ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
–––––––––––––––––––––––––––––––
TRƢƠNG QUỐC HƢNG
NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG PHỤC HỒI RỪNG TRÊN ĐẤT
SAU CANH TÁC NƢƠNG RẪY TẠI HUYỆN CHỢ ĐỒN,
TỈNH BẮC KẠN
Chuyên ngành: Lâm học
Mã số: 60. 62. 02. 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP Ngƣời hƣớng dẫn khoa học:
1. PGS.TS. LÊ SỸ TRUNG
2. ThS. NGUYỄN THỊ THU HOÀN
Thái Nguyên, 2012
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
i
bè đồng nghiệp đã chia sẻ chuyên môn để tôi hoàn thành bản luận văn này.
Đây là công trình nghiên cứu khoa học của bản thân tôi chắc chắn
không tránh khỏi những thiếu sót, kính mong nhận được những ý kiến phê
bình, góp ý của quý thầy cô, các nhà khoa học, các bạn bè đồng nghiệp và độc
giả để bản luận văn được hoàn thiện hơn.
Xin trân trọng cảm ơn!
Tác giả
TRƢƠNG QUỐC HƢNG
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
iii
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU i
1. Tính cấp thiết của đề tài 1
2. Mục tiêu nghiên cứu 2
2.1. Mục tiêu về lý luận 2
2.2. Mục tiêu thực tiễn 2
3. Ý nghĩa của đề tài 2
Chƣơng 1. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 3
1.1. Một số khái niệm liên quan được sử dụng trong đề tài 3
1.2. Các nghiên cứu liên quan trên thế giới và Việt Nam 5
1.2.1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới 5
1.2.2. Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam 10
1.3. Tổng quan khu vực nghiên cứu 20
1.3.1. Điều kiện tự nhiên khu vực nghiên cứu 21
1.3.2. Điều kiện kinh tế xã hội 25
Chƣơng 2. ĐỐI TƢỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP
3.2.6. Ảnh hưởng của một số nhân tố đến tái sinh 63
3.3. Đề xuất một số biện pháp kỹ thuật cho đối tượng nghiên cứu 67
3.3.1. Đối với các trạng thái đã phục hồi thành rừng (trạng thái IIa) 68
3.3.2. Đối với trạng thái chưa có rừng 69
KẾT LUẬN, TỒN TẠI VÀ KIẾN NGHỊ 71
A. KẾT LUẬN 71
B. TỒN TẠI 73
C. KIẾN NGHỊ 73
TÀI LIỆU THAM KHÁO 74
I. PHẦN TIẾNG VIỆT 74
II. PHẦN TIẾNG ANH 76
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
v
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
- ÔTC: Ô tiêu chuẩn
- ÔDB: Ô dạng bản
- D
1.3
: Đường kính thân cây ở vị trí cách mặt đất 1,3 m
- H
vn
: Chiều cao vút ngọn
- PTLS: Phương thức lâm sinh
- DTR: Diện tích rừng``
- VĐTQHR: Viện điều tra quy hoạch rừng
- UBND: Ủy ban nhân dân
- TTV: Thảm thực vật
Ic và IIa 56
Bảng 3.16. Phân bố số cây theo cấp chiều cao trạng thái Ic 57
Bảng 3.17. Độ che phủ cây bụi thảm tươi các trạng thái Ia, Ib, Ic, IIa 59
Bảng 3.18. Chỉ số đa dạng sinh học lớp cây bụi 59
Bảng 3.19. Đặc điểm tầng thảm mục các trạng thái Ia, Ib, Ic, Iia 60
Bảng 3.20. Khối lượng vật rơi rụng ở các trạng thái Ia, Ib, Ic, IIa 61
Bảng 3.21. Kết quả điều tra tính chất lí tính của đất 62
Bảng 3.22. Tổng hợp các yếu tố ảnh hưởng đến đặc điểm tái sinh tự nhiên 64
Bảng 3.23. Tổng hợp ảnh hưởng của con người đến tái sinh rừng 67
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
vii
DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang
Hình 3.1. Biểu đồ phân bố loài cây theo các nhóm tần số xuất hiện 45
Hình 3.2. Đồ thị phân bố số cây theo đường kính 46
Hình 3.3. Đồ thị phân bố loài cây theo cấp đường kính 47
Hình 3.4. Đồ thị phân bố số cây theo cấp chiều cao 48
Hình 3.5. Đồ thị phân bố loài cây theo cấp chiều cao 49
Hình 3.6. Đồ thị phân bố loài cây theo tầng phiến 50
Hình 3.7. Biểu đồ phân bố số cây theo cấp chiều cao 58
Hình 3.8. Biểu đồ biểu thị quá trình phân giải tầng thảm mục 60
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
1
MỞ ĐẦU
huyện Chợ Đồn và tỉnh Bắc Kạn còn ít ỏi, hạn chế này đã gây khó khăn cho
thực tiễn sản xuất, đây là các nguyên nhân làm cho kết quả của hoạt động
phát triển rừng còn rất hạn chế.
