nghiên cứu trồng mới trong cải tạo các nương chè già, cằn cỗi tại huyện chợ mới, tỉnh bắc kạn - Pdf 24

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

 CHU HUY TƯỞNG NGHIÊN CỨU TRỒNG MỚI TRONG CẢI TẠO
CÁC NƯƠNG CHÈ GIÀ, CẰN CỖI TẠI HUYỆN
CHỢ MỚI – TỈNH BẮC KẠN LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP Chuyên ngành: Trồng trọt
Mã số: 60 62 01



Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Lê Tất Khương THÁI NGUYÊN - 2011 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

1
Phần thứ nhất
ĐẶT VẤN ĐỀ

1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Chợ Mới là huyện nằm ở phía Nam tỉnh Bắc Kạn, nằm dọc theo quốc lộ
số 3, với vị trí trung gian giữa thị xã Bắc Kạn và thành phố Thái Nguyên nên
Chợ Mới có lợi thế về giao thông và tiêu thụ hàng hoá. Đất đai ở các xã vùng
thấp của huyện chủ yếu là núi thấp và đồi gồm có đất Feranit vàng đỏ trên
phiến thạch sét (FQs) diện tích gần 7.984 ha. Đây là loại đất có diện tích lớn,
thích hợp với phát triển cây công nghiệp như: chè, hồi, quế Với lượng mưa
trung bình 1.508 mm/năm, các tháng có lượng mưa cao nhất là tháng 7, 8 đạt từ

777
, Bát tiên, Yabukiata, Phúc
vân tiên, Keo am tích, Kim tuyên,…) và các giống chè đã được chọn lọc trong
nước (LDP
1
, LDP
2
) đã được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cho
phép đưa vào sản xuất thích hợp với chế biến chè xanh, chè đen, chè ô long,
có tiềm năng cho năng suất cao, chất lượng tốt đang dần được thay thế cho
các giống chè trồng bằng hạt có chất lượng kém. Kỹ thuật cải tạo các nương
chè già cỗi, kỹ thuật trồng thâm canh chè cành giống mới đã được các viện
nghiên cứu đưa ra quy trình sản xuất. Tuy nhiên việc đưa các giống mới và ứng
dụng các quy trình sản xuất vào điều kiện thực tiễn của mỗi vùng sản xuất cần
có những nhiên cứu cơ bản nhằm hòa thiện quy trình sản xuất cho vùng.
Xuất phát từ thực tế trên chúng tôi nghiên cứu đề tài “Nghiên cứu
trồ ng mớ i trong cả i tạ o cá c nương chè già , cằ n cỗ i tại huyện Chợ Mới, tỉnh
Bắc Kạn”.
1.2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
1.2.1. Mục tiêu chung:
Cải tạo diện tích chè già trồng hạt, cằn cỗi năng suất thấp bằng các giống
mới nhằm thay đổi cơ cấu giống chè góp phần nâng cao sản lượng và chất lượng
vùng chè.
1.2.2. Mục tiêu cụ thể:
- Xác định được phương pháp đốn hợp lý nương chè cũ trong kỹ thuật
cải tạo nương chè già cỗi bằng phương pháp trồng thay thế giống mới.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

3

- Trong quá trình sinh trưởng các cành ở phía trên có ưu thế sinh trưởng
nhanh (gọi là ưu thế sinh trưởng đỉnh) kìm hãm sự phát triển của những cành
phía dưới, đốn chè sẽ phá vỡ được ưu thế sinh trưởng đỉnh, tạo điều kiện cho
các mầm chè phía dưới sinh trưởng phát triển tạo tán.
- Giữa các bộ phận trên và dưới mặt đất luôn có tỷ lệ cân bằng, đốn
chè là hình thức phá vỡ thế cân bằng giữa hai bộ phận đó, tạo điều kiện
cho các bộ phận trên mặt đất phát triển. Vì thế đốn càng đau, búp phát
sinh, sinh trưởng càng mạnh.
- Ở miền Bắc nước ta mùa đông nhiệt độ thấp, khí hậu khô, cây chè bị
thoát hơi nước mạnh, nếu để nhiều lá cây chè sẽ ở trạng thái mất cân bằng về
chế độ nước. Đốn chè là biện pháp giữ lại một số lượng lá trên cây thích hợp
tạo điều kiện hạn chế sự thoát hơi nước của cây.
2.1.2. Cơ sở khoa học của việc xác định thời vụ trồng chè
Xác định thời vụ trồng hợp lý nhằm đáp ứng các yêu cầu sinh thái của cây
chè tạo điều kiện thuận lợi để cây chè mới trồng sinh trưởng phát triển tốt cho tỷ
lệ sống cao.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

