Nghiên cứu đặc điểm tái sinh tự nhiên dưới thảm thực vật trạng thái rừng IIA, tại huyện chợ mới, tỉnh bắc kạn - Pdf 13

Phần 1
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Theo số liệu công bố của tổ chức IUCN, UNDP và WWF trung bình
mỗi năm trên thế giới mất đi khoảng 20 triệu ha rừng, trong đó rừng bị mất do
đốt phá làm nương rẫy chiếm 50%, cháy rừng 23% do khai thác từ 5-7% còn
lại là do các nguyên nhân khác (ww.vocw.edu.vn). Như vậy theo thống kê
trên ta thấy rằng tỷ lệ rừng bị mất đi do làm nương rẫy là lớn hơn 50%. Ở
Việt Nam cũng không nằm ngoại lệ đó. Nhất là ở nước ta rừng tập trung ở
khu vực vùng núi cao, nơi mà trình độ dân trí của người dân còn thấp sống
chủ yếu phụ thuộc vào nguồn tài nguyên rừng nhưng lại thiếu ý thức bảo vệ,
gìn giữ nguồn tài nguyên vô gia này. Đặc biệt với tập quán du canh, du cư,
người dân tùy ý đốt nương, làm rẫy. Sau một thời gian canh tác, khi năng suất
cây trồng giảm đi họ chuyển sang một mảnh đất khác, vài năm sau mới quay
lại mảnh đất cũ làm cho đất rừng bị thoái hóa.
Mất rừng dẫn đến hạn hán, lũ lụt. Hậu quả của nó là nghèo đói và bệnh
tật. Vì vậy, Phục hồi rừng là một trong những nội dung quan trọng nhất hiện
nay đối với ngành Lâm nghiệp Việt Nam cũng như của các nước nhiệt đới
khác khi mà độ che phủ của rừng đã bị suy giảm xuống dưới mức an toàn sinh
thái mà không đảm bảo được sự phát triển bền vững của đất nước.
Theo nghĩa thông thường, phục hồi rừng là quá trình tái lập lại rừng trên những diện tích đã bị mất rừng. Đó là quá trình sinh
địa phức tạp bao gồm nhiều giai đoạn và kết thúc bằng sự xuất hiện một thảm cây gỗ bắt đầu khép tán. Tuỳ theo mức độ tác động của
con người trong quá trình lập lại rừng mà phân chia thành các giải pháp phục hồi rừng: tái sinh tự nhiên ,xúc tiến tái sinh, tái sinh nhân
tạo (trồng rừng). Như vậy, trừ trồng rừng các giải pháp khác đều liên quan đến tái sinh tự nhiên.
Thực tiễn đã chứng minh rằng để thực hiện tốt mục tiêu là tiết kiệm
được thời gian, tiền của trong công tác phục hồi rừng thì cần có sự hiểu biết
đầy đủ về bản chất và qui luật phát triển của hệ sinh thái rừng, trước hết là
quá trình tái sinh tự nhiên. Đồng thời cũng phải căn cứ vào điều kiện kinh tế
xã hội ở mỗi nước, mỗi vùng.
Cho đến nay, đã có nhiều nghiên cứu về tái sinh tự nhiên rừng nhiệt
đới. Tuy nhiên, rừng nhiệt đới là một đối tượng hết sức đa dạng và phức tạp,

TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1. Những nghiên cứu về tái sinh tự nhiên trên thế giới
Như chúng ta đã biết tái sinh rừng là một quá trình sinh học mang tính
đặc thù của hệ sinh thái rừng, biểu hiện của nó là sự xuất hiện của một thế hệ
cây con của những loài cây gỗ ở những nơi còn hoàn cảnh rừng như: Dưới tán
rừng, lỗ trống trong rừng, đất rừng sau khai thác, đất rừng sau nương rẫy. Vai
trò lịch sử của lớp cây tái sinh là thay thế thế hệ cây già cỗi. Vì vậy, tái sinh
rừng được hiểu theo nghĩa hẹp là quá trình phục hồi thành phần cơ bản của
rừng chủ yếu là tầng cây gỗ.
Theo quan điểm của các nhà nghiên cứu thì hiệu quả tái sinh rừng được
xác định bởi mật độ, tổ thành loài cây, cấu trúc tuổi, chất lượng cây con, đặc
điểm phân bố. Sự tương đồng hay khác biệt giữa tổ thành lớp cây con và tầng
cây gỗ đã được nhiều nhà khoa học quan tâm (Mibbre-ad, 1930; Richards,
1952 ; Baur G.N, 1964 ; Rollet, 1969). Do tính phức tạp về tổ thành loài cây,
trong đó chỉ có một số loài cây có giá trị nên trong thực tiễn người ta chỉ khảo
sát những loài cây có ý nghĩa nhất định.
Vấn đề tái sinh rừng nhiệt đới được thảo luận nhiều nhất là hiệu qủa
các cách sử lý lâm sinh liên quan đến tái sinh của các loài cây mục đích ở các
kiểu rừng. Từ đó các nhà lâm sinh học đã xây dựng thành công nhiều phương
thức chặt tái sinh. Công trình của Walton, A. B. Bernard, R. C - Wyatt Smith
(1950) [19] với phương thức rừng đồng tuổi ở Mã Lai ; Taylor (1954), Jones
(1960) với phương thức chặt dần tái sinh dưới tán rừng ở Nijêria và Gana. Nội
dung hiệu quả của từng phương thức đối với tái sinh đã được G. N. Baur (1976)
[17] tổng kết trong tác phẩm cơ sở sinh thái học trong kinh doanh rừng.
Về phương pháp điều tra tái sinh tự nhiên, nhiều tác giả đã sử dụng
cách lấy mẫu ô vuông theo hệ thống của Lowdermilk (1927) với diện tích ô
đo đếm thông thường từ 1 đến 4 m
2
. Diện tích ô đo đếm nhỏ nên thuận lợi
trong điều tra nhưng số lượng ô phải đủ lớn mới phản ánh trung thực tình hình

các trạng thái rừng phục hồi sau nương rẫy.
Trong nghiên cứu tái sinh rừng người ta nhận thấy rằng tầng cỏ và cây
bụi qua thu nhận ánh sáng, độ ẩm và các nguyên tố dinh dưỡng khoáng của
tầng đất mặt đã ảnh hưởng xấu đến cây con tái sinh của các loài cây gỗ.
4
Những quần thụ kín tán, đất khô và nghèo dinh dưỡng khoáng do đó thảm cỏ
và cây bụi sinh trưởng kém nên ảnh hưởng của nó đến các cây gỗ tái sinh
không đáng kể. Ngược lại, những lâm phần thưa, rừng đã qua khai thác thì
thảm cỏ có điều kiện phát sinh mạnh mẽ. Trong điều kiện này chúng là nhân
tố gây trở ngại rất lớn cho tái sinh rừng (Xannikov, 1967; Vipper, 1973) (dẫn
theo Nguyễn Văn Thêm, 1992) [12].
Tái sinh tự nhiên của thảm thực vật sau nương rẫy được một số tác giả
nghiên cứu. Saldarriaga (1991) nghiên cứu tại rừng nhiệt đới ở Colombia và
Venezuela nhận xét: Sau khi bỏ hoá, số lượng loài thực vật tăng dần từ ban
đầu đến rừng thành thục. Thành phần của các loài cây trưởng thành phụ thuộc
vào tỷ lệ các loài nguyên thuỷ mà nó được sống sót từ thời gian đầu của quá
trình tái sinh, thời gian phục hồi khác nhau phụ thuộc vào mức độ, tần số canh
tác của khu vực đó (dẫn theo Phạm Hồng Ban, 2000) [1].
Nghiên cứu khả năng tái sinh tự nhiên của thảm thực vật sau nương rẫy
từ 1 - 20 năm ở vùng Tây Bắc ấn Độ, Ramakrishnan (1981-1992) đã cho biết
chỉ số đa dạng loài rất thấp. Chỉ số loài ưu thế đạt đỉnh cao nhất ở pha đầu của
quá trình diễn thế và giảm dần theo thời gian bỏ hoá. Long Chun và cộng sự
(1993) đã nghiên cứu đa dạng thực vật ở hệ sinh thái nương rẫy tại
Xishuangbanna tỉnh Vân Nam, Trung Quốc nhận xét: tại Baka khi nương rẫy
bỏ hoá được 3 năm thì có 17 họ, 21 chi, 21 loài thực vật, bỏ hoá 19 năm thì có
60 họ, 134 chi, 167 loài. (dẫn theo Phạm Hồng Ban, 2000) [1].
Tóm lại, kết quả nghiên cứu tái sinh tự nhiên của thảm thực vật rừng
trên thế giới cho chúng ta những hiểu biết các phương pháp nghiên cứu, quy
luật tái sinh tự nhiên ở một số nơi. Đặc biệt, sự vận dụng các hiểu biết về quy
luật tái sinh để xây dựng các biện pháp kỹ thuật lâm sinh hợp lý nhằm quản lý

