vào kiến thức bản địa ở xã Như Cố, huyện Chợ
Mới, tỉnh Bắc Kạn” là thực sự cần thiết. Kết quả nghiên cứu là cơ sở để người dân tại các địa
phương có cùng điều kiện áp dụng và triển khai, nâng cao hiệu quả kinh tế.
Các nội dung trên được đưa ra thảo luận nhóm có định hướng ở cộng đồng. Xã lựa
chọn ra 5 nhóm, mỗi nhóm bao gồm từ 7-10 người đại diện cho các cộng đồng dân tộc chính
ở tại địa phương. Các nhóm thảo luận ở mỗi xã bao gồm:
- 01 nhóm nam giới
- 01 nhóm nữ giới
- 01 nhóm hiểu biết trong xã
- 01 nhóm nam dân tộc thiểu số khó khăn nhất (Dao)
- 01 nhóm nữ dân tộc thiểu số khó khăn nhất (Dao)
* Phỏng vấn sâu tại địa phương
Công cụ này được sử dụng chủ yếu trong nghiên cứu này nhằm tìm ra những thông tin
sâu về kiến thức bản địa, kinh nghiệm của người dân trong SXNN thích ứng với BĐKH. Tại
mỗi thôn bản các thành phần tham gia phỏng vấn sâu bao gồm:
- Người già: 3 nam và 3 nữ
- Người am hiểu: 3 người
- Cán bộ lãnh đạo xã: 01 cán bộ Hội nông dân và 01 cán bộ Hội Phụ nữ
- 3 người hiểu biết nhất được chọn ra từ các nhóm thảo luận
* Phương pháp xử lý thông tin
Cả hai phương pháp phân tích định tính và định lượng đều được sử dụng trong nghiên
cứu này. Các số liệu điều tra được mã hoá, nhập và xử lý thống kê bằng phần mềm Excel.
- Phương pháp xử lý số liệu: Xử lý thống kê mô tả các đặc điểm của hộ, cơ cấu cây
trồng, vật nuôi của hộ, các tác động của biến đổi khí hậu, các hoạt động thích ứng mà hộ áp
dụng.
- Phương pháp phân tích định tính được sử dụng để phân tích thực trạng nhận thức của
người dân trong thích ứng với biến đổi khí hậu.
3. Kết quả và thảo luận
3.1. Tác động của BĐKH đến sản xuất nông nghiệp tại xã Như Cố
Bảng 1. Tác động của Biến đổi khí hậu đến sản xuất nông nghiệp
tại xã Như Cố
Cây trồng/
vật nuôi
- Bệnh bó rễ, thời vụ chậm lại
Bệnh đạo ôn do mưa nắng thất thường
- Bệnh vàng lùn, xoắn lá trước đây không có
Hạn kéo dài
Ít hạt do trổ cờ thiếu nước
Không có hạt
Rét
Thời gian ra bắp chậm hơn
Ít hạt
Mưa nắng thất thường
Khi ngô sắp trổ cờ, cây bị thối nhũn đến gốc và
chết, trước đây không bị bệnh này.
Hạn
Rệp màu xanh đen phát triển nhiều làm cây lùn
xuống và chết, xuất hiện vào tháng 5 - 6.
Mưa nắng thất thường,
mưa nhiều vào tháng 2-3
Dưa lê
Kiến đỏ ăn củ
Thiếu độ ẩm, ảnh hưởng sinh trưởng, phát triển
Quăn lá
Bệnh Cước chân
Lợn
Footer Page 3 of 16.
Thời tiết thất thường
Tụ huyết trùng
Lở mồm long móng
4
Header Page 4 of 16.
Viêm loét miệng
Dê, trâu, bò
Thời tiết thất thường
Rét đậm rét hại
Gia Cầm
Thời tiết thất thường
- Trồng xen nhiều loại cây
trồng
- Dùng phế phụ phẩm nông
nghiệp để ủ gốc, phủ lên mặt
luống
- Chặt ngang thân cây chuối
trước khi trồng
Chăm sóc và phòng trừ sâu
bệnh:
- Chấm mặt cắt của củ giống
khoai tây vào tro bếp hoặc xi
măng
- Dùng bẫy đèn để bắt sâu
xám hại ngô, đậu đỗ.
- Vãi tro bếp lên cây để trừ rầy.
- Dùng cây Mác Ca cắm ở ruộng
để xua đuổi côn trùng, bọ xít.