5
Việc xác định thời vụ trồng chè dựa trên đặc điểm thực vật học, yêu cầu
sinh thái của cây chè và điều kiện sinh thái của từng vùng cụ thể.
2.2. Đặc điểm sinh vật học cây chè và yêu cầu sinh thái của cây chè
2.2.1. Đặc điểm sinh vật học của cây chè
2.2.1.1. Nguồn gốc và phân loại của cây chè.
Các công trình nghiên cứu của nhiều nhà khoa học cho biết cây chè có
nguồn gốc ở vùng nhiệt đới và á nhiệt đới (Ấn Độ, Trung Quốc, Việt Nam).
Những cây chè dại tiền sử được tìm thấy ở những cánh rừng nhiệt đới ẩm ướt
theo những triền sông lớn ở núi cao. Cách đây 4000 năm người Trung Quốc
đã biết sử dụng chè để uống và coi như một thứ dược liệu quí, người Pháp đã

mầm dinh dưỡng chia ra mầm đỉnh, mầm nách, mầm ngủ, mầm bất định.
Búp chè: Được hình thành từ mầm dinh dưỡng gồm: tôm và 2-3 lá
non. Quá trình sinh trưởng của búp chè chịu sự chi phối của nhiều yếu tố
bên ngoài lẫn bên trong. Các giống khác nhau có trọng lượng búp khác nhau,
búp chè có 2 loại: Búp bình thường (búp 1 tôm và 2-3 lá non) và búp mù là
búp không có tôm.
Hoạt động sinh trưởng của búp chè tuân theo một qui luật nhất định.
Tóm tắt sơ đồ như sau: Đợt
sinh
trƣởng
Mầm chè
Lá vảy
ốc mở
Lá thật
xuất hiện
Cành chè ngừng
sinh trưởng(hoặc
hái búp)

đường, vitamin caphêin, catêsin, hương tạo nên hương vị đặc trưng của từng
giống chè.
2.2.1.4. Sinh trưởng và phát triển
Cây chè có 2 chu kỳ phát triển gọi là chu kỳ sống của cây chè: Chu kỳ
phát triển lớn gồm cả đời sống cây chè từ tế bào trứng thụ tinh đến khi cây già
cỗi và chết. Chu kỳ phát triển nhỏ bao gồm thời kỳ phát triển trong các năm:
hạt nảy mầm, mầm mọc lá ra hoa, kết quả trong năm đó là 2 quá trình sinh
trưởng dinh dưỡng và sinh trưởng sinh thực. Quá trình sinh trưởng dinh
dưỡng là quá trình sinh trưởng cành.
2.2.2. Yêu cầu sinh thái chủ yếu của cây chè.
Cây chè tồn tại phát triển trong một hệ sinh thái nông nghiệp có giới
hạn xác định, ngày nay con người hiểu được muốn phát triển chè một cách

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

8
bền vững, cần kết hợp sản xuất chè với bảo vệ thiên nhiên và liên quan đến
các yếu tố kinh tế xã hội. Trong đó, yếu tố tự nhiên như khí hậu, thời tiết, đất
đai, địa hình là vô cùng quan trọng.
2.2.2.1. Yếu tố khí hậu
* Lượng mưa và độ ẩm không khí:
Búp chè 1 tôm 2 lá non chứa nhiều nước (từ 75-80%). Ở nước ta lượng
mưa trung bình ở các vùng chè là 1750mm - 2500mm/năm là phù hợp với
sinh trưởng cây chè. Song lượng mưa phân bố không đều, thời kỳ mưa nhiều
từ tháng 5 đến tháng 10, nhưng ngay trong thời gian này vẫn có hạn cục bộ
thời kỳ mưa ít từ tháng 11 đế tháng 4. Mưa nhiều chè sinh trưởng tốt, mưa ít
chè sinh trưởng kém, nếu thời tiết hạn chè tạm ngừng sinh trưởng, độ ẩm
không khí cần cho chè sinh trưởng từ 80-85%.
* Nhiệt độ:
Là yếu tố quyết định sinh trưởng cây chè, nhiệt độ từ 22-28