Để góp phần giải quyết những tồn tại nêu trên, đề tài "Nghiên cứu khả
năng phục hồi rừng trên đất sau canh tác nương rẫy tại huyện Chợ Đồn -
tỉnh Bắc Kạn" được đề xuất thực hiện.
Hướng của đề tài là đánh giá thực trạng một số kiểu trạng thái thực vật
rừng; nghiên cứu đặc điểm cấu trúc, đặc điểm tái sinh tự nhiên trên một số
trạng thái sau canh tác nương rẫy; nghiên cứu ảnh hưởng của các nhân tố đến
khả năng tái sinh; phân loại đối tượng tác động trong từng điều kiện và đề
xuất các giải pháp kỹ thuật hiệu quả.
2. Mục tiêu nghiên cứu
2.1. Mục tiêu về lý luận
Xác định được một số cơ sở khoa học nhằm rút ngắn thời gian phục hồi
và đẩy nhanh việc phát huy chức năng phòng hộ của rừng tỉnh Bắc Kạn.
2.2. Mục tiêu thực tiễn
- Xây dựng các đối tượng tác động làm cơ sở cho việc đề xuất giải pháp
kỹ thuật phục hồi rừng trên đất sau canh tác nương rẫy.
- Đề xuất được một số giải pháp kỹ thuật nhằm phục hồi rừng trên đất
sau canh tác nương rẫy.
3. Ý nghĩa của đề tài
Kết quả nghiên cứu của đề tài là cơ sở khoa học cung cấp thêm những
thông tin về khả năng phục rừng sau canh tác nương rẫy tại huyện Chợ Đồn,
tỉnh Bắc Kạn, đồng thời làm cơ sở đề xuất những giải pháp kỹ thuật lâm sinh
áp dụng cho rừng phục hồi nhằm đem lại hiệu quả trong phát triển rừng. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
3
4
mạnh. Rừng thứ sinh nói chung và rừng thứ sinh nghèo nói riêng đều có sản
lượng và giá trị kinh tế kém. Mật độ thiếu đặc biệt là mật độ của những loài
cây mục đích cũng là một đặc điểm dễ nhận thấy ở rừng thứ sinh [7].
* Tái sinh rừng
Tái sinh rừng là một quá trình sinh học mang tính đặc thù của hệ sinh thái
rừng, biểu hiện của nó là sự xuất hiện của một thế hệ cây con của những loài cây
gỗ ở những nơi còn hoàn cảnh rừng: dưới tán rừng, chỗ trống trong rừng, đất
rừng sau khai thác, đất rừng sau nương rẫy. Vai trò lịch sử của lớp cây con này là
thay thế thế hệ cây già cỗi. Vì vậy tái sinh từng hiểu theo nghĩa hẹp là quá trình
phục hồi thành phần cơ bản của rừng, chủ yếu là tầng cây gỗ. Sự xuất hiện lớp
cây con là nhân tố mới làm phong phú thêm số lượng và thành phần loài cây,
đóng góp vào việc hình thành tiểu hoàn cảnh rừng, làm thay đổi cả quá trình trao
đổi vật chất và năng lượng diễn ra trong hệ sinh thái. Do đó, tái sinh rừng hiểu
theo nghĩa rộng là sự tái sinh của một hệ sinh thái rừng. Tái sinh rừng thúc đẩy
việc hình thành cân bằng sinh học trong rừng đảm bào cho rừng tồn tại liên tục
và do đó bảo đảm cho việc sử dụng rừng thường xuyên và bền vững.
