Nghiên cứu đặc điểm tái sinh tự nhiên trong một số trạng thái thảm thực vật và đề xuất một số biện pháp kỹ thuật nhằm phục hồi rừng tại huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn - Pdf 24



Số hóa bởi trung tâm học liệu www: \\lrc-tnu.edu.vn

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
LƢƠNG VĂN HÀ
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM TÁI SINH
TỰ NHIÊN TRONG MỘT SỐ TRẠNG THÁI THẢM
THỰC VẬT VÀ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ BIỆN PHÁP
KỸ THUẬT NHẰM PHỤC HỒI RỪNG TẠI
HUYỆN CHỢ ĐỒN, TỈNH BẮC KẠN : 60.62.02.01 LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. Trần Quốc Hƣng Lƣơng Văn Hà Số hóa bởi trung tâm học liệu www: \\lrc-tnu.edu.vn

iii
MỤC LỤC
i
ii
MỤC LỤC iii
vi
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU vii
DANH MỤC HÌNH VẼ viii
1
1. Tính cấp thiết của đề tài 1
2. Mục đích nghiên cứu 2
3. Mục tiêu nghiên cứu 2
4. Đối tượng và thời gian nghiên cứu 3
5. Ý nghĩa của đề tài 3
Chƣơng 1. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4
1.1. Một số khái niệm liên quan đến đề tài 4
1.2. Nghiên cứu ngoài nước 5
1.2.1. Nghiên cứu về đặc điểm tái sinh 6
1.2.2. Nghiên cứu về nhân tố ảnh hưởng đến tái sinh 7
1.2.3. Nghiên cứu về điều tra, đánh giá tái sinh tự nhiên 8
1.2.4. Về phân loại rừng nghèo và đối tượng rừng để tác động 9
1.2.5. Phương thức lâm sinh liên quan đến tái sinh phục hồi rừng 10
1.3. Nghiên cứu ở trong nước 11

thái thảm thực vật tại khu vực nghiên cứu 43
3.1.1. Hiện trạng đất đai tại khu vực nghiên cứu 43
3.1.2 Kết quả đánh giá hiện trạng quản lý rừng và đất rừng tại khu vực
nghiên cứu 44
3.1.3. Đặc điểm một số trạng thái rừng và đất rừng tại khu vực nghiên cứu . 46
3.1.4. Đặc điểm chung các ô nghiên cứu 47

Số hóa bởi trung tâm học liệu www: \\lrc-tnu.edu.vn

v
3.2. Kết quả đánh giá đặc điểm cấu trúc và tái sinh tự nhiên ở một số trạng
thái rừng và các yếu tố ảnh hưởng đến tái sinh 48
3.2.1. Cấu trúc tổ thành loài cây gỗ 49
3.2.2. Chỉ số đa dạng sinh học tầng cây gỗ 52
3.2.3. Đặc điểm cấu trúc cây gỗ theo đường kính D1.3 và chiều cao 53
3.2.4. Cấu trúc tổ thành cây tái sinh 57
3.2.5. Mật độ cây tái sinh 58
3.2.6. Phân bố cây tái sinh 60
3.2.7. Chỉ số đa dạng sinh học của cây tái sinh 68
3.2.8. Chất lượng và nguồn gốc cây tái sinh 68
3.2.9. Kết quả xác định và phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến tái sinh tại khu
vực nghiên cứu 71
3.3. Phân loại đối tượng rừng và đất rừng theo khả năng phục hồi tự nhiên 79
3.4. Đề xuất một số giải pháp kỹ thuật lâm sinh cho trạng thái thực vật tại khu
vực nghiên cứu 82
3.4.1. Đối với trạng thái chưa có rừng Ic 82
3.4.2. Đối với trạng thái rừng IIa, IIb 84
KẾT LUẬN, TỒN TẠI VÀ KIẾN NGHỊ 87
4.1. Kết luận 87
87

Phục hồi rừng
IUCN :