Cây chè phân bố ở các loại đất và địa hình rất đa dạng nhưng trên thế
giới chè được trồng ở những dạng đất chủ yếu:
- Đất xám: Ở Việt nam trên bản đồ đất ký hiệu là X (ký hiệu theo FAO -
UNESCO là AC-Acrisols) bao gồm: Xám bạc màu, xám có tầng loang lổ,
xám Feralits, xám mùn trên núi là phù hợp cho trồng chè.
- Đất đen: Ở Việt Nam ký hiệu R (theo FAO - UNESCO là Lv-luvisols)
trong đó đất nâu thẫm phát triển trên đá bazan là trồng chè tốt.
- Đất nâu: Ở Việt Nam ký hiệu là NL -Lixisops (theo FAO -UNESCO)
bao gồm: có đất nâu và xám nâu là phù hợp cho việc trồng chè.
- Đất đỏ: Ở Việt nam ký hiệu là F (theo FAO- UNESCO FR-Ferralsols)
trong đó đất nâu đỏ, đất nâu vàng, đất mùn vàng đỏ trên núi là thích hợp cho
trồng chè.
- Đất mùn Alit trên núi cao: Ở Việt Nam kỹ hiệu là A (theo FAO -
UNESCO là AL-Alisols) bao gồm đất mùn alit trên núi cao, đất mùn than bùn
trên núi cao đều trồng chè được.
b. Đặc tính vật lý của đất chè
- Độ dầy tầng đất: Cây chè sinh trưởng cả đời trên một vị trí cố định,
điều quan trọng là bộ rễ phát triển vừa ăn sâu, vừa lan rộng hút được nhiều
dinh dưỡng, trên tầng đất dày (1 - 3 m) cây chè cho năng suất cao bền vững,
tầng đất mỏng 40 - 60 cm cây chè cho năng suất thấp chóng tàn.
- Kết cấu đất: Kết cấu đất ở dạng viên, hạt, đất tơi xốp giữ nước nhiều,
thấm nước nhanh lại dễ thoát nước, có lợi cho sự sinh trưởng của bộ rễ chè và
là điều kiện tốt cho các loại vi sinh vật đất phát triển.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

10
- Thành phần cơ giới đất: Đất thịt pha cát đến thịt nặng (theo phân loại
quốc tế) hay thịt nhẹ đến thịt nặng (theo phân loại của Liên xô cũ) là phù hợp
cho cây chè sinh trưởng. Loại đất này có chế độ nước và không khí điều hoà,

(0,06%) không đủ cung cấp lân cho cây sinh trưởng vì vậy khi trồng chè phải
bón lót 100 kg P
2
O
5
(700 - 800 kg supelân).
Kali: Là nguyên tố di động mạnh, trong đất kali dễ bị rửa trôi nên mặc
dù đất trồng chè ở Việt Nam hàm lượng ka li tổng số (K%) ở mức thấp nhưng
khi trồng chè không cần phải bón lót kali, quá trình phân huỷ mùn trong đất,
trong phân chuồng cũng đủ cung cấp kali cho cây chè ở giai đoạn đầu.
2.2.2.3. Độ cao và địa hình
- Độ cao so với mặt biển ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển cây
chè, chè vùng cao có chất lượng tốt hơn chè vùng thấp, ngược lại chè vùng
thấp thường sinh trưởng mạnh và có năng suất cao hơn chè vùng cao.
- Địa hình: Có ảnh hưởng tới tiểu khí hậu vùng chè, địa hình bằng phẳng
khí hậu thường thuần nhất, địa hình phức tạp khí hậu không thuần nhất, địa
hình nhiều đồi dốc gây xói mòn đất mạnh và khó sử dụng cơ giới trong canh
tác chè. Đất có độ dốc cao khó giữ nước dễ bị hạn không thuận lợi cho sinh
trưởng phát triển cây chè. Ở Việt nam vùng chè công nghiệp thường trồng ở độ
dốc < 25
0
, độ dốc > 25
0
trồng cây lâm nghiệp hoặc trồng chè shan theo phương
thức trồng rừng.
Ngoài những yếu tố chính trên một số yếu tố khác cũng có ảnh hưởng
đến sinh trưởng phát triển của cây chè như gió, sương muối, mưa đá .v.v.
2.3. Tình hình sản xuất và tiêu thụ chè trên thế giới và Việt Nam
2.3.1. Tình hình sản xuất và tiêu thụ chè trên thế giới
2.3.1.1. Tình hình sản xuất chè trên thế giới