Tái sinh rừng tuân theo những quy luật nhất định. Quy luật tái sinh phụ
thuộc vào đặc điểm sinh vật học, sinh thái học của loài cây, điều kiện địa lý và
tiểu hoàn cảnh rừng Quy luật tái sinh rừng là cơ sở khoa học quan trọng cho
việc đề xuất các biện pháp tái sinh rừng có hiệu quả. Xét về bản chất sinh học,
tái sinh rừng diễn ra dưới 3 hình thức: tái sinh hạt, tái sinh chồi và tái sinh thân
ngầm. Mỗi hình thức tái sinh trên có quy luật riêng và trải qua nhiều giai đoạn
khác nhau [9].
Như vậ y, tái sinh rừng là một khái niệm chỉ khả n ăng và quá trì nh thiết
lậ p lớ p cây con dướ i tá n rừ ng . Đặc điểm cơ bản của quá trình này là lớp cây
con đề u có nguồ n gố c từ hạ t và trồ i có sẵ n , kể cả trong trườ ng hợ p tá i sinh
nhân tạ o thì cây con cũng phả i mọ c từ nguồ n hạt do con người gieo trước đó .
nó được phân biệt với các khái niệm khác (như trồ ng rừ ng) là sự thiết lập lớp
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
6
đặc thù của hệ sinh thái, đảm bảo cho nguồn tài nguyên có khả năng tái sản
xuất mở rộng nếu con người nắm bắt được quy luật tái sinh và điều khiển nó
phục vụ cho kinh doanh rừng. Vì vậy, tái sinh rừng trở thành vấn đề then chốt
trong việc xác định các phương thức kinh doanh rừng. Kết quả nghiên cứu
của các công trình nghiên cứu về tái sinh phục hồi rừng tự nhiên trên thế giới
rất nhiều, chúng tôi nêu một số nghiên cứu và được tóm tắt như sau:
1.2.1.1. Nghiên cứu về đặc điểm tái sinh, phục hồi rừng
Tái sinh (Regeneration) là một thuật ngữ chỉ khả năng tự tái tạo, hay sự
hồi sinh từ mức độ tế bào đến một quần lạc sinh vật trong tự nhiên, các tác giả
như Jordan, Peter và Allan (1998) sử dụng thuật ngữ này để diễn tả sự lặp lại
của quần xã sinh vật giống như nó đã xuất hiện trong tự nhiên. Tái sinh rừng
(Forestry regeneration) cũng để mô tả sự tái tạo của lớp cây con dưới tán rừng.
Về đặc điểm tái sinh, theo Van Steenis (1956), đối với rừng nhiệt đới
có hai đặc điểm tái sinh phổ biến là tái sinh phân tán liên tục và tái sinh vệt
(tái sinh lỗ trống). Hai đặc điểm này không chỉ thấy ở rừng nguyên sinh mà
còn thấy ở cả rừng thứ sinh - một đối tượng rừng khá phổ biến ở nhiều nước
nhiệt đới [33].
Theo Aubréville (1938), nghiên cứu tái sinh tự nhiên ở rừng nhiệt đới
Châu Phi, ông cho rằng “Cây con của loài cây ưu thế trong rừng mưa có thể
cực hiếm”. Tổ thành loài cây mẹ ở tầng trên và tổ thành loài cây tái sinh ở
tầng dưới thường khác nhau rất nhiều. Trong khi đó nghiên cứu của Davi, Ri
Sa (1993), Bead (1964) và RôLê (1969) ở rừng nhiệt đới Nam Mỹ nhận định
sự xuất hiện hiện tượng tái sinh tại chỗ và liên tục của các loài cây và tổ thành
loài cây có thể giữ nguyên không đổi trong một thời gian dài [29]. Sự khác
nhau của hai tác giả này có thể lý giải: nơi tác giả quan sát, khi đó rừng chưa
đạt tới giai đoạn ổn định, tổ thành loài cây chưa ổn định về thành phần loài và
ngược lại.