Tổ chức bảo tồn thiên nhiên quốc tế
(International union conservation of nature)
UNDP:

Chương trình phát triển của Liên hiệp quốc
(United Nation Development Programme)
[1 23] :
Số thứ tự tài liệu tham khảo
WWF:
Quỹ bảo vệ động vật hoang dã thế giới (World Wildlife Fund)
QPN-14-92

QPN-14-92 Số hóa bởi trung tâm học liệu www: \\lrc-tnu.edu.vn

vii
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Bảng 1.1: Hiện trạng sử dụng đất huyện Chợ Đồn 24
Bảng 3.1: Hiện trạng đất đai xã Phương Viên, Rã Bản 43
Bảng 3.2: Đặc điểm cơ bản các ô nghiên cứu 48
Bảng 3.3: Tổ thành và mật độ rừng trạng thái IIa 49
Bảng 3.4: Tổ thành và mật độ rừng trạng thái IIb 50
Bảng 3.5: Tổng hợp công thức tổ thành trạng thái rừng IIa, IIb 51
Bảng 3.6: Chỉ số đa dạng cây gỗ tại trạng thái IIa, IIb tại 2 xã nghiên cứu 52

Hình 3.5: Biểu đồ phân bố mật độ cây tái sinh 3 trạng thái TV 60
Hình 3.6: Biểu đồ phân bố số cây theo chiều cao 61
62
Hình 3.8: Biểu đồ phân bố số cây tái sinh theo cấp chiều cao 63
Hình 3.9: Biểu đồ phân bố số loài theo cấp chiều cao 64
65
Hình 3.11: Biểu đồ phân bố loài cây theo cấp chiều cao 66 Số hóa bởi trung tâm học liệu www: \\lrc-tnu.edu.vn

1 1. Tính cấp thiết của đề tài
Rừng có vai trò quan trọng trong việc giữ nước, điều tiết dòng chảy và
hạn chế xói mòn đất và bảo vệ môi trường. Rừng là tài nguyên đặc biệt quan
trọng trong việc hấp thụ CO2 và góp phần giảm hiệu ứng nhà kính, thích ứng
với biến đổi khí hậu. Sự suy giảm của rừng kéo theo sự suy giảm chức năng
phòng hộ, tăng nguy cơ xuất hiện lũ lụt vào mùa mưa, hạn hán vào mùa khô
và gây xói mòn bồi lấp lòng sông, suối, hồ. Việc phục hồi và phá
thành quả nổi bật của những chương trình và dự án này là
đã làm tăng độ che phủ của rừng (từ 28,2% năm 1995 lên 33,2% năm 1999 và
39,5% năm 2010). Cũng trong khoảng thời gian này, diện tích rừng tự nhiên
tăng 1.200.000 ha là một nỗ lực lớn của ngành lâm nghiệp, khẳng định tính
đúng đắn của các giải pháp phục hồi rừng, trong đó có các giải pháp phục hồi
rừng thứ sinh nghèo, như khoanh nuôi bảo vệ, khoanh nuôi xúc tiến tái sinh tự

tỉnh Bắc Kạn" được thực hiện.
2. Mục đích nghiên cứu
Góp phần nghiên cứu quá trình tái sinh tự nhiên làm cơ sở khoa học cho
việc đề xuất giải pháp lâm sinh thúc đẩy nhanh quá trình diễn thế và nâng cao
chất lượng của rừng phục hồi.
3. Mục tiêu nghiên cứu
Đánh giá được đặc điểm tái sinh tự nhiên tại một số trạng thái
số giải pháp kỹ thuật nhằm phục hồi rừng trên các trạng thái thảm thực vật
rừng đó tại huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn.

Số hóa bởi trung tâm học liệu www: \\lrc-tnu.edu.vn

3
4. Đối tƣợng và thời gian nghiên cứu
- Đề tài chọn các đối tượng là các trạng thái thảm thực vật rừng thuộc
khu rừng tái sinh tự nhiên được quy hoạch là rừng sản xuất, cụ thể tập trung
vào các đối tượng sau:
+ Trạng thái đất chưa có rừng Ic.
+ Trang thái rừng IIa.
+ Trang thái rừng IIb.
- Thời gian nghiên cứu từ tháng 7/2012 đến tháng 4 năm 2013.
5. Ý nghĩa của đề tài
Nghiên cứu các quy luật tái sinh tự nhiên và bổ sung thêm tư liệu về tái
sinh rừng, phục hồi rừng để bảo vệ nguồn gen duy trì tính đa dạng sinh học và
cân bằng sinh thái trong vùng là hết sức cần thiết, do đó kết quả nghiên cứu
này sẽ góp phần làm sáng tỏ đặc điểm tái sinh và khả năng phục hồi tự nhiên
thảm thực vật tại khu vực nghiên cứu.


Số hóa bởi trung tâm học liệu www: \\lrc-tnu.edu.vn

5
Như vậy, vai trò tái sinh rừng: Là cơ sở khoa học cho việc đề xuất các
biện pháp kỹ thuật lâm sinh hiệu quả, tăng độ che phủ rừng, đa dạng sinh học,
cân bằng hệ sinh thái và tái sản xuất mở rộng tài nguyên rừng.
Nguồn gốc tái sinh: Tái sinh hạt, tái sinh chồi và tái sinh thân ngầm. Mỗi
hình thức tái sinh đều có quy luật riêng và trải qua nhiều giai đoạn khác nhau
[dẫn theo 8].
+ Phục hồi rừng: Phục hồi rừng được hiểu là quá trình tái tạo lại rừng
trên những diện tích đã bị mất rừng. Theo quan điểm sinh thái học thì phục
hồi rừng là một quá trình tái tạo lại một hệ sinh thái mà trong đó cây gỗ là yếu
tố cấu thành chủ yếu. Đó là một quá trình sinh địa phức tạp gồm nhiều giai
đoạn và kết thúc bằng sự xuất hiện một thảm thực vật cây gỗ bắt đầu khép tán
(Trần Đình Lý; 1995) [13]. Để tái tạo lại rừng người ta có thể sử dụng các giải
pháp khác nhau tuỳ theo mức độ tác động của con người là: phục hồi nhân tạo
(trồng rừng), phục hồi tự nhiên và phục hồi tự nhiên có tác động của con
người (xúc tiến tái sinh).
1.2. Nghiên cứu ngoài nƣớc
Tái sinh rừng là một trong những nội dung quan trong nhất của ngành
lâm nghiệp. Lịch sử nghiên cứu tái sinh rừng trên thế giới đã trải qua hàng
trăm năm nhưng với rừng nhiệt đới vấn đề này được tiến hành chủ yếu từ
những năm 30 của thế kỷ trước trở lại đây. Nghiên cứu về tái sinh rừng là
những nghiên cứu rất quan trọng làm cơ sở cho các biện pháp kỹ thuật lâm
sinh xây dựng và phát triển rừng. Tái sinh rừng là một quá trình sinh học
mang tính đặc thù của hệ sinh thái, nó đảm bảo cho nguồn tài nguyên có khả
năng tái sản xuất mở rộng nếu con người nắm bắt được quy luật tái sinh và
điều khiển nó phục vụ cho kinh doanh rừng. Vì vậy, tái sinh rừng trở thành
vấn đề then chốt trong việc xác định các phương thức kinh doanh rừng. Kết

Baur G.N (1964) và Rollet (1969) [dẫn theo 17].
Theo Van Stennit (1956) [38] thì đặc điểm tái sinh là “tái sinh phân tán,
liên tục”, vì rừng mưa nhiệt đới có tổ thành loài cây phức tạp, khác tuổi nên
thời kỳ tái sinh của quần thể diễn ra quanh năm.