2.806,44
15,15
3.833,75
1
Trung Quốc
1.215,17
10,35
1.257,38
2
Ấn Độ
474,00
16,99
805,18
3
Srilanca
212,72
14,97
318,47
4
Kênya
157,70
21,93
345,80
5
Việt Nam
129,30
13,53
174,90
6
In-đô-nê-si-a

giới). Sản lượng đạt trên 10 vạn tấn có 3 nước: Việt Nam, In-đô-nê-si-a và Thổ
Nhĩ Kỳ.
Theo FAO, trong 20 năm gần đây sản xuất chè trên thế giới có xu
hướng tăng, sản lượng chè tăng 65% (từ 1,79 triệu tấn năm 1978 lên tới 3,83
triệu tấn năm 2008), phần lớn các nước sản xuất chè đều tăng sản lượng.
Tính đến năm 2008 diện tích chè thế giới đạt 2,806 triệu ha trong đó diện
tích chè Châu Á chiếm 88,3%, Châu Phi là 9,6%. Trong đó Trung Quốc là
nước có diện tích chè lớn nhất thế giới với diện tích 1.215,1 nghìn ha; Năng suất
trung bình trên thế giới đạt 15,15 tạ khô/ha. Thổ Nhĩ Kỳ là nước có năng suất
trung bình cao năng suất bình quân thế giới đạt 26,12 tạ khô/ha; Sản lượng chè
thế giới đạt 3,83 triệu tấn. Đứng đầu thế giới là Trung Quốc có sản lượng đạt
1.257.384 tấn (chiếm 32,8% tổng sản lượng toàn thế giới).
2.3.1.2. Tình hình tiêu thụ chè trên thế giới
Chè là thứ nước uống phổ biến trên thế giới, ngoài giá trị giải khát,
nước chè còn có giá trị dinh dưỡng và giá trị dược liệu, do vậy nhu cầu tiêu
thụ chè trên thế giới ngày càng tăng. Năm 2008, sản lượng xuất khẩu chè
trên thế giới đạt xấp xỉ 1,9 triệu tấn (tăng 15,98% so với năm 2004). Kenya
là quốc gia xuất khẩu chè lớn nhất với sản lượng xuất khẩu năm 2008 là
396 nghìn tấn. Việt Nam đứng thứ 5 về sản lượng xuất khẩu với sản lượng

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

14
xuất khẩu đạt 104 nghìn tấn. Mặc dù đứng thứ 5 về sản lượng xuất khẩu
nhưng do giá chè trung bình của Việt Nam thấp nên giá trị xuất khẩu của
chúng ta chỉ đạt 147 triệu đô la Mỹ. Tổng lượng xuất khẩu chè của 5 nước
xuất khẩu chè lớn nhất chiếm trên 70% tổng lượng xuất khẩu chè của toàn
thế giới. Sản lượng chè nhập khẩu trên toàn thế giới tính đến năm 2008 đạt
1,67 triệu tấn. Trong đó Liên bang Nga là nước nhập khẩu chè lớn nhất thế
giới với lượng chè nhập khẩu năm 2008 là 181 nghìn tấn – tương đương giá

United Arab Emirates
109,58
5
Viet Nam
104,70
Egypt
107,59
6
Indonesia
96,21
Pakistan
100,39
7
Argentina
77,43
Iran
74,23
8
Uganda
46,02
Morocco
51,87
(Nguồn: Theo FAOSTAT 2010)