Khi nghiên cứu phân tích ảnh hưởng của các nhân tố sinh thái đến tái
sinh tự nhiên. Trong đó nhân tố ánh sáng (thông qua độ tàn che của rừng), độ
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
8
ẩm của đất, kết cấu quần thụ, cây bụi, thảm tươi được đề cập thường xuyên.
Baur G.N cho rằng, trong rừng nhiệt đới sự thiếu hụt ánh sáng ảnh hưởng đến
phát triển của cây con còn đối với sự nảy mầm, ảnh hưởng này thường không
rõ ràng [28].
Nhóm nhân tố sinh thái ảnh hưởng đến tái sinh và phục hồi rừng có sự
can thiệp của con người. Các nhà lâm học như: Gorxenhin (1972, 1976);
Bêlốp (1982) đã xây dựng thành công nhiều phương thức tái sinh và phục hồi
rừng nghèo kiệt; đáng chú ý là một số công trình nghiên cứu của Maslacop
E.L (1981) về "phục hồi rừng trên các khu khai thác", Mêlêkhốp I.C (1966)
về "ảnh hưởng của cháy rừng tới quá trình tái sinh phục hồi rừng",
Pabedinxkion (1966) về "phương pháp nghiên cứu quá trình phục hồi rừng".
Myiawaki (1993), Yu cùng các cộng sự (1994), Goosem và Tucker (1995),
Sun và cộng sự (1995), Kooyman (1996) cũng đã đưa ra nhiều hướng tiếp cận
nhằm phục hồi hệ sinh thái rừng đã bị tác động ở vùng nhiệt đới. Kết quả ban
đầu của những nghiên cứu này đã tạo nên những khu rừng có cấu trúc và làm
tăng mức độ đa dạng về loài. Tuy nhiên, hạn chế của chúng là không thể áp
dụng trên quy mô rộng, bởi các yêu cầu về nhân công và các nguồn lực khác
trong quá trình thực hiện (Dẫn theo Phạm Văn Điển, 2006).
1.2.1.3. Nghiên cứu về điều tra, đánh giá tái sinh tự nhiên
Có nhiều phương pháp khác nhau để xác định mật độ cây tái sinh như:
ô dạng bản theo hệ thống với diện tích ô đo đếm điều tra tái sinh từ 1 đến 4
m
2
. Do diện tích ô nhỏ nên việc đo đếm gặp nhiều thuận lợi nhưng số lượng ô
phải đủ lớn và trải đều trên diện tích khu rừng mới phản ánh trung thực tình
Andamann; Donis và Maudouz (1951, 1954) với phương thức đồng nhất hóa
tầng trên ở Java [32].
Các phương thức lâm sinh cho phục hồi và phát triển rừng tự nhiên có
hai dạng chính: (i) Duy trì cấu trúc rừng tự nhiên không đều tuổi bằng cách
lợi dụng lớp thảm thực vật tự nhiên hiện có và sự thuận lợi về điều kiện tự
nhiên để thực hiện tái sinh tự nhiên, xúc tiến tái sinh tự nhiên, hoặc trồng bổ
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
10
sung. Ngoài ra còn có thể sử dụng phương thức chặt chọn từng cây hay từng
đám, phương thức cải thiện quần thể và chặt nuôi dưỡng rừng tự nhiên để dẫn
dắt rừng có cấu trúc gần với cấu trúc của rừng tự nhiên nguyên sinh. (ii)- Tác
động rừng theo hướng đều tuổi, có một hoặc một số loài cây bằng phương
thức chủ yếu là cải biến tổ thành rừng tự nhiên, tạo lập rừng đều tuổi bằng tái
sinh tự nhiên đều tuổi, như các phương thức chặt dần tái sinh dưới tán rừng
nhiệt đới; phương thức cải tạo rừng bằng chặt trắng trồng lại; phương thức
trồng rừng kết hợp với nông nghiệp (Taungya).