ở rừng thứ sinh Hương Sơn, Hà Tĩnh. Theo tác giả, số lượng cây tái sinh xuất
hiện khá nhiều dưới các lỗ trống khác nhau. Lỗ trống càng lớn, cây tái sinh
càng nhiều và hơn hẳn những nơi kín tán. Từ đó tác giả đề xuất phương thức
khai thác chọn, tái sinh tự nhiên cho đối tượng rừng khu vực này.
Trong một công trình nghiên cứu về cấu trúc, tăng trưởng trữ lượng và
tái sinh tự nhiên rừng thường xanh lá rộng hỗn loài ở ba vùng kinh tế (Sông
Hiếu, Yên Bái và Lạng Sơn). Nguyễn Duy Chuyên (1988) [2] đã khái quát
đặc điểm phân bố của nhiều loài cây có giá trị kinh doanh và biểu diễn bằng
6
các hàm lý thuyết. Từ đó làm cơ sở định hướng các giải pháp lâm sinh cho
các vùng sản xuất nguyên liệu.
Vũ Tiến Hinh (1991) [4] khi nghiên cứu đặc điểm tái sinh tự nhiên tại
Hữu Lũng (Lạng Sơn) và vùng Ba Chẽ (Quảng Ninh) đã nhận thấy rằng, hệ
số tổ thành tính theo % số cây của tầng tái sinh và tầng cây cao có liên quan
chặt chẽ với nhau. Các loài có hệ số tổ thành ở tầng cây cao càng lớn thì hệ số
tổ thành ở tầng tái sinh cũng vậy.
Nguyễn Ngọc Lung (1993) [6] và cộng sự khi nghiên cứu về khoanh
nuôi và phục hồi rừng đã cho rằng, nghiên cứu quá trình tái sinh phải nắm
chắc các yếu tố môi trường và các quy luật tự nhiên tác động lên thảm thực
vật. Qua đó xác định các điều kiện cần và đủ để tác động của con người đi
đúng hướng, quá trình này được gọi là xúc tiến tái sinh tự nhiên.
Để đánh giá vai trò tái sinh và phục hồi rừng tự nhiên ở các vùng miền
Bắc, Trần Xuân Thiệp (1995) [14] nghiên cứu tập trung vào sự biến đổi về
lượng, chất lượng của tái sinh tự nhiên và rừng phục hồi. Qua đó, tác giả kết
luận: rừng phục hồi vùng Đông Bắc chiếm trên 30% diện tích rừng hiện có,
lớn nhất so với các vùng khác. Khả năng phục hồi hình thành các rừng vườn,
trang trại rừng đang phát triển ở các tỉnh trong vùng. Rừng Tây Bắc phần lớn
diện tích rừng phục hồi sau nương rẫy, diễn thế rừng ở nhiều vùng xuất hiện
nhóm cây ưa sáng chịu hạn hoặc rụng lá, kích thước nhỏ và nhỡ là chủ yếu và
nhóm cây lá kim rất khó tái sinh phục hồi trở lại do thiếu lớp cây mẹ