2.3.2. Tình hình sản xuất và tiêu thụ chè ở Việt Nam
2.3.2.1. Tình hình sản xuất chè ở Việt Nam
Nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới, nóng ẩm, Việt Nam có điều kiện
thích hợp cho cây chè sinh trưởng và phát triển, tuy nhiên cây chè chỉ thực
sự được quan tâm và đầu tư sản xuất từ những năm đầu của thế kỷ 20 trở lại


129,3
Năng suất (tạ khô/ha/năm)
9,89
10,82
12,29
13,00
13,53
Sản lượng (nghìn tấn)
119,5
132,5
151,0
164,0
174,9
(Nguồn: Theo FAOSTAT 2010)
Giai đoạn 5 năm gần đây (2004 – 2008) sản xuất chè của Việt Nam
tăng cả về diện tích, năng suất và sản lượng. Diện tích chè của Việt Nam đã
tăng từ 120 nghìn ha năm 2004 lên 129 nghìn ha năm 2008 (tăng 7%), đứng
thứ 5 trên thế giới về diện tích.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

16
Biểu đồ 1:Diễn biến diện tích chè của Việt Nam giai
đoạn 2004 - 2008
120.800
122.900
126.200
129.300
122.500
116.000


17
phẩm chè của chúng ta bán ra thị trường thế giới vẫn chưa được đánh giá
cao. Nguyên nhân khiến cho giá chè xuất khẩu của chúng ta thấp hơn nhiều
so với giá chè của thế giới là chất lượng chè của chúng ta còn kém, vấn đề
bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm trong chế biến chè chưa được quan tâm.
Để đưa giá chè của Việt Nam ngang bằng và cao hơn giá chè thế giới trước
hết chúng ta cần nghiên cứu đưa các giống chè mới có năng suất cao, chất
lượng tốt thay thế dần diện tích chè Trung du trồng hạt đã bị thoái hóa hiện
nay. Đồng thời chúng ta cần phải hướng tới một nền sản xuất an toàn, bền
vững, sản xuất theo các tiêu chuẩn VietGAP, GlobalGAP, để đáp ứng
được yêu cầu ngày càng cao của các thị trường nhập khẩu. Đi cùng với đó
chúng ta cũng cần đảm bảo các tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm để
ngành chè của Việt Nam không chỉ xuất khẩu với số lượng lớn mà còn có
giá trị cao.
Biểu đồ 2: Diễn biến năng suất chè của Việt Nam giai đoạn 2004 -
2008
13,53
13,00
12,29
9,89
10,82
-
2,00
4,00
6,00
8,00
10,00
12,00
14,00

Công 1400g; Đài Loan 1300g; Nhật Bản 1050g; Trung Quốc 340g). Từ
năm 1997 đến năm 2007, tiêu thụ chè bình quân đầu người của Việt Nam
tăng 123% lên 580g/người/năm. Tuy nhiên mức tiêu thụ chè theo đầu
người của Việt Nam vẫn thấp hơn mức tiêu thụ bình quân của thế giới là
700g/người/năm.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

19
2.4. Những kết quả nghiên cứu có liên quan đến đề tài
2.4.1. Những kết quả nghiên cứu ngoài nước
2.4.1.1. Nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng của cây chè
Khi nghiên cứu về ảnh hưởng của nhiệt độ, ánh sáng đến sinh trưởng
chè, Carr-Squir (1979) [29] chỉ ra rằng: Ở một số vùng chè trên thế giới, nhiệt
độ không khí tối thiểu là 13 – 14
0
C, nhiệt độ tối thích là 18 – 25
0
C, nhiệt độ
tối cao là 30
0
C, nhiệt độ bề mặt lá chè tối thiểu là 21
0
C, nếu nhiệt độ trên
30
0
C sinh trưởng của cây chè giảm nhanh.
Cây chè được coi là cây trung tính, khi mới mọc là cây ưa bóng, lớn lên
là cây ưa ánh sáng, nếu nhiệt độ cao trên 35
0