1.2.1.5. Những tồn tại trong nghiên cứu
Nghiên cứu ở các nước trên thế giới cho thấy, vì còn thiếu những nghiên
cứu cụ thể về tái sinh cho từng trạng thái thực vật khác nhau, ở vị trí địa lý
khác nhau mà những biện pháp kỹ thuật lâm sinh thường không được áp dụng
hoặc được áp dụng một cách hình thức và không đạt được hiệu quả như mong
muốn. Bên cạnh đó, các yếu tố về kinh tế - xã hội nhạy cảm nhất với các giải
pháp phục hồi rừng thường liên quan đến chính sách về quyền sở hữu và sử
dụng rừng, chia sẻ lợi ích từ rừng, thuế tài nguyên, sự tham gia của cộng đồng
trong quản lý rừng, vì vậy, trong một số trường hợp, người ta đã coi trọng
những giải pháp kinh tế - xã hội hơn là các nghiên cứu về đặc điểm tự nhiên
của thực vật
1.2.2. Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam
Ở Việt Nam, tái sinh rừng đã đươc quan tâm nghiên cứu từ những thập
lượng loài đều tăng lên qua các giai đoạn phát triển. Sau 3 giai đoạn phát triển
thảm thực vật tái sinh trên đất sau nương rẫy thể hiện một quá trình thay thế
tổ thành rất rõ ràng, lượng tăng trưởng của thảm thực vật không cao [18].
Căn cứ vào nguồn giống, người ta phân chia ra 3 mức độ tái sinh: (i) tái
sinh nhân tạo, (ii) tái sinh bán nhân tạo (xúc tiến TSTN), (iii) tái sinh tự
nhiên. Theo Phùng Ngọc Lan (1986) [7], biểu hiện đặc trưng của tái sinh rừng
là sự xuất hiện một thế hệ cây của những loài cây ở những nơi còn hoàn cảnh
rừng, còn Trần Xuân Thiệp (1995) cho rằng, nếu thành phần cây tái sinh
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
12
giống như thành phần cây đứng thì đó là quá trình thay thế một thế hệ cây này
bằng thế hệ cây khác [20].
Như vây, đặc điểm cơ bản của quá trình này là lớp cây con đều có
nguồn gốc từ hạt và chồi sẵn có, kể cả trong trường hợp tái sinh nhân tạo.
1.2.2.2. Nghiên cứu về nhân tố ảnh hưởng đến tái sinh, phục hồi rừng
Theo Thái Văn Trừng (1978) đã xây dựng quan niệm “Sinh thái phát
sinh quần thể ” trong thảm thực vật rừng nhiệt đới và vận dụng để xây dựng
biểu phân loại thảm thực vật rừng Việt Nam. Theo tác giả một công trình
nghiên cứu về thảm thực vật mà không đề cập đến hoàn cảnh thì đó là một
công trình hình thức, không có lợi ích thực tiễn. Trong các nhân tố sinh thái
thì ánh sáng là nhân tố quan trọng khống chế và điều khiển quá trình TSTN cả
ở rừng nguyên sinh và rừng thứ sinh [25]
Nếu các điều kiện khác của môi trường như đất rừng, nhiệt độ, độ ẩm
dưới tán rừng chưa thay đổi thì tổ hợp các loài cây tái sinh không có những
biến đổi lớn và cũng không diễn thế một cách tuần hoàn trong không gian và
theo thời gian mà diễn thế theo những phương thức tái sinh có qui luật nhân
quả giữa sinh vật và môi trường.