Việt Nam, đã kết luận: ánh sáng là nhân tố sinh thái khống chế và điều khiển
quá trình tái sinh tự nhiên trong thảm thực vật rừng. Nếu các điều kiện khác
của môi trường như: đất rừng, nhiệt độ, độ ẩm dưới tán rừng chưa thay đổi thì
tổ hợp các loài cây tái sinh không có những biến đổi lớn và cũng không diễn
thế một cách tuần hoàn trong không gian và theo thời gian mà diễn thế theo
những phương thức tái sinh có qui luật nhân quả giữa sinh vật và môi trường.
Trần Ngũ Phương (2000) [7] khi nghiên cứu các quy luật phát triển
rừng tự nhiên miền Bắc Việt Nam đã nhấn mạnh quá trình diễn thế thứ sinh
của rừng tự nhiên như sau: “Trường hợp rừng tự nhiên có nhiều tầng khi tầng
trên già cỗi, tàn lụi rồi tiêu vong thì tầng kế tiếp sẽ thay thế; trường hợp nếu
chỉ có một tầng thì trong khi nó già cỗi một lớp cây con tái sinh xuất hiện và
sẽ thay thế nó sau khi nó tiêu vong hoặc cũng có thể một thảm thực vật trung
gian xuất hiện thay thế, nhưng về sau dưới lớp thảm thực vật trung gian này
sẽ xuất hiện một lớp cây con tái sinh lại rừng cũ trong tương lai và sẽ thay thế
8
thảm thực vật trung gian này, lúc bấy giờ rừng cũ sẽ được phục hồi”.
Lê Đồng Tấn (1995, 1997, 1998, 1999, 2003) [9] và cộng sự đã nghiên
cứu quá trình phục hồi tự nhiên một số quần xã thực vật sau nương rẫy tại
Sơn La. Tác giả đã kết luận mật độ cây tái sinh giảm dần từ chân đồi lên đỉnh
đồi, tổ hợp loài cây ưu thế trên ba vị trí địa hình và ba cấp độ dốc là khác
nhau, sự khác nhau chính là tổ thành các loài trong tổ hợp đó.
Phạm Ngọc Thường (2001, 2003) [16] nghiên cứu quá trình tái sinh tự
nhiên phục hồi sau nương rẫy tại hai tỉnh Thái Nguyên và Bắc Kạn đã cho
thấy khả năng tái sinh của thảm thực vật trên đất rừng còn nguyên trạng có số
lượng loài cây gỗ tái sinh nhiều nhất, chỉ số đa dạng loài của thảm cây gỗ là
khá cao.
2.3. Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội khu vực nghiên cứu
2.3.1. Điều kiện tự nhiên
2.3.1.1. Vị trí địa lý
Xã Cao Kỳ và Nông Hạ là hai xã nằm ở phía bắc huyện Chợ Mới cách

Hầu hết các loại đất trên địa bàn xã có độ dầy từ trung bình đến khá,
thành phần cơ giới từ trung bình đến nặng. Các chất dinh dưỡng như đạm, lân,
Kali, Can xi, Magie trong đất có hàm lượng thấp không đủ cung cấp cho quá
trình sinh trưởng, phát triển của cây trồng. Do đa phần đất đai nằm trên độ
dốc lớn, độ che phủ của thảm thực vật thấp nên cần chú trọng các biện pháp
bảo vệ đất, bảo vệ rừng, hạn chế rửa trôi, xói mòn làm nghèo dinh dưỡng đất.
Độ dốc trung bình 25 độ. Nhìn chung địa hình của hai xã phức tạp gây
nhiều khó khăn cho phát triển kinh tế xã hội.
2.3.1.4. Khí hậu thuỷ văn
* Khí hậu, thủy văn
Xã Cao Kỳ và Xã Nông Hạ nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa với hai
mùa rõ rệt trong năm. Mùa đông lạnh, mùa hè nóng trùng với mùa mưa từ
tháng 4 đến tháng 10.
Nhiệt độ trung bình trong năm là 22 độ. Nhiệt độ cao nhất từ 35 đến
37
0
C. Nóng nhất vào tháng 6 và tháng 7.
Tổng lượng mưa bình quân là 1248 mm/năm, mưa tập trung vào các
tháng 6, 7, 8 với lượng mưa chiếm 78% tổng lượng mưa cả năm.
Độ ẩm trung bình là 80 - 85% gây nhiều khó khăn cho sản xuất nông
lâm nghiệp.
Địa bàn xen kẽ giữa các khu dân cư là đồi, núi, khe, suối và hệ thống
sông Cầu chảy dọc qua xã nên cũng gây ảnh hưởng đến lượng nước tưới tiêu
10
cho sản xuất vào mùa khô. Còn vào mùa mưa với độ dốc tương đối cao, dòng
chảy lớn gây lũ lụt ngập úng cho các cây hoa màu và đây cũng là vấn đề bức
xúc mà chính quyền và nhân dân trong xã đang phải quan tâm.
Lượng mưa trung bình của năm 2011 ở Cao Kỳ trong khoảng 185,56
mm. Cũng như chế độ nhiệt, mưa ở đây chia thành 2 mùa rõ rệt mùa mưa
trùng với mùa nắng trong năm kéo dài từ tháng 6 đến tháng 8 với 78% - 89%