cho rằng: sinh trưởng của búp chè phụ thuộc vào điều kiện khí hậu, ở những
vùng có mùa Đông rõ rệt, búp chè sẽ ngững sinh trưởng vào mùa Đông và
cây chè được phục hồi vào thời kỳ có nhiệt độ không khí ấm lên, ngược lại
những nước nhiệt đới (quần đảo Java) Srilanka hay Ấn Độ do có điều kiện
thời tiết thuận lợi, đặc biệt là khí hậu ôn hòa, búp chè sinh trưởng liên tục,
chè cho thu hoạch quanh năm, đây được coi là lợi thế của vùng.
2.4.2. Những kết quả nghiên cứu trong nước
2.4.2.1. Những kết quả nghiên cứu nương chè suy thoái
Nghiên cứu ảnh hưởng của một số dạng đốn đến sinh trưởng, phát
triển, năng suất và chất lượng cây chè Trung du tuổi lớn ở Phú Hộ, tác giả Đỗ
Văn Ngọc (1991) [16] khẳng định cây chè Trung du đạt năng suất cao nhất
năm 17 tuổi sau đó năng suất bắt đầu giảm dần.
Theo tác giả Đỗ Văn Ngọc (2004) [6], các nương chè suy thoái thường
có biểu hiện:
+ Mật độ nương chè không đảm bảo: Mất khoảng trên 30-40% diện tích.
+ Chè thường ở giai đoạn tuổi lớn: Chè hạt (trung du): Lớn hơn 18 tuổi,
chè cành đã qua thời kỳ sung sức.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

21
+ Sinh trưởng cây chè kém: Tán mỏng, hệ số diện tích lá thấp, mật độ
búp nhỏ, nhanh mù xoè, khung tán có nhiều u biếu, cành tăm hương, năng
suất thường rất thấp chỉ đạt 1-2 tấn búp tươi/ha/năm.
Tác giả Đỗ Văn Ngọc (2004) [6] đưa ra nguyên nhân làm cho các
nương chè suy thoái bao gồm:
+ Quy hoạch trồng chè không chú ý đến điều kiện đất đai: Trồng chè ở
nơi có tầng đất quá mỏng < 50 cm, dinh dưỡng nghèo (mùn tổng số < 2%),
hoặc nơi có độ dốc quá lớn trên 25
0

- Do hái sai quy trình trong nhiều năm: Vụ xuân không để lá chừa 2-3
lá thật + 1 lá cá, làm cho cây chè có tán rất mỏng, hệ số diện tích lá quá thấp,
cây chè suy tàn dần.
- Chè trồng ở nơi đất quá dốc hướng Tây, không có cây bóng mát cũng
dần bị suy thoái.
- Do không chú ý đến phòng trừ sâu bệnh kịp thời, đặc biệt là chè đầu
vụ bị cháy rầy, giữa cuối vụ bị nhện đỏ phá hại nặng bộ lá chừa. Kết hợp với
nắng hạn có thể làm cho chè bị xuống cấp nghiêm trọng.
- Do người làm chè không phát hiện được bệnh.Ví dụ bệnh chết
loang, bệnh sùi cành chè trong nhiều năm đẫ làm cho chè bị mất khoảng
lớn mặc dù vẫn được chăm sóc đảm bảo.
Những nguyên nhân trên kết hợp với sự biến động của giá cả thị
trường chè, người làm chè bị thua lỗ. Không đầu tư chăm sóc cũng làm cho
nhiều nương chè thời kỳ đang sung sức bị suy thoái dãn đến phải thanh lý để
trồng mới.
2.4.2.2. Những nghiên cứu về đốn chè
Tác giả Đỗ Ngọc Quỹ và Lê Tất Khương (2000) [21] cho rằng việc đốn
chè có những tác dụng sau:

Trích đoạn Kết quả phân loại các nương chè theo độ tuổi Đặc điểm sinh trưởng phát triển và năng suất của các nương chè trên Thực trạng áp dụng tiến bộ kỹ thuật trong một số khâu sản xuất chủ yếu tạ Ảnh hưởng của các phương pháp đốn đến số lứa hái và năng suất của cây chè cũ Ảnh hưởng của một số phương pháp đốn đến chiều cao của cây chè con trồng mớ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status