Một số hoạt động khác
+ Thay đổi thời vụ gieo trồng
cho phù hợp với từng loại cây
trồng và điều kiện thời tiết:
- Gieo mạ vào cuối tháng 2 thay vì
gieo vào cuối tháng 1.
- Chủ động trồng ngô sớm hơn
trong vụ đông
- Trong lâm nghiệp người dân chỉ
mang cây con đi trồng sau khi
trời mưa to, đất đã đủ ẩm để tránh
hạn, đảm bảo cho cây sống tốt.
Header Page 5 of 16.
5
Bảng 3. Cây trồng nông nghiệp và KTBĐ được sử dụng
Kiến thức bản địa
- Kỹ thuật canh tác: Bón lót phân chuồng, sử dụng thảo mộc để trừ sâu
Cây lúa
Cây ngô
- Diệt bọ xít: Dùng dẻ cuốn thành cuộn to, ngâm vào nước giải rồi cắm ra
ruộng hoặc cho nước vào ruộng, bọ xít bò lên lá, dùng vợt để bắt.
- Chống rét cho mạ: vãi tro bếp và phủ nilon
- Chống rét cho lúa: Tháo bớt nước chỉ còn 2-3 cm rồi sục bùn bón phân.
- Trừ sâu xám: Bắt sâu ban đêm bằng tay
- Tưới nước pha phân lân khi ngô trỗ cờ bị hạn giúp cây trỗ đồng đều hơn
- Hoa xoan nở thì bắt đầu thời vụ gieo trồng
Cây đỗ xanh - Vãi tro lên cây để trừ rệp muội
- Không trồng đậu xanh trên chân đất quá tốt
Cây khoai
tây
Sử dụng phân vi sinh hoặc phân chuồng hoai mục
- Lên luống thấp để hạn chế khô hạn
- Tỉa bớt thân nếu cây khoai tây mọc nhiều thân
- Trồng trên chân đất cát pha ven suối, khi lên luống cho một ít rơm rạ xuống
trước khi đặt củ giống để đất tơi xốp, củ phát triển nhanh và nhẵn nhụi
Footer Page 5 of 16.
Header Page 6 of 16.
6
- Giống khoai lang địa phương cũng được duy trì phát triển vì củ có thể làm thức ăn
cho người, cho gia súc hoặc mang bán; dây khoai lang được bà con dùng làm thức ăn bổ sung
cho trâu bò, lợn trong vụ đông thiếu thức ăn tự nhiên, giúp cho đàn gia súc vượt qua được các
đợt rét đậm, rét hại.
- Cây đỗ xanh, lạc địa phương là giống họ đậu bản địa cũng được người dân duy trì
phát triển để tiêu dùng và mang bán. Các giống này có thể bố trí vào các công thức xen canh
luân canh của địa phương trên đất lúa 1 vụ đạt hiệu quả tốt.
- Cây dưa lê là giống siêu ngọt có hiệu quả kinh tế cao. Dưa lê có mùi thơm và thường
được dùng làm món tráng miệng. Dưa lê có hàm lượng vitamin A, B, C và chất khoáng như
magie, natri khá cao, không có cholesterol. Những người muốn giảm cân nên bổ sung dưa lê
vào thực đơn ăn kiêng của họ. Trồng dưa lê còn có ưu điểm tiết kiệm được nguồn nước tưới
nên phù hợp với những vùng có nguy cơ bị hạn. Sản phẩm phụ của cây dưa lê (rễ, thân lá) là
nguồn phân bón tại chỗ khá giàu đạm, sẽ giảm lượng phân bón hóa học cho cây lúa vụ mùa,
từ đó đất đai sẽ được bảo vệ và tăng độ phì.
- Giống chuối tây địa phương là giống bản địa, có chất lượng quả tốt, có thị trường
tiêu thụ ổn định nên ngày càng được người dân phát triển. Người dân có mong muốn tiếp tục
phát triển giống chuối này. Theo họ, trồng chuối rất có hiệu quả vì: Quả chuối dễ bán, mang
lại thu nhập đáng kể; thân cây chuối có thể tận dụng để làm thức ăn bổ sung cho trâu bò, lợn,
gà, ngan, ngỗng rất tốt. Đặc biệt làm thức ăn bổ sung cho trâu bò vào vụ đông khi trời rét, cỏ
tự nhiên khan hiếm. Chính quyền địa phương cũng cho rằng cây chuối là một lựa chọn khả thi
và mang lại hiệu quả cho bà con trên đất đồi.