Một số tác giả trong nước đã nghiên cứu về mối quan hệ giữa địa hình
và khả năng tái sinh tự nhiên của thực vật: Ngô Quang Đê, Lê Văn Toán,
vật hoang dã tự nó phát triển lại thì sau một thời gian dài trảng cây bụi, trảng
cỏ sẽ chuyển dần lên những dạng thực bì cao hơn thông qua quá trình tái sinh
tự nhiên và cuối cùng rừng khí hậu sẽ có thể phục hồi dưới dạng gần giống
rừng khí hậu ban đầu”[15].
Trần Ngũ Phương (2000), khi nghiên cứu các quy luật phát triển rừng tự
nhiên miền Bắc Việt Nam đã nhấn mạnh quá trình diễn thế thứ sinh của rừng
tự nhiên như sau: “Trường hợp rừng tự nhiên có nhiều tầng khi tầng trên già
cỗi, tàn lụi rồi tiêu vong thì tầng kế tiếp sẽ thay thế; trường hợp nếu chỉ có
một tầng thì trong khi nó già cỗi một lớp cây con tái sinh xuất hiện và sẽ thay
thế nó sau khi nó tiêu vong, hoặc cũng có thể một thảm thực vật trung gian
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
14
xuất hiện thay thế, nhưng về sau dưới lớp thảm thực vật trung gian này sẽ
xuất hiện một lớp cây con tái sinh lại rừng cũ trong tương lai và sẽ thay thế
thảm thực vật trung gian này, lúc bấy giờ rừng cũ sẽ được phục hồi” [16].
Nghiên cứu sự biến động về mật độ và tổ thành loài tái sinh trong các
trạng thái thực bì ở tỉnh Quảng Ninh, Nguyễn Thế Hưng (2003), nhận xét
trong lớp cây tái sinh tự nhiên ở rừng non phục hồi thành phần loài cây ưa
sáng cực đoan giảm nhường chỗ cho nhiều loài cây ưa sáng sống định cư và
có đời sống dài chiếm tỉ lệ lớn, thậm chí trong tổ thành cây tái sinh đã xuất
hiện một số loài chịu bóng sống dưới tán rừng như Bứa, Ngát. Sự có mặt với
tần số khá cao của một số loài ưa sáng định cư và một số loài chịu bóng là
dấu hiệu chuyển biến tích cực của diễn thế rừng. Tác giả kết luận khả năng tái
sinh tự nhiên của các trạng thái thực vật có liên quan nhiều đến độ che phủ,
mức độ thoái hoá của thảm thực vật, phương thức tác động của con người và
tổ thành loài trong quần xã. Quảng Ninh rừng thứ sinh có mức độ tái sinh
trung bình với các loài khá phong phú. Những dạng thảm mới phục hồi hoặc
ở mức độ thái hoá chưa cao có khả năng tái sinh tự nhiên rất tốt bằng các hình
thức tái sinh phong phú. Tuy nhiên, cây có triển vọng thuộc nhóm loài ưa
thực vật rừng và dựa trên cơ sở đó nhận xét thực trạng rừng, đánh giá tình
hình TSTN và đề xuất biện pháp kinh doanh [3].
Trong thời gian từ năm 1962 đến năm 1969, Viện Điều tra - Quy hoạch
rừng đã điều tra tái sinh tự nhiên theo các "loại hình thực vật ưu thế" rừng thứ
sinh ở Yên Bái (1965), Hà Tĩnh (1966), Quảng Bình (1969) và Lạng Sơn
(1969). Đáng chú ý là kết quả điều tra tái sinh tự nhiên ở vùng sông Hiếu
(1962-1964) bằng phương pháp đo đếm điển hình. Từ kết quả điều tra tái
sinh, dựa vào mật độ cây tái sinh, Vũ Đình Huề (1969) đã phân chia khả năng
tái sinh rừng thành 5 cấp, rất tốt, tốt, trung bình, xấu và rất xấu. Nhìn chung
nghiên cứu này mới chỉ chú trọng đến số lượng mà chưa đề cập đến chất
lượng cây tái sinh. Cũng từ kết quả điều tra trên, Vũ Đình Huề (1975) đã tổng
kết và rút ra nhận xét, tái sinh tự nhiên rừng miền Bắc Việt Nam mang những
đặc điểm tái sinh của rừng nhiệt đới. Dưới tán rừng nguyên sinh, tổ thành loài
cây tái sinh tương tự như tầng cây gỗ; dưới tán rừng thứ sinh tồn tại nhiều loài
cây gỗ mềm kém giá trị và hiện tượng tái sinh theo đám được thể hiện rõ nét
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
16
tạo nên sự phân bố số cây không đồng đều trên mặt đất rừng. Với những kết
quả đó, tác giả đã xây dựng biểu đánh giá tái sinh áp dụng cho các đối tượng
rừng lá rộng, miền Bắc nước ta.