Số hóa bởi trung tâm học liệu www: \\lrc-tnu.edu.vn

7
1.2.2. Nghiên cứu về nhân tố ảnh hưởng đến tái sinh
Các nhân tố ảnh hưởng đến tái sinh được phân tích và chia thành ba
nhóm như sau:
Nhóm nhân tố sinh thái ảnh hưởng đến tái sinh và phục hồi rừng
không có sự can thiệp của con người (Baur G. N, 1962; Anden. S (1981) [5].
Theo Aubréville [30], trong các nhóm yếu tố sinh thái phát sinh quần thể
thực vật, nhóm yếu tố khí hậu - thủy văn là nhóm yếu tố chủ đạo, quyết định hình
thái và cấu trúc của các trạng thái thảm thực vật. Nhóm khí hậu - thủy văn gồm
các yếu tố quan trọng nhất là nhiệt độ, ánh sáng, lượng mưa, độ ẩm, chế độ gió,…
Bechse, nhà lâm học người Đức cho rằng “ánh sáng là chiếc đòn bẩy mà
nhà lâm học dùng để điều khiển sự sống của rừng theo hướng có lợi về kinh
tế” (Dẫn theo Bùi Đăng Pho, 2006) [16].
Độ khép tán của quần thụ ảnh hưởng trực tiếp đến mật độ và sức sống
của cây con. Andel.S (1981) chứng minh độ đầy tối ưu cho sự phát triển bình
thường của cây gỗ là 0,6 - 0,7. V.G.Karpov (1969) còn khẳng định “độ khép
tán của quần thụ ảnh hưởng trực tiếp đến mật độ và sức sống của cây con”.
Ngoài những nhân tố sinh thái, thì trong tái sinh rừng, các nhân tố như: Thảm
tươi, cây bụi, động vật ăn hạt cũng có ảnh hưởng rõ rệt đến tái sinh tự nhiên
(Xannikov (1976), Vipper (1973), Mishra và Sharma (1994) [dẫn theo 10].
Khi nghiên cứu phân tích ảnh hưởng của các nhân tố sinh thái đến tái sinh
tự nhiên. Trong đó nhân tố ánh sáng (thông qua độ tàn che của rừng), độ ẩm của
đất, kết cấu quần thụ, cây bụi, thảm tươi được đề cập thường xuyên. Baur G.N

những diện tích đất trống hay những khu rừng thứ sinh nghèo kiệt đến mức
tưởng chừng khó có thể phục hồi.
Điển hình cho hướng nghiên cứu về khía cạnh kinh tế - xã hội của phục hồi
rừng thứ sinh nghèo là: David lamb và Dongilmour (2003); (IUCN (2003) [33].
1.2.3. Nghiên cứu về điều tra, đánh giá tái sinh tự nhiên
Có nhiều phương pháp khác nhau để xác định mật độ cây tái sinh như: Ô
dạng bản theo hệ thống với diện tích ô đo đếm điều tra tái sinh từ 1 đến 4 m
2
.
Do diện tích ô nhỏ nên việc đo đếm gặp nhiều thuận lợi nhưng số lượng ô
phải đủ lớn và trải đều trên diện tích khu rừng mới phản ánh trung thực tình
hình tái sinh rừng.

Số hóa bởi trung tâm học liệu www: \\lrc-tnu.edu.vn

9
Richards P.W (1952) đã tổng kết việc nghiên cứu tái sinh trên các ô dạng
bản và phân bố tái sinh tự nhiên ở rừng nhiệt đới. Để giảm sai số trong khi thống
kê tái sinh tự nhiên, Barnard (1955) đã đề nghị một phương pháp "điều tra chẩn
đoán" mà theo đó kích thước ô đo đếm có thể thay đổi tuỳ theo giai đoạn phát
triển của cây tái sinh ở các trạng thái rừng khác nhau. Richards P.W (1952) và
Barnard (1974) tổng kết các kết quả nghiên cứu về tái sinh tự nhiên đã nhận xét:
Trong các ô kích thước nhỏ có phân bố dạng cụm, một số ít phân bố Poison [36].
Ở Châu Phi trên cơ sở các dữ liệu thu thập Taylor (1954), Barnard
(1955) xác định cây tái sinh trong rừng nhiệt đới thiếu hụt cần thiết phải bổ
sung bằng trồng rừng nhân tạo, ngược lại một số tác giả nghiên cứu tái sinh tự
nhiên rừng nhiệt đới châu Á như Bara (1954), Budowski (1956), có nhận
định, dưới tán rừng nhiệt đới nhìn chung có đủ lượng cây tái sinh có giá trị
kinh tế, nên việc đề xuất các biện pháp lâm sinh để bảo vệ lớp cây tái sinh
dưới tán rừng là rất cần thiết. Nhờ những nghiên cứu này nhiều biện pháp tác

học đã xây dựng thành công nhiều phương thức chặt tái sinh như: Công trình của
Bernard (1954, 1959), Wyatt Smith (1961, 1963) với phương thức kinh doanh
rừng đều tuổi ở Mã Lai; Nicholson (1958) ở Bắc Borneo; Taylor (1954), Jones
(1960) phương thức chặt dần tái sinh dưới tán ở Nijêria và Gana; Barnarji (1959)
với phương thức chặt dần nâng cao vòm lá ở Andamann; Donis và Maudouz
(1951, 1954) với phương thức đồng nhất hóa tầng trên ở Java [18].
Các phương thức lâm sinh cho phục hồi và phát triển rừng tự nhiên có
hai dạng chính: (i) Duy trì cấu trúc rừng tự nhiên không đều tuổi bằng cách
lợi dụng lớp thảm thực vật tự nhiên hiện có và sự thuận lợi về điều kiện tự
nhiên để thực hiện tái sinh tự nhiên, xúc tiến tái sinh tự nhiên, hoặc trồng bổ
sung. Ngoài ra còn có thể sử dụng phương thức chặt chọn từng cây hay từng
đám, phương thức cải thiện quần thể và chặt nuôi dưỡng rừng tự nhiên để dẫn
dắt rừng có cấu trúc gần với cấu trúc của rừng tự nhiên nguyên sinh. (ii) Tác
động rừng theo hướng đều tuổi, có một hoặc một số loài cây bằng phương
thức chủ yếu là cải biến tổ thành rừng tự nhiên, tạo lập rừng đều tuổi bằng tái

Số hóa bởi trung tâm học liệu www: \\lrc-tnu.edu.vn

11
sinh tự nhiên đều tuổi, như các phương thức chặt dần tái sinh dưới tán rừng
nhiệt đới; phương thức cải tạo rừng bằng chặt trắng trồng lại; phương thức
trồng rừng kết hợp với nông nghiệp (Taungya).
* Những tồn tại trong nghiên cứu
Nghiên cứu ở các nước trên thế giới cho thấy, vì còn thiếu những nghiên
cứu cụ thể về tái sinh cho từng trạng thái thực vật khác nhau, ở vị trí địa lý khác
nhau mà những biện pháp kỹ thuật lâm sinh thường không được áp dụng hoặc
được áp dụng một cách hình thức và không đạt được hiệu quả như mong muốn.
Bên cạnh đó, các yếu tố về kinh tế - xã hội nhạy cảm nhất với các giải pháp phục
hồi rừng thường liên quan đến chính sách về quyền sở hữu và sử dụng rừng, chia
sẻ lợi ích từ rừng, thuế tài nguyên, sự tham gia của cộng đồng trong quản lý

hệ chặt chẽ. Đa phần các loài có hệ số tổ thành tầng cây cao càng lớn thì hệ số
tổ thành tầng tái sinh cũng vậy.
Lê Đồng Tấn - Đỗ Hữu Thư (1995) [19] nghiên cứu thảm thực vật tái
sinh trên đất sau nương rẫy tại Sơn La qua 3 giai đoạn phát triển: giai đoạn I
(tuổi từ 4 đến 5), giai đoạn II (tuổi 9 đến 10), giai đoạn III (tuổi 14 đến 15) và
nhận xét: Trong 15 năm đầu, thảm thực vật tái sinh trên đất sau nương rẫy có
số lượng loài đều tăng lên qua các giai đoạn phát triển. Sau 3 giai đoạn phát
triển thảm thực vật tái sinh trên đất sau nương rẫy thể hiện một quá trình thay
thế tổ thành rất rõ ràng, lượng tăng trưởng của thảm thực vật không cao.
Căn cứ vào nguồn giống, người ta phân chia ra 3 mức độ tái sinh: (i) tái
sinh nhân tạo, (ii) tái sinh bán nhân tạo (xúc tiến TSTN), (iii) tái sinh tự
nhiên. Theo Phùng Ngọc Lan (1986) [11] biểu hiện đặc trưng của tái sinh
rừng là sự xuất hiện một thế hệ cây của những loài cây ở những nơi còn hoàn
cảnh rừng, còn Trần Xuân Thiệp (1995) [25] cho rằng, nếu thành phần cây tái
sinh giống như thành phần cây đứng thì đó là quá trình thay thế một thế hệ
cây này bằng thế hệ cây khác.
Như vậy, đặc điểm cơ bản của quá trình này là lớp cây con đều có nguồn
gốc từ hạt và chồi sẵn có, kể cả trong trường hợp tái sinh nhân tạo.

Số hóa bởi trung tâm học liệu www: \\lrc-tnu.edu.vn

13
1.3.2. Nghiên cứu về nhân tố ảnh hưởng đến tái sinh
Theo Thái Văn Trừng (1978) [27] đã xây dựng quan niệm “Sinh thái
phát sinh quần thể ” trong thảm thực vật rừng nhiệt đới và vận dụng để xây
dựng biểu phân loại thảm thực vật rừng Việt Nam. Theo tác giả một công
trình nghiên cứu về thảm thực vật mà không đề cập đến hoàn cảnh thì đó là
một công trình hình thức, không có lợi ích thực tiễn. Trong các nhân tố sinh
thái thì ánh sáng là nhân tố quan trọng khống chế và điều khiển quá trình tái
sinh tự nhiên cả ở rừng nguyên sinh và rừng thứ sinh.

theo tác giả khoảng cách đám nương đến vách rừng tự nhiên gieo giống càng
gần thì khả năng gieo giống càng thuận lợi: cách 20 mét mật độ tái sinh cây
hạt là 2622 41cây/ha, cách 70 mét là 2577 32 cây/ha và cách 120 mét là
2310 57 cây/ha. Vị trí địa hình và độ dốc: ở chân đồi số loài, mật độ cây gỗ
tái sinh là lớn nhất (45 loài, N = 5020 140 cây/ha) và ít nhất là ở đỉnh (39
loài, N = 3540 110 cây/ha). Độ dốc càng lớn thì quá trình phục hồi rừng càng
khó khăn. Mật độ và chất lượng cây tái sinh ở độ dốc cấp I (<150) cao nhất
(N= 5340 150 cây/ha, tỷ lệ cây tốt 70,4%), ở độ dốc cấp III (>250) là thấp
nhất (N = 3560 120 cây/ha, tỷ lệ cây tốt đạt 64,7%).
Đinh Quang Diệp nghiên cứu tái sinh tự nhiên ở rừng khộp vùng Easup,
Đắc Lắc kết luận: Độ tàn che của rừng, thảm mục, độ dầy của thảm tươi, điều
kiện lập địa, lửa rừng là những nhân tố có ảnh hưởng lớn đến số lượng và chất
lượng cây con tái sinh dưới tán rừng, trong đó lửa rừng là nguyên nhân gây
nên hiện tượng cây chồi. Về quy luật phân bố cây trên bề mặt đất, tác giả
nhận định khi tăng diện tích lên thì lớp cây tái sinh có phân bố cụm.
Trần Ngũ Phương (1970) [14] khi nghiên cứu về trạng thái rừng nhiệt
đới mưa mùa lá rộng thường xanh đã có nhận xét: “Rừng tự nhiên dưới tác
động của con người khai thác hoặc làm nương rẫy, lặp đi lặp lại nhiều lần thì
kết quả cuối cùng là sự hình thành đất trống, đồi núi trọc. Nếu chúng ta để
thảm thực vật hoang dã tự nó phát triển lại thì sau một thời gian dài trảng cây
bụi, trảng cỏ sẽ chuyển dần lên những dạng thực bì cao hơn thông qua quá
trình tái sinh tự nhiên và cuối cùng rừng khí hậu sẽ có thể phục hồi dưới dạng
gần giống rừng khí hậu ban đầu”.