tự nhiên.
Xã Nông Hạ: Sản xuất nông nghiệp của xã cây trồng chính chủ yếu là
lúa, năng xuất các vụ lùa trong năm bình quân 2003 đạt 43.5 tạ/ha, năm 2004
bình quân đạt 44 tạ/ha, năm 2005 bình quân đạt 44 tạ/ha. Theo thống kê mới
nhất của xã nông hạ năm 2009 bình quân đạt 48 tạ/ha và năm 2010 dạt 50
tạ/ha cho thấy năng suất trồng lúa ngày càng đạt năng suất cao.
Ngoài ra trong xã còn trong xã còn trồng một số loại cây như: ngô,
khoai mon, khoai lang, sắn, mía, lạc. . . phục vụ cho cuộc sống hàng ngay như
làm thực phẩm, thức ăn chăn nuôi cho lợn, gà, trâu ,bò
- Chăn nuôi
Cao Kỳ: Về chăn nuôi của xã Cao Kỳ, theo số liệu năm 2011
Tổng đàn gia súc là: 2124 con, trong đó trâu có 1046 con, bò có 1078
con, lợn là 3300 con.
Công tác thú y của xã tiến hành tiêm phòng cho gia súc trên toàn địa
bàn xã khoảng 90%, quản lý tốt diễn biến dịch bệnh trên địa bàn
Nông Hạ: Diện tích chăn thả trâu ,bò đan xen với diện tích đất rừng sản
xuất.Tổng số trâu năm 2005 là 370 con, bò có 1300 con, lợn là 1497 con, gia
cầm là 9876 con. Ngành chăn nuôi đang từng bước phát triển để có thể đáp
ứng nhu cầu về sản xuất trong nông nghiệp và đáp ứng nhu cầu về thực phẩm
ở trong xã.
- Tài nguyên rừng: Khu vực nghiên cứu có tổng diện tích đất rừng là
10552,4 ha, trong đó 8359,38 ha đất có rừng, 5571,48 ha rừng tự nhiên,
1084,9 ha rừng trồng và 2193,02 ha diện tích đất chưa có rừng quy hoạch cho
lâm nghiệp.
12
Hiện nay tài nguyên rừng đã bị khai thác cạn kiệt, động vật quý hiếm
gần như không còn. Với diện tích rừng hiện có, kết hợp với kế hoạch trồng
rừng mới, rừng đang dần dần hồi phục và phát triển, do đó lâm nghiệp là
ngành kinh tế quan trọng của xã trong những năm tới.
- Tài nguyên động vật, tài nguyên thực vật

cho đồng ruộng nhưng một số nơi của xã vẫn thiếu nước vào mùa sản xuất
chậm thời gian sản xuất nông nghiệp vì vậy xã cần phải chú trong nhiều hơn
vấn đề thủy lợi.
- Y tế
Xã Cao Kỳ: Trong những năm gần đây công tác y tế đã được quan tâm,
tăng cường đầu tư cơ sở vật chất. Đến nay trên địa bàn xã đã có một trạm y tế
của xã với 4 giường bệnh, 1 bác sỹ, hoạt động y tế chăm sóc sức khỏe cộng
đồng được duy trì thường xuyên, thực hiện tốt các chương trình quốc gia.
Xã Nông Hạ: Trên địa bàn có một trạm y tế với 1 bác sỹ, 3 y sỹ và 10
giường bệnh. Nhìn chung công tác chăm sóc sức khỏe ban đầu cho nhân dân
và thực hiện các chương trình y tế Quốc gia như: Các hoạt động khám chữa
bệnh được duy trì hàng năm. Tiêm chủng 6 loại vacxin cho trẻ dưới 1 tuổi,
tiêm phòng viêm não Nhật Bản. Bên cạnh đó y tế xã tham gia tích cực công
tác dân số, kế hoạch hóa gia đình, chương trình phòng chống sốt rét, chống
bướu cổ, tư vấn tuyên truyền phòng chống HIV/AIDS.
Trong năm vừa qua sảy ra dịch bệnh tay, chân, miệng co 04 trường hợp
mắc và theo dõi chăm sóc tại nhà không có biến chứng.
Trong năm thực phẩm: Trong năm không có ngộ độc thực phẩm sẩy ra,
hiện trên địa bàn có 35 cơ sở kinh doanh chế biến thực phẩm bảo đảm công
tác vệ sinh an toàn thực phẩm hàng tháng.
- Văn hóa
Xã Cao Kỳ: Hạt động văn hóa thể thao của xã phát triển tương đổi tốt
cả về số lượng, quy mô, nội dung và hình thức. Hiện nay toàn xã đã có 12/14
thôn có nhà văn của thôn. Phong trào xây dựng nếp sống văn minh, gia đình
văn hóa của thôn. Phong trào xây dựng nếp sống văn minh, gia đình văn hóa
14
được nhân dân nhiệt tình hưởng ứng và đạt kết quả tốt với 540 hộ đạt gia đình
văn hóa, 4/14 thôn đạt thôn văn hóa, tỷ lệ hộ có ti vi xem 80 %.
Xã Nông Hạ: Hoạt động văn hóa tuyên truyền các chủ trương của
Đảng, chính sách, pháp luật của nhà nước và nhiệm vụ chính trị của từng địa

Phân bố trên 14 thôn (bản). Dân số phân bố không đều, những năm gần đây
do làm tốt những công tác kế hoạch hóa gia đình nên tỷ lệ tăng dân số giảm.
Năm 2005 tỷ lệ tăng dân số tự nhiên là 1,5%.
16
Phần 3
ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Là trạng thái thảm thực vật IIA tái sinh phục hồi tự nhiên. Cây trồng
nông nghiệp, công nghiệp, trang trại, vườn cây ăn quả và rừng trồng đều
không thuộc phạm vi nghiên cứu của đề tài tại 2 xã Cao Kỳ và Nông Hạ.
Đề tài được tiến hành từ ngày 02 tháng 01 năm 2012 đến ngày 31 tháng
05 năm 2012.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài thực hiện nghiên cứu tại 2 xã Nông Hạ và Cao Kỳ huyện Chợ
Mới, đây là 2 xã có diện tích rừng và đất rừng khá lớn trong huyện.
3.3. Nội dung nghiên cứu
+ Nghiên cứu đặc điểm cấu trúc tầng cây gỗ (Kế thừa từ nhóm SV
làm đề tài về cấu trúc tầng cây gỗ)
- Cấu trúc tổ thành sinh thái, mật độ tầng cây gỗ.
+ Nghiên cứu đặc điểm cấu trúc cây tái sinh
- Đặc điểm cấu trúc tổ thành, mật độ cây tái sinh.
- Chất lượng và nguồn gốc cây tái sinh và tỷ lệ cây tái sinh triển vọng.
- Đánh giá chỉ số đa dạng sinh học.
+ Nghiên cứu quy luật phân bố cây tái sinh
- Phân bố số cây theo cấp chiều cao.
- Phân bố loài cây theo cấp chiều cao.
+ Ảnh hưởng của một số nhân tố đến tái sinh tự nhiên
- Ảnh hưởng của yếu tố tự nhiên
- Ảnh hưởng của yếu tố đất đến tái sinh rừng.
- Ảnh hưởng của yếu tố cây bụi thảm tươi

