1
Nghiên cứu một số mô hình sản xuất nông nghiệp thích ứng biến đổi khí hậu
dựa vào kiến thức bản địa ở xã Như Cố, huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn
Đỗ Thị Lan1, Nguyễn Thị Huệ1, Dương Thị Hoạt1
TÓM TẮT
Kết quả nghiên cứu cho thấy: Những biến đổi của các hiện tượng thời tiết đã ảnh hưởng lớn
đến đời sống của người dân xã Như Cố, đặc biệt là lĩnh vực sản xuất nông nghiệp. Người dân
cũng đã biết vận dụng các kiến thức bản địa về kỹ thuật canh tác và sử dụng các giống cây
trồng bản địa có tiềm năng (Dưa lê, chuối tây, gừng, khoai tây, đỗ xanh...) để thích ứng với
biến đổi khí hậu (BĐKH). Ba mô hình nghiên cứu tại xã đã được người nông dân hưởng ứng
nhiệt tình và đạt được kết quả cao: Mô hình cây khoai tây chịu rét, mô hình cây dưa lê chịu
hạn, mô hình trồng xen chuối và gừng trên đất dốc. Các mô hình này không những đem lại lợi
ích về mặt kinh tế cho người dân mà còn có ý nghĩa về mặt xã hội và môi trường, đảm bảo sự
phát triển bền vững trong điều kiện BĐKH.
Từ khóa: Biến đổi khí hậu, kiến thức bản địa, mô hình, thích ứng, sản xuất nông nghiệp.
1. Đặt vấn đề
Trong những năm gần đây, Bắc Kạn là một trong những tỉnh bị thiệt hại lớn trong sản xuất
nông nghiệp do sự xuất hiện của hiện tượng thời tiết khí hậu cực đoan. Trước tình hình đó,
ngoài những giải pháp về công nghệ thì những tri thức bản địa giúp người dân thích ứng được
với biến đổi khí hậu là vô cùng quan trọng. Cộng đồng người dân ở Bắc Kạn nói riêng và
miền núi phía Bắc Việt Nam nói chung có vốn kiến thức và kinh nghiệm truyền thống sản
xuất nông nghiệp. Người dân đã biết sử dụng các giống cây trồng bản địa có tiềm năng, sử
dụng kỹ thuật chăm bón từ nhiều đời nay để duy trì hoạt động sản xuất của mình trong điều
kiện BĐKH. Nhiều mô hình cây trồng bản địa đã được triển khai trên toàn tỉnh. Tuy nhiên, để
đánh giá được hiệu quả của các mô hình cây bản địa thì đề tài“Nghiên cứu một số mô hình sản
xuất nông nghiệp thích ứng biến đổi khí hậu dựa vào kiến thức bản địa ở xã Như Cố, huyện Chợ
Mới, tỉnh Bắc Kạn” là thực sự cần thiết. Kết quả nghiên cứu là cơ sở để người dân tại các địa
phương có cùng điều kiện áp dụng và triển khai, nâng cao hiệu quả kinh tế.
2. Mục tiêu và phương pháp nghiên cứu
2.1. Mục tiêu nghiên cứu
- 01 nhóm nữ dân tộc thiểu số khó khăn nhất (Dao)
* Phỏng vấn sâu tại địa phương
Công cụ này được sử dụng chủ yếu trong nghiên cứu này nhằm tìm ra những thông tin
sâu về kiến thức bản địa, kinh nghiệm của người dân trong SXNN thích ứng với BĐKH. Tại
mỗi thôn bản các thành phần tham gia phỏng vấn sâu bao gồm:
- Người già: 3 nam và 3 nữ
- Người am hiểu: 3 người
- Cán bộ lãnh đạo xã: 01 cán bộ Hội nông dân và 01 cán bộ Hội Phụ nữ
- 3 người hiểu biết nhất được chọn ra từ các nhóm thảo luận
* Phương pháp xử lý thông tin
Cả hai phương pháp phân tích định tính và định lượng đều được sử dụng trong nghiên
cứu này. Các số liệu điều tra được mã hoá, nhập và xử lý thống kê bằng phần mềm Excel.
- Phương pháp xử lý số liệu: Xử lý thống kê mô tả các đặc điểm của hộ, cơ cấu cây
trồng, vật nuôi của hộ, các tác động của biến đổi khí hậu, các hoạt động thích ứng mà hộ áp
dụng.
- Phương pháp phân tích định tính được sử dụng để phân tích thực trạng nhận thức của
người dân trong thích ứng với biến đổi khí hậu.
3. Kết quả và thảo luận
3.1. Tác động của BĐKH đến sản xuất nông nghiệp tại xã Như Cố
Bảng 1. Tác động của Biến đổi khí hậu đến sản xuất nông nghiệp
tại xã Như Cố
Cây trồng/
vật nuôi
Hiện tượng thời tiết
xấu
Tác động
Thời gian ra bắp chậm hơn
Ít hạt
Mưa nắng thất thường
Khi ngô sắp trổ cờ, cây bị thối nhũn đến gốc và
chết, trước đây không bị bệnh này.
Hạn
Rệp màu xanh đen phát triển nhiều làm cây lùn
xuống và chết, xuất hiện vào tháng 5 - 6.
Mưa nắng thất thường,
mưa nhiều vào tháng 2-3
Dưa lê
+ Nhện vàng (trước đây không có), mới gây thiệt
hại nhẹ
+ Sâu đục thân phát triển: trước gây thiệt hại rất ít,
2010 gây thiệt hại 4-5%
- Tăng chi phí sản xuất: phân, thuốc, công, xăng
dầu bơm nước gấp 2-3 lần so với trước
Rụng hoa, ra hoa nhiều đợt, chín không đều
Lá phát triển nhiều, cây ra nhiều vòi
Hạn
Lở mồm long móng
4
Viêm loét miệng
Dê, trâu, bò
Thời tiết thất thường
Rét đậm rét hại
Gia Cầm
Thời tiết thất thường
Trâu bò chết
Phân trắng, phân xanh.
Con phát triển kém
(Nguồn: Điều tra thực tê)
3.2. Hoạt động ứng phó với biến đổi khí hậu trong sản xuất nông nghiệp tại xã Như Cố
Bảng 2. Các hoạt động thích ứng BĐKH
Sử dụng cây trồng
thích ứng với BĐKH
- Giống Khang Dân
là giống ngắn ngày
nên tránh được hạn
hán cuối vụ đối với
vụ lúa mùa
- Giống Bao thai là
giống phản ứng ánh
Một số hoạt động khác
+ Thay đổi thời vụ gieo trồng
cho phù hợp với từng loại cây
trồng và điều kiện thời tiết:
- Gieo mạ vào cuối tháng 2 thay vì
gieo vào cuối tháng 1.
- Chủ động trồng ngô sớm hơn
trong vụ đông
- Trong lâm nghiệp người dân chỉ
mang cây con đi trồng sau khi
trời mưa to, đất đã đủ ẩm để tránh
hạn, đảm bảo cho cây sống tốt.
+ Xây dựng hệ thống kênh
mương, phai (đập tràn), hồ
chứa nước để điều tiết nước.
- Xây dựng hai hồ chứa là Hồ Nà
Đon và hồ Quan Làng
- Hỗ trợ máy bơm nước cho một
số thôn phục vụ công tác tưới
tiêu.
- Tăng cường hoạt động trồng
- Dùng nilon che phủ mạ để
tránh rét.
rừng và bảo vệ rừng đặc biệt là
rừng nguyên sinh và rừng đầu
- Chăm sóc cây con sớm để
Cây khoai
tây
Sử dụng phân vi sinh hoặc phân chuồng hoai mục
- Lên luống thấp để hạn chế khô hạn
- Tỉa bớt thân nếu cây khoai tây mọc nhiều thân
- Trồng trên chân đất cát pha ven suối, khi lên luống cho một ít rơm rạ xuống
trước khi đặt củ giống để đất tơi xốp, củ phát triển nhanh và nhẵn nhụi
Cây gừng
Bảo quản giống trong cát, gậm sàn, tránh ánh sáng
- Khi trồng tách thành những mẩu nhỏ, trồng nơi đất tốt, lượng ánh sáng
vừa phải (dọc theo các khe, trồng xen với chuối trong năm đầu)
Cây chuối
tây
- Sử dụng cây chuối con (cao 1-1.5m) tách từ cây mẹ không sâu bệnh, cho
buồng to mập
- Khi trồng cắt ngang thân để chống hạn
- Nếu sau trồng trên 10 ngày không có mưa tiếp tục cắt vát cách vết cắt cũ
20-25 cm.
- Trồng xen ngô, lạc hay gừng trong năm đầu để tiện chăm sóc làm cỏ và
hạn chế xói mòn
Cây dưa lê
Trồng vào thời điểm bắt đầu lập xuân
Lên luống, lót phân chuồng
tự nhiên khan hiếm. Chính quyền địa phương cũng cho rằng cây chuối là một lựa chọn khả thi
và mang lại hiệu quả cho bà con trên đất đồi.
Nếu kết hợp giống chuối bản địa này với quy trình thâm canh tiên tiến thì sẽ mang lại
hiệu quả rất cao và có thể xây dựng vùng sản xuất chuối chuyên canh tại xã Như Cố và phụ
cận cung cấp sản phẩm cho tỉnh như Bắc Kạn, Thái Nguyên…
- Cây gừng ta vừa là cây gia vị, nhưng cũng là cây dược liệu và là giống bản địa. Theo
người dân cây gừng có độ thích ứng cao, dễ trồng, dễ chăm sóc, ít sâu bệnh, cho thu hoạch sau
trồng từ 6-8 tháng và dễ bán. Đặc biệt cây gừng ta không ưa áng sáng trực tiếp, nên có thể bố trí
trong công thức trồng xen với cây ăn quả (cây chuối) trong giai đoạn đầu khi cây chưa khép tán.
3.3.2. Dự báo hiện tượng thời tiết xấu phục vụ sản xuất nông nghiệp
- Khi Chuồn chuồn bay thấp thì sắp có mưa,
- Kiến di chuyển cả đàn qua đường thì sắp có mưa lớn
- Đàn vịt ở nhà tự nhiên kêu ầm ĩ thì sắp có bão,
- Cây cọ càng sai quả và quả càng xanh thì dự báo càng rét đậm.
- Rêu mọc ở đá suối bong ra, nổi lên nhiều thành từng đám thì sắp có mưa lũ
- Năm nào cây cỏ môi mọc tràn ra suối thì năm đó hạn nặng,
- Trời nắng oi và gió bắc thì sắp có bão hoặc áp thấp nhiệt đới
Các KTBĐ này ngày nay vẫn được người dân địa phương sử dụng kết hợp với thông
tin dự báo thời tiết trên truyền hình để điều chỉnh các hoạt động trong sản xuất và sinh hoạt
phù hợp với diễn biến của thời tiết, khí hậu. Các KTBĐ này có ưu điểm là gắn liền với hoạt
7
động sản xuất của người dân tại địa phương và có khả năng dự báo đúng một số HTTTX hay
thiên tai xảy ra sau một thời gian khá dài giúp cho đồng bào có khả năng thích ứng tốt hơn.
3.4. Một số mô hình cây trồng thích ứng với BĐKH dựa vào kiến thức bản địa được xây
dựng tại xã Như Cố
3.4.1. Mô hình cây trồng thích ứng rét - Cây khoai tây
* Tiêu chí lựa chọn mô hình thích ứng cây khoai tây chịu rét
Mô hình khoai tây thích ứng rét sẽ sử dụng giống khoai tây Hà Lan có thịt củ màu
Tính bền vững và
khả năng nhân rộng
- Trong điều kiện rét ngày càng kéo dài, khoai tây Đức là cây trồng
có khả năng chống chịu rét tốt nhất tại xã
- Là loại cây ngắn ngày, sản phẩm thân lá có thể làm phân bón
cho cây trồng vụ xuân
- Người dân địa phương có nhận thức rõ về tác động của BĐKH,
cần thiết phải đa dạng hóa hoạt động sản xuất để giảm tác động của
BĐKH.
- Người dân có nhu cầu phát triển cây khoai tây
- Quỹ đất tại xã rất lớn (85ha) nên mô hình có khả năng nhân rộng
- Nhu cầu tiêu thụ sản phẩm tại địa phương lớn
(Nguồn: Điều tra thực tế)
Khoai Tây là cây ưa lạnh. Trong điều kiện khí hậu vụ đông ở miền núi phía bắc lạnh
giá, cây khoai tây có thể sinh trưởng, phát triển và cho năng suất (nhiệt độ thích hợp cho
khoai tây sinh trưởng, phát triển từ 15-250). Đặc biệt với những chân ruộng trồng lúa bao thai
8
thu hoạch muộn (10/11), trong khi những cây trồng truyền thống như ngô, khoai lang không
thể sinh trưởng, phát triển được, thì cây khoai tây tỏ ra có ưu thế và thích ứng hơn cả nên
được xem là cây chịu lạnh cần được thử nghiệm mô hình và phát triển nhân rộng tại địa
phương.