Số hóa bởi trung tâm học liệu www: \\lrc-tnu.edu.vn

15
Trần Ngũ Phương (2000) [15] khi nghiên cứu các quy luật phát triển
rừng tự nhiên miền Bắc Việt Nam đã nhấn mạnh quá trình diễn thế thứ sinh
của rừng tự nhiên như sau: “trường hợp rừng tự nhiên có nhiều tầng khi tầng

Weibull. Phân bố số cây theo mặt phẳng ngang dưới 7 năm là phân bố cụm, từ
7-15 năm là phân bố ngẫu nhiên và có xu hướng tiến dần đến phân bố đều.
Mật độ tái sinh giảm dần theo thời gian phục hồi. Từ kết quả trên tác giả cho
biết nếu sau nương rẫy thảm thực vật tái sinh không bị phá hoại thì rừng thứ
sinh được phục hồi thông qua con đường tái sinh tự nhiên là thuận lợi. Tuy
nhiên, do tổ thành loài đơn giản nên trong điều kiện cho phép cần xúc tiến tái
sinh tự nhiên bằng biện pháp tra dặm hạt giống, phát dây leo bụi dậm, kết hợp
trồng bổ sung cây có giá trị kinh tế để nâng cao năng suất chất lượng rừng.
1.3.4. Nghiên cứu về điều tra, đánh giá tái sinh tự nhiên
Từ năm 1962 - 1967 Cục điều tra quy hoạch rừng (nay là Viện Điều tra
quy hoạch rừng) đã điều tra tái sinh tự nhiên trên một số vùng thuộc tỉnh
Quảng Bình, Hà Tĩnh, Nghệ An, Yên Bái và Quảng Ninh với sự tư vấn của
chuyên gia Hà Cự Trung - Trung Quốc. Phương pháp tiến hành là điều tra khu
tiêu chuẩn điển hình của các trạng thái rừng, trên cơ sở sử dụng ô điều tra
2.000 m
2
diện tích đo đếm tái sinh 100 - 125 m
2
kết hợp với điều tra theo
tuyến. Dựa vào các tài liệu đã thu thập ngoài rừng, các tác giả tiến hành phân
tích, tính toán những chỉ tiêu cây đứng và cây tái sinh, phân chia các loại hình
thực vật rừng và dựa trên cơ sở đó nhận xét thực trạng rừng, đánh giá tình
hình tái sinh tự nhiên và đề xuất biện pháp kinh doanh [3].
Trong thời gian từ năm 1962 đến năm 1969, Viện Điều tra - Quy hoạch
rừng đã điều tra tái sinh tự nhiên theo các "loại hình thực vật ưu thế" rừng thứ
sinh ở Yên Bái (1965), Hà Tĩnh (1966), Quảng Bình (1969) và Lạng Sơn
(1969). Đáng chú ý là kết quả điều tra tái sinh tự nhiên ở vùng sông Hiếu
(1962-1964) bằng phương pháp đo đếm điển hình. Từ kết quả điều tra tái
sinh, dựa vào mật độ cây tái sinh, đã phân chia khả năng tái sinh rừng thành 5
cấp: rất tốt, tốt, trung bình, xấu và rất xấu. Nhìn chung nghiên cứu này mới


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status