OTC phụ thuộc vào địa hình.
- Đối với đất có rừng tự nhiên trên núi đất: diện tích OTC: 2500 m
2
(50
m x 50 m), hình dạng OTC phụ thuộc vào địa hình.
- Phân bố: OTC đặt ngẫu nhiên, đại diện cho từng nhóm thực vật khác
nhau, đại diện cho địa hình, độ dốc, điều kiện thổ nhưỡng khác nhau. Các
OTC được đánh dấu ngoài hiện trường thông qua hệ thống cột mốc gồm 4 cột
đặt ở 4 góc của ô. Phần trên mặt đất 0,5m ghi rõ số hiệu OTC và hướng xác
18
định các góc còn lại.
- Thu thập số liệu:

Trong mỗi trạng thái TTV, lập 3 ô tiêu chuẩn
theo phương pháp điển hình. Trong mỗi ô, thống kê các chỉ tiêu tầng cây
gỗ như sau:
+ Đo đường kính với những cây gỗ có D1.3 < 6cm bằng thước kẹp kính
hoặc thước đo chu vi sau đó quy đổi ra đường kính.
+ Đo chiều cao Hvn và Hdc bằng thước sào đo cao chia vạch đến 0,1m.
+ Đo đường kính tán Dt theo hướng ĐT - NB sau đó lấy giá trị trung bình.
* Đối với ô thứ cấp: Trong OTC, lập 5 ô thứ cấp 25m
2
(5 x 5m) trong
đó 4 ô ở 4 góc và 1 ở giữa. Điều tra thống kê toàn bộ những cây tái sinh có
D1.3< 6cm vào phiếu điều tra theo các chỉ tiêu:
- Tên loài cây tái sinh, loài nào chưa rõ thì thu thập tiêu bản để giám định.
- Đo chiều cao cây tái sinh bằng thước sào.
- Chất lượng cây tái sinh:
+ Cây tốt: là cây có thân thẳng, không cụt ngọn, sinh trưởng phát triển
tốt, không sâu bệnh.

- Chọn địa điểm đào phẫu diện : Đại diện cho OTC, nằm trong ô thứ
cấp, đánh dấu lên bản đồ địa hình.
- Quy định đào phẫu diện : Quy cách: dài 120-150cm, rộng 70-90cm,
sâu: 120-150cm. (Nếu tầng đất mỏng, gặp tầng cứng rắn độ sâu cần đạt 80-
100cm). Khi đào phẫu diện cần lưu ý:
+ Mặt phẫu diện để mô tả cần hướng về nơi ánh sáng mặt trời
+ Phía mặt mô tả sau khi đào đúng quy cách cần được làm phẳng, xén
cho thẳng góc.
+ Khi đào phẫu diện lớp đất mặt để riêng sang hai bên, không dẫm đạp
mặt phía trên làm mất trạng thái tự nhiên của đất.
- Mô tả phẫu diện :
+ Chụp ảnh cảnh quan và chụp hình thái phẫu diện
+ Địa điểm đào phẫu diện: xã Cao Kỳ Xã Nông Hạ, Huyện Chợ Mới,
tỉnh Bắc Kạn
+ Mô tả theo bản tả phẫu diện theo.
- Xác định độ ẩm đất và chất lượng đất thông qua đào phẫu diện đất
(Phần ghi chú ở Phụ lục 01).
3.4.2.3. Phương pháp phân tích và xử lý số liệu
a. Tổ thành tầng cây gỗ
Tổ thành là chỉ tiêu biểu thị tỉ lệ mỗi loài hay nhóm loài tham gia tạo
thành rừng, tuỳ thuộc vào số lượng loài có mặt trong lâm phần mà phân chia
lâm phần thành rừng thuần hoài hay hỗn loài, các lâm phần rừng có tổ thành
loài khác nhau thì chức năng phòng hộ, bảo vệ môi trường sinh thái và tính đa
dạng sinh học cũng khác nhau.
Để đánh giá đặc điểm cấu trúc tổ thành sinh thái của quần hợp cây gỗ,
chúng tôi sử dụng chỉ số mức độ quan trọng (Importance Value Index = IVI),
20
tính theo công thức:
Ai+Di
IVIi=


(3-3)
Trong đó: G
i
là tiết diện thân của loài thứ i; s là số loài trong quần hợp
( )
2
s
2
i
i=1
D
Gi m /πx
2
ha
 
=
 ÷
 

(3-4)
Với: D
i
là đường kính 1.3 m (D
1.3)
của cây thứ i; s là số loài trong
quần hợp.
Theo đó, những loài cây có chỉ số IVI ≥ 5% mới thực sự có ý nghĩa về
mặt sinh thái trong lâm phần. Theo Thái Văn Trừng (1978) trong một lâm
phần nhóm loài cây nào chiếm trên 50% tổng số cá thể của tầng cây cao thì

i
: Hệ số tổ thành loài thứ i.
- n
i
: Số lượng cá thể loài i.
- N: Tổng số cá thể điều tra.
Những loài nào có hệ số tổ thành trên 0,5 mới được đua vào công thức
tổ thành
c. Đánh giá chỉ số đa dạng sinh học cây tái sinh
Từ trước đến nay khi nghiên cứu các quần xã sinh vật, các tác giả đã đề
xuất ra rất nhiều chỉ số đa dạng: chỉ số Shannon (Magurran, 1988), chỉ số
Berger-Parker (Magurran, 1988), chỉ số Brillouin (Brillouin, 1962), chỉ số
Simpson (Simpson, 1949), chỉ số Alpha (Magurran, 1988), chỉ số McIntosh
(McIntosh, 1967), chỉ số Margalef (Margalef, 1958), chỉ số Menhinick
(Magurran, 1988). Trong đề tài, chúng tôi chọn chỉ số Shannon để đánh giá
tính đa dạng của các quần hợp cây tái sinh đã nghiên cứu vì chỉ số này đánh
giá tổng hợp cả độ đa dạng loài (số loài) và độ đa dạng trong loài (số cá thể
của từng loài):

s
i i
i=1
H'=- ln
N N
n n

(3-7)
22
Trong đó:
- s là số loài trong quần hợp.

Thống kê số loài, số cây tái sinh theo 4 cấp chiều cao: < 0,5m; 0,5-1m;
1,1-1,5m; 1,6-2m; 2,1-3m; 3,1-5m và trên 5m. Vẽ biểu đồ biểu diễn số loài,
số cây tái sinh theo cấp chiều cao.
h. Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình tái sinh tự nhiên
* Ảnh hưởng của địa hình đến tái sinh tự nhiên
23
Từ kết quả nghiên cứu đề tài tổng hợp số liệu theo từng vị trí địa
hình như:
- Địa hình (chân, sườn, đỉnh).
- Hướng phơi (Đ, T, N, B).
- Cấp độ dốc (3 cấp độ dốc Cấp I: 10 - 15
0
; Cấp II: 15 - 20
0
; Cấp III > 20
0
).
- Độ ẩm đất và chất lượng đất.
- Cây đổ và khoảng trống trong rừng.
Qua đó thấy được sự ảnh hưởng của nó đến mật độ, số loài, tỷ lệ cây
triển vọng, chất lượng cây tái sinh ở mỗi địa phương.
24
Phần 4
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
4.1. Đặc điểm rừng và đất rừng tại khu vực nghiên cứu
4.1.1. Hiện trạng đất đai
Xã Cao Kỳ và Nông Hạ huyện Chợ Mới tỉnh Bắc Kạn có tổng diện tích
tự nhiên 11790 (ha), trong đó đất có rừng 8386,73 ha, chiếm 71,1%, đất
không có rừng quy hoạch cho lâm nghiệp 2430,37 (ha) chiếm 20,61%, đất
khác ngoài lâm nghiệp 972,90 (ha), chiếm 8,25% tổng diện tích đất tự nhiên.

25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status