Điều kiện đất đai, cây khoai tây yêu cầu không quá khắt khe, trên đất cát pha, thịt nhẹ,
bãi bồi ven suối đều có thể trồng. Qua thảo luận với người dân và cán bộ chuyên môn tỉnh,
huyện diện tích đất này của xã vào vụ đông tương đối lớn, bao gồm gần hết diện tích đất lúa 2
vụ và 1 phần diện tích đất lúa 1 vụ hiện tại đang bỏ hoang vụ đông khoảng 40 ha.
* Kiến thức bản địa sử dụng trong mô hình cây khoai tây thích ứng với rét
Tính phù hợp
nghèo, hộ trung bình.
- Thích hợp với nhiều loại đất và có khả năng cải tạo đất.
- Cải thiện thu nhập trên đất bỏ hoang vụ xuân
9
Tính thích ứng biến
đổi khí hậu
-Có khả năng chống chịu hạn tốt
- Là loại cây ngắn ngày, sản phẩm thân lá có thể làm phân bón
giàu đạm cho cây trồng vụ mùa, để giảm lượng sử dụng phân bón
hóa học
- Người dân địa phương nhận thức rõ về tác động của BĐKH, cần
Tính bền vững và
khả năng nhân rộng
thiết phải đa dạng hóa hoạt động sản xuất để giảm tác động của
BĐKH.
- Người dân có nhu cầu phát triển cây dưa lê, có thể tự để giống
- Thời gian sinh trưởng ngắn, kịp giải phóng đất cho cây lúa vụ
mùa
- Mức độ đầu tư ban đầu thấp, phù hợp với hộ nghèo, hộ trung
bình và cả hộ giàu
Giống dưa lê địa phương(siêu ngọt) là một cây trồng bản địa ngắn ngày (thời gian sinh
10
- Phù hợp với trình độ thâm canh bởi các loại cây trồng là những cây bản
địa và kỹ thuật trồng chủ yếu dựa vào kiến thức bản địa và kinh nghiệm
của người địa phương
- Tăng độ che phủ, tăng khả năng hấp thụ CO2
Tính thích ứng - Đa dạng hóa cây con, tăng lớp thực bì làm tăng khả năng giữ nước,
biến đổi khí chống xói mòn
hậu
- Đa dạng hóa sinh kế, tăng khả năng thích ứng BĐKH cho cộng đồng,
giảm rủi ro trong sản xuất
- Người dân địa phương có nhận thức rõ về tác động của BĐKH, cần
thiết phải đa dạng hóa hoạt động sản xuất để giảm tác động của BĐKH.
- Quỹ đất của xã chủ yếu đặc trưng địa hình đồi núi nên mô hình có khả
Tính bền vững
năng nhân rộng cao
và khả năng
- Có thể sử dụng một trong các hợp phần của mô hình ở địa hình, độ dốc
nhân rộng
khác nhau để thực hiện nếu không đủ điều kiện để thực hiện toàn bộ mô
hình
- Duy trì được tập quán canh tác và kiến thức bản địa
Trong vụ hè cây chuối phát triển rất nhanh, mùa đông sinh trưởng chậm lại. Thông
thường sau trồng mới hoặc sau khi ra chồi mới từ 9-10 tháng cây sẽ cho buồng, sau trổ buồng 3
tháng (mùa hè), 4 tháng (mùa đông) buồng sẽ cho thu hoạch. Khi chuối Tây thu hoạch vào mùa
đông, buồng thường nhỏ hơn, tuy nhiên giá cả thường cao hơn vụ hè do vụ đông trên địa bàn
tỉnh rất ít cây ăn quả có trái bán. Ngoài ra, trong vụ đông khi cây chuối được thu hoạch mang lại
thu nhập cho người dân, giảm gánh nặng phải lo tìm kiếm tiền trang trải cuộc sống, góp phần
giải quyết vấn đề lao động nhàn rỗi, giảm mức độ tác động vào rừng chặt cây, gỗ bán lấy tiền.
1,2
4–5
Khuổi Chủ
4–6
1,8
4-6
Nà Chào
5–8
2,1
5 -7
Nà Roong
5-6
1,8
5-6
(Nguồn: Điều tra thực tê)
Trong vụ đông năm 2014, mô hình cây khoai tây giống Hà Lan thích ứng với rét
24000
2
Khuổi chủ
8100
3
Nà Roong
5400
4
Nà Chào
4000
Tổng
41500
(Nguồn:Phiếu điều tra)
Hiện nay quả dưa lê đang được thu hoạch, nhiều quả, năng xuất cao
* Mô hình trồng gừng xen chuối tây trên đất dốc
Giống gừng trong mô hình là cây gừng ta là cây địa phương, ưa bóng, nên trồng xen
với chuối rất phù hợp, gừng được trồng vào vụ xuân và cho thu hoạch vào khoảng tháng 12.
4
Nà Chào
4400
Tổng
16700
(Nguồn: Số liệu tổng hợp thông qua phiếu điều tra, 2014)
Chưa đầy một tháng sau khi trồng, cây gừng đã nảy mầm, phát triển khá đồng đều,
một số nơi đất ẩm gừng đã bắt đầu ra lá. Qua kiểm tra cho thấy cây gừng khá phù hợp với
những diện tích đất trồng chuối tây. Bên cạnh đó, cây gừng cũng không mất nhiều công chăm
sóc vì khi làm cỏ cho cây chuối tây người dân có thể kết hợp vun gốc cho cây gừng.
3.5.2. Hiệu quả môi trường
Điều tra nghiên cứu về thực trạng môi trường nông thôn Việt Nam cho thấy, vấn đề
môi trường bức xúc nhất trong nông nghiệp và nông thôn hiện nay là suy thoái các loại tài
nguyên (rừng, đất, nước và đa dạng sinh học); sử dụng hóa chất trong nông nghiệp; nước sạch
và vệ sinh môi trường... Trong đó, việc sử dụng các loại hóa chất, thuốc BVTV trong sản xuất
nông nghiệp đang là vấn đề đang được xã hội quan tâm vì nó ảnh hưởng xấu đến con người
và môi trường sống của xung quanh.
Bảng 10. Tình hình sử dụng thuốc BVTV trong mô hình khoai tây và dưa lê ở xã
Mô hình
Khoai tây
Dưa lê
Có sử dụng
mại dâm...). Khi trở về làng xã trộm cắp, gây mất trật tự an ninh địa phương, những người
nam giới đó vô tình trở thành gánh nặng cho cả gia đình đặc biệt là người phụ nữ. Một số phụ
nữ khác cũng phải bươn trải làm thuê ở các khu đô thị vào mùa đông và họ cũng dễ dàng trở
thành nạn nhân của tệ nạn lừa đảo, mại dâm. Khi sản xuất cây khoai tây trong vụ đông sẽ tạo
công ăn việc làm tại chỗ và tăng thu nhập cho hộ nông dân, giải quyết một phần tệ nạn xã hội
là vấn đề đang nhức nhối hiện nay và giảm gánh nặng lên đôi vai phụ nữ. Đặc biệt là người
phụ nữ không phải đi xa, sẽ giảm nguy cơ bị tổn thương, đồng thời trẻ em sẽ được quan tâm
chăm sóc nhiều hơn.
4. Kết luận
Qua quá trình nghiên cứu cho thấy hạn hán, rét đậm và thời tiết thất thường là những
biểu hiện rõ của BĐKH ở địa phương. Những biến đổi của các hiện tượng thời tiết trên đã ảnh
hưởng lớn đến đời sống của người dân địa phương, đặc biệt là lĩnh vực sản xuất nông nghiệp.
Tuy nhiên, người dân cũng đã biết vận dụng các kiến thức bản địa về kỹ thuật canh tác và sử
dụng các giống cây trồng bản địa có tiềm năng để thích ứng với BĐKH. Các kinh nghiệm sản
xuất giống dưa lê cho tỉ lệ nảy mầm cao; chăm sóc khoai tây trong điều kiện hạn và rét để
tránh kiến, mối; tách chồi chuối đã được xác định và vận dụng thích ứng với BĐKH. Các
giống cây bản địa như chuối tây và gừng ta là một số trong nhiều cây bản địa có tiềm năng
thích ứng BĐKH. Để nâng cao khả năng ứng phó của người dân với BĐKH, một số mô hình
sản xuất thích ứng BĐKH đã được đề xuất gồm:
(i) mô hình cây trồng thích ứng với Rét (khoai tây)
(ii) mô hình cây trồng thích ứng với hạn (dưa lê siêu ngọt)
(iii) mô hình trồng xen canh chuối và gừng ta trên đất dốc
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bộ Tài nguyên và Môi trường, Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với BĐKH, Hà
Nội, tháng 7/ 2008.
2. Đậu Cao Lộc, Thái Phiên, Nguyễn Tử Siêm, Trần Đức Toàn (1998), “Hiệu quả của các
giải pháp kỹ thuật canh tác trên đất dốc mạnh vùng Hòa Bình”, Canh tác bền vững
đất dốc ở Việt Nam, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội,Trg 23-44.
3. Nguyễn Hữu Ninh và các cộng sự (2008), “Kết quả nghiên cứu của thế giới về BĐKH toàn