Nếu kết hợp giống chuối bản địa này với quy trình thâm canh tiên tiến thì sẽ mang lại
* Tiêu chí lựa chọn mô hình thích ứng cây khoai tây chịu rét
Mô hình khoai tây thích ứng rét sẽ sử dụng giống khoai tây Hà Lan có thịt củ màu
vàng, kết cấu chặt, có vị đậm. Mô hình sẽ áp dụng tối đa các kinh nghiệm và kiến thức bản
địa của người dân địa phương và chú ý đến những lưu ý về kỹ thuật trồng. Nguồn phân bón
được sử dụng chủ yếu từ phân gia súc được ủ hoai mục với chất độn chuồng, một số cây cỏ
dại và trấu bằng men ủ phân vi sinh EMIG 25G. Khi rạch hàng trồng sẽ độn rơm rạ vừa thu
hoạch lúa mùa để tận dụng nguồn phân bón và tăng độ ẩm, độ xốp cho củ phát triển. Luống
trồng sẽ được lên thấp và áp dụng các biện pháp chăm sóc để tăng cường khả năng sinh
trưởng, chống chịu.
Bảng 4. Tiêu chí lựa chọn mô hình thích ứng cây khoai tây chịu rét
Tiêu chí
Đặc điểm
Giống khoai tây
Giống khoai tây Đức, có thịt củ màu vàng
- Phù hợp với điều kiện đất đai, khả năng đầu tư của người dân:
Mức độ đầu tư trung bình khoảng 650-700 nghìn đồng/360m2) phù
hợp với hộ nghèo, hộ trung bình và cả hộ giàu
- Kỹ thuật canh tác và kỹ thuật để giống dựa vào kiến thức bản địa
và kinh nghiệm của người dân
- Phù hợp với cả phụ nữ và nam giới, giải quyết vấn đề lao động
nhàn rỗi trong vụ đông.
Tính phù hợp
- Cải thiện thu nhập cho mùa đông khi các cây nông nghiệp
khác không cho thu nhập
Tính thích ứng biến
được xem là cây chịu lạnh cần được thử nghiệm mô hình và phát triển nhân rộng tại địa
phương.
Điều kiện đất đai, cây khoai tây yêu cầu không quá khắt khe, trên đất cát pha, thịt nhẹ,
bãi bồi ven suối đều có thể trồng. Qua thảo luận với người dân và cán bộ chuyên môn tỉnh,
huyện diện tích đất này của xã vào vụ đông tương đối lớn, bao gồm gần hết diện tích đất lúa 2
vụ và 1 phần diện tích đất lúa 1 vụ hiện tại đang bỏ hoang vụ đông khoảng 40 ha.
* Kiến thức bản địa sử dụng trong mô hình cây khoai tây thích ứng với rét
Tuy cây khoai tây không phải là giống cây trồng bản địa tại xã Như Cố, nhưng người
dân đã từng trồng với quy mô nhỏ chủ yếu để tự phục vụ cho gia đình và có một số kinh
nghiệm trong sản xuất cây khoai tây:
- Khi trồng chỉ cần tạo một rãnh nhỏ khoảng 15-10 cm, đủ để đi lại và tiện chăm sóc
đồng thời hạn chế hạn hán.
- Khi rạch hàng trồng thay vì phải đập đất nhỏ cho tơi xốp, người dân đã tận dụng một
lượng rơm rạ để độn phía dưới, rồi mới đặt củ lên, vừa tận dụng phân bón tại chỗ lại góp phần
bảo vệ môi trường.
- Đối với những củ giống nhỏ người dân sử dụng cả củ để trồng, nhưng những củ to,
người dân bổ nhỏ rồi chấm với tro bếp để hạn chế vi khuẩn thâm nhập, vừa tiết kiệm giống lại
giảm chi phí.
- Khi tưới nước vào rãnh phải rút ngay sau 3 - 4 giờ để tránh củ thối
- Khi trồng người dân rắc thêm vôi bột để hạn chế sâu bệnh
- Tưới vào buổi sáng để rửa lá hạn chế sương muối
- Tận dụng phế phụ phẩm nông nghiệp làm nguồn phân bón tại chỗ
3.4.2. Mô hình cây trồng thích ứng chịu hạn - Cây dưa lê
* Tiêu chí lựa chọn mô hình thích ứng cây dưa lê chịu hạn
Giống dưa lê sử dụng là giống siêu ngọt, hạt nhỏ (một loại giống địa phưương). Dưa lê
trồng vào tháng giêng, là cây trồng có thời gian sinh trưởng ngắn, chỉ khoảng 90- 100 ngày đã
cho thu hoạch nên giải phóng đất kịp thời cho cây trồng vụ sau. Trồng dưa lê còn có ưu điểm
tiết kiệm được nguồn nước tưới nên phù hợp với những vùng có nguy cơ bị hạn. Sản phẩm
phụ của cây dưa lê (rễ, thân lá) là nguồn phân bón tại chỗ khá giàu đạm, sẽ giảm lượng phân
bón hóa học cho cây lúa vụ mùa, từ đó đất đai sẽ được bảo vệ và tăng độ phì.
khả năng nhân rộng
thiết phải đa dạng hóa hoạt động sản xuất để giảm tác động của
BĐKH.
- Người dân có nhu cầu phát triển cây dưa lê, có thể tự để giống
- Thời gian sinh trưởng ngắn, kịp giải phóng đất cho cây lúa vụ
mùa
- Mức độ đầu tư ban đầu thấp, phù hợp với hộ nghèo, hộ trung
bình và cả hộ giàu
Giống dưa lê địa phương(siêu ngọt) là một cây trồng bản địa ngắn ngày (thời gian sinh
trưởng 60-80ngày), giai đoạn gieo hạt (bắt đầu lập xuân) chỉ cần một lượng nước nhỏ, đủ ẩm
cây có thể mọc. Trong thời kỳ sinh trưởng cây cũng không cần nhiều nước như lúa, ngô nên
được coi là cây trồng chịu hạn tốt. Cây cho thu hoạch sớm nên không bị ảnh hưởng bởi mưa
cuối vụ. Ngoài chức năng cải tạo đất nhờ vào khả năng cố định đạm, thân lá của dưa lê để tại
chỗ làm phân bón cho lúa mùa rất tốt.
* Kiến thức bản địa sử dụng trong mô hình cây dưa lê thích ứng chịu hạn
Nhìn chung người dân áp dụng theo quy trình kỹ thuật phổ biến hiện nay, tuy nhiên có
một số đặc điểm kiến thức bản địa riêng của vùng:
- Sử dụng dưa lê siêu ngọt địa phương, có khả năng chống chịu sâu bệnh và điều kiện
ngoại cảnh tương đối tốt.
- Trong giai đoạn cây sinh trưởng, nếu có rệp muội người dân sử dụng tro bếp để trừ
nên hạn chế được chi phí cho phòng trừ sâu bệnh và đảm bảo sản phẩm an toàn.
- Người dân thường dùng tro bếp hoặc lá xoan phơi khô để bảo quản hạt dưa lê, đặc
biệt là hạt dưa lê làm giống, sử dụng tro bếp trộn với hạt dưa lê rồi cho vào chum vại, rắc phía
trên 1 ít tro có thể đảm bảo tỉ lệ nảy mầm cao trong năm sau.
3.4.3. Mô hình canh tác trên đất dốc - Trồng chuối tây xen gừng ta
* Tiêu chí lựa chọn mô hình canh tác trên đất dốc - Trồng chuối tây xen gừng ta
Mô hình tổng hợp thể hiện sự thích ứng và sự hỗ trợ lẫn nhau giữa các hệ thống cây
trồng, các kỹ thuật canh tác ở các địa hình khác nhau của hệ thống sản xuất nông nghiệp đặc
- Quỹ đất của xã chủ yếu đặc trưng địa hình đồi núi nên mô hình có khả
Tính bền vững
năng nhân rộng cao
và khả năng
- Có thể sử dụng một trong các hợp phần của mô hình ở địa hình, độ dốc
nhân rộng
khác nhau để thực hiện nếu không đủ điều kiện để thực hiện toàn bộ mô
hình
- Duy trì được tập quán canh tác và kiến thức bản địa
Trong vụ hè cây chuối phát triển rất nhanh, mùa đông sinh trưởng chậm lại. Thông
thường sau trồng mới hoặc sau khi ra chồi mới từ 9-10 tháng cây sẽ cho buồng, sau trổ buồng 3
tháng (mùa hè), 4 tháng (mùa đông) buồng sẽ cho thu hoạch. Khi chuối Tây thu hoạch vào mùa
đông, buồng thường nhỏ hơn, tuy nhiên giá cả thường cao hơn vụ hè do vụ đông trên địa bàn
tỉnh rất ít cây ăn quả có trái bán. Ngoài ra, trong vụ đông khi cây chuối được thu hoạch mang lại
thu nhập cho người dân, giảm gánh nặng phải lo tìm kiếm tiền trang trải cuộc sống, góp phần
giải quyết vấn đề lao động nhàn rỗi, giảm mức độ tác động vào rừng chặt cây, gỗ bán lấy tiền.
Cây gừng ta là cây địa phương, ưa bóng, nên trồng xen với chuối rất phù hợp, gừng được trồng
vào vụ xuân và cho thu hoạch vào khoảng tháng 12. Do đó vào thời điểm mùa mưa, gừng đã
che phủ kín mặt đất nên hạn chế được xói mòn và cỏ dại mọc. Hơn nữa gừng cho thu hoạch vào
gần Tết nguyên đán nên bà con có thu nhập để mua sắm tết.
* Kiến thức bản địa sử dụng trong mô hình canh tác trên đất dốc - Trồng chuối tây xen gừng
- Cải tạo đất sử dụng phân bón hữu cơ vi sinh do người dân tự sản xuất
- Trồng cây cốt khí theo đường đồng mức
- Làm hố lấy nước để sản xuất phân hữu cơ tại chỗ và tưới cho cây
- Làm đường đồng mức
- Lựa chọn các giống cây trồng bản địa: chuối, đỗ xanh, đinh lăng…
3.5. Đánh giá hiệu quả của cả 3 mô hình
3.5.1. Hiệu quả về kinh tế
* Mô hình cây khoai tây chịu rét
Cây khoai tây sinh trưởng và phát triển rất tốt, ít sâu bệnh, do đó mô hình cho năng
4-6
Nà Chào
5–8
2,1
5 -7
Nà Roong
5-6
1,8
5-6
(Nguồn: Điều tra thực tê)
Trong vụ đông năm 2014, mô hình cây khoai tây giống Hà Lan thích ứng với rét
được triển khai tại xã Như Cố với diện tích 8,1 ha đã mang lại hiệu quả kinh tế rõ rệt. Mô
hình lồng ghép kiến thức bản địa với kỹ thuật tiên tiến của dự án. Dự án đã sử dụng giống
Khoai tây Hà Lan (Aladin) có vỏ đỏ, ruột củ hơi vàng, thời gian sinh trưởng từ 85-90 ngày.
Dừ án hỗ trợ 80% giống và men vi sinh dùng trong ủ phân. Năng suất từ 20 -30 tấn/ha trong
điều kiện thâm canh chăm sóc tốt. Thời gian trồng bắt đầu từ 20/11/2014 đến 30/11/2014 (do
thu hoạch lúa muộn nên ảnh hưởng đến thời vụ trồng khoai tây), chưa thực sự theo đúng tiến
độ dự kiến (thời vụ trồng và thu hoạch).
Trong quá trình thực hiện, dự án đã hướng dẫn người dân kỹ thuật ủ men vi sinh
trong phân chuồng, hướng dẫn kỹ thuật trồng, chăm sóc… Nhìn chung, cây khoai tây sinh
trưởng tốt, năng suất trung bình từ 15 đến 20tạ/ha. Về hiệu quả kinh tế, sau khi trừ chi phí
Nà Roong
5400
4
Nà Chào
4000
Tổng
41500
(Nguồn:Phiếu điều tra)
Hiện nay quả dưa lê đang được thu hoạch, nhiều quả, năng xuất cao
* Mô hình trồng gừng xen chuối tây trên đất dốc
Giống gừng trong mô hình là cây gừng ta là cây địa phương, ưa bóng, nên trồng xen
với chuối rất phù hợp, gừng được trồng vào vụ xuân và cho thu hoạch vào khoảng tháng 12.
Footer Page 11 of 16.
12
Header Page 12 of 16.
Do đó vào thời điểm mùa mưa, gừng đã che phủ kín mặt đất nên hạn chế được xói mòn và cỏ
dại mọc. Hơn nữa gừng cho thu hoạch vào gần tết nguyên đán nên bà con có thu nhập để mua
sắm tết. Vụ mùa này toàn xã có 4 thôn đăng ký trồng gừng với 40 hộ với tổng diện tích:
Tổng
16700
(Nguồn: Số liệu tổng hợp thông qua phiếu điều tra, 2014)
Chưa đầy một tháng sau khi trồng, cây gừng đã nảy mầm, phát triển khá đồng đều,
một số nơi đất ẩm gừng đã bắt đầu ra lá. Qua kiểm tra cho thấy cây gừng khá phù hợp với
những diện tích đất trồng chuối tây. Bên cạnh đó, cây gừng cũng không mất nhiều công chăm
sóc vì khi làm cỏ cho cây chuối tây người dân có thể kết hợp vun gốc cho cây gừng.
3.5.2. Hiệu quả môi trường
Điều tra nghiên cứu về thực trạng môi trường nông thôn Việt Nam cho thấy, vấn đề
môi trường bức xúc nhất trong nông nghiệp và nông thôn hiện nay là suy thoái các loại tài
nguyên (rừng, đất, nước và đa dạng sinh học); sử dụng hóa chất trong nông nghiệp; nước sạch
và vệ sinh môi trường... Trong đó, việc sử dụng các loại hóa chất, thuốc BVTV trong sản xuất
nông nghiệp đang là vấn đề đang được xã hội quan tâm vì nó ảnh hưởng xấu đến con người
và môi trường sống của xung quanh.
Bảng 10. Tình hình sử dụng thuốc BVTV trong mô hình khoai tây và dưa lê ở xã
Mô hình
Khoai tây
Dưa lê
Có sử dụng
8
19
mại dâm...). Khi trở về làng xã trộm cắp, gây mất trật tự an ninh địa phương, những người
nam giới đó vô tình trở thành gánh nặng cho cả gia đình đặc biệt là người phụ nữ. Một số phụ
nữ khác cũng phải bươn trải làm thuê ở các khu đô thị vào mùa đông và họ cũng dễ dàng trở
thành nạn nhân của tệ nạn lừa đảo, mại dâm. Khi sản xuất cây khoai tây trong vụ đông sẽ tạo
công ăn việc làm tại chỗ và tăng thu nhập cho hộ nông dân, giải quyết một phần tệ nạn xã hội
là vấn đề đang nhức nhối hiện nay và giảm gánh nặng lên đôi vai phụ nữ. Đặc biệt là người
phụ nữ không phải đi xa, sẽ giảm nguy cơ bị tổn thương, đồng thời trẻ em sẽ được quan tâm
chăm sóc nhiều hơn.
4. Kết luận
Qua quá trình nghiên cứu cho thấy hạn hán, rét đậm và thời tiết thất thường là những
biểu hiện rõ của BĐKH ở địa phương. Những biến đổi của các hiện tượng thời tiết trên đã ảnh
hưởng lớn đến đời sống của người dân địa phương, đặc biệt là lĩnh vực sản xuất nông nghiệp.
Tuy nhiên, người dân cũng đã biết vận dụng các kiến thức bản địa về kỹ thuật canh tác và sử
dụng các giống cây trồng bản địa có tiềm năng để thích ứng với BĐKH. Các kinh nghiệm sản
xuất giống dưa lê cho tỉ lệ nảy mầm cao; chăm sóc khoai tây trong điều kiện hạn và rét để
tránh kiến, mối; tách chồi chuối đã được xác định và vận dụng thích ứng với BĐKH. Các
giống cây bản địa như chuối tây và gừng ta là một số trong nhiều cây bản địa có tiềm năng
thích ứng BĐKH. Để nâng cao khả năng ứng phó của người dân với BĐKH, một số mô hình
sản xuất thích ứng BĐKH đã được đề xuất gồm:
(i) mô hình cây trồng thích ứng với Rét (khoai tây)
(ii) mô hình cây trồng thích ứng với hạn (dưa lê siêu ngọt)
(iii) mô hình trồng xen canh chuối và gừng ta trên đất dốc
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bộ Tài nguyên và Môi trường, Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với BĐKH, Hà
Nội, tháng 7/ 2008.
2. Đậu Cao Lộc, Thái Phiên, Nguyễn Tử Siêm, Trần Đức Toàn (1998), “Hiệu quả của các
giải pháp kỹ thuật canh tác trên đất dốc mạnh vùng Hòa Bình”, Canh tác bền vững
đất dốc ở Việt Nam, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội,Trg 23-44.
3. Nguyễn Hữu Ninh và các cộng sự (2008), “Kết quả nghiên cứu của thế giới về BĐKH toàn
environment, ensuring sustainable development in the context of climate change.
Keywords: Climate change, indigenous knowledge, models, adaptation, agriculture.
Footer Page 14 of 16.