Lê Đồng Tấn (1993-1999), nghiên cứu quá trình phục hồi tự nhiên một
số quần xã thực vật sau nương rẫy tại Sơn La theo phương pháp kết hợp điều
tra ô tiêu chuẩn 400m
2
cho các đối tượng là thảm thực vật phục hồi sau nương
rẫy và theo dõi ô định vị 2000m
2
. Tác giả kết luận: mật độ cây tái sinh giảm
dần từ chân đồi lên đỉnh đồi. Tổ hợp loài cây ưu thế trên ba vị trí địa hình và 3
cấu trúc, động thái, các kỹ thuật khai thác bảo đảm tái sinh, kỹ thuật làm giàu
rừng, với các hệ sinh thái rừng đặc trưng của Việt Nam. Trong giai đoạn 1991 -
2000, các nghiên cứu về rừng tự nhiên hầu như bị gián đoạn để tập trung cho
nghiên cứu trồng rừng, bắt đầu từ năm 2001 trở lại đây, các nghiên cứu về rừng tự
nhiên mới được khởi động trở lại.
Trong một công trình nghiên cứu về cấu trúc, tăng trưởng trữ lượng và tái
sinh tự nhiên rừng thường xanh lá rộng hỗn loài ở ba vùng kinh tế (sông Hiếu,
Yên Bái và Lạng Sơn), Nguyễn Duy Chuyên (1988) đã khái quát đặc điểm phân
bố của nhiều loài cây có giá trị kinh doanh và biểu diễn bằng các hàm lý thuyết.
Từ đó làm cơ sở định hướng các giai pháp lâm sinh cho các vùng sản xuất nguyên
liệu. Tiếp theo, sự ra đời của thuật ngữ phục hồi rừng bằng “khoanh nuôi xúc
tiến tái sinh” những năm 1990 được coi như một bước tiến vượt bậc về mặt
khoa học trong phục hồi rừng khi hàng loạt công trình nghiên cứu về lĩnh vực
này được triển khai và tập trung theo hai hướng chủ yếu [4]:
Tập trung nghiên cứu các vấn đề cơ bản của quá trình phục hồi rừng
tự nhiên. Điển hình trong số đó là các đề tài của Viện Sinh thái và tài nguyên
sinh vật, (1992, 1994), Trường Đại học Lâm nghiệp (1993), Đỗ Hữu Thư
cùng các cộng sự (1994), Viện Điều tra quy hoạch rừng (1991-1995).
Tập trung nghiên cứu triển khai bao gồm việc phân loại đối tượng, đề
xuất các biện pháp cũng như các quy trình kỹ thuật nhằm phục hồi rừng bằng
khoanh nuôi; điển hình trong số đó là hai đề tài nghiên cứu cấp Nhà nước
thuộc Chương trình lâm nghiệp tổng hợp, mã số 04.01, giai đoạn 1986-1990
và Chương trình khôi phục và phát triển rừng, giai đoạn 1991-1995. Một số
nghiên cứu điển hình khác của Trung tâm Khoa học sản xuất lâm nghiệp Tây
Bắc (1992), Trần Đình Đại (1990), Trần Đình Lý (1995), Viện ĐTQHR
(1998), Phạm Ngọc Thường (2001-2003), v.v [12][23][24]
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên