Nghiên cứu khả năng phục hồi rừng trên một số trạng thái rừng tại xã Liên Minh- huyện Võ Nhai - Tỉnh Thái Nguyên. - Pdf 29

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NGUYỄN TÚ ANH
Tên đề tài:
NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG PHỤC HỒI RỪNG TRÊN MỘT SỐ
TRẠNG THÁI RỪNG TẠI XÃ LIÊN MINH, HUYỆN VÕ NHAI,
TỈNH THÁI NGUYÊN

KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên ngành : Quản lý tài nguyên rừng

Khoa : Lâm nghiệp

Khóa học : 2010-2014


Giảng viên hướng dẫn: T.S Trần Quốc Hưng

Khoa L©m nghiÖp - Tr−êng §¹i häc N«ng L©m Th¸i Nguyªn Thái Nguyên – 2014

LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thiện chương trình đào tạo Đại học thì quá trình thực tập tốt
nghiệp được xem là khâu quan trọng giúp sinh viên củng cố kiến thức tiếp thu
được trên giảng đường Đại học và cũng là cơ hội để sinh viên thử sức với công
việc, va chạm với những tình huống không có trong sách vở, bớt đi sự bỡ ngỡ
khi ra trường.
Được sự giới thiệu của Ban giám hiệu, Ban chủ nhiệm khoa Lâm Nghiêp,
trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên; tôi đã thực hiện đề tài “NGHIÊN
CỨU KHẢ NĂNG PHỤC HỒI RỪNG TRÊN MỘT SỐ TRẠNG THÁI
RỪNG TẠI XÃ LIÊN MINH, HUYỆN VÕ NHAI, TỈNH THÁI
NGUYÊN”.
Có được kết quả như hôm nay tôi xin chân thành cảm ơn thầy giáo
Ts.Trần Quốc Hưng người đã tận tình giúp đỡ, dẫn dắt tôi trong suốt thời gian
thực tập và viết khóa luận tốt nghiệp.
Tôi xin cảm ơn sâu sắc các bác, các cô, các chú và các anh chị hiện đang
công tác tại UBND, ban kiểm lâm xã Liên Minh đã giúp đỡ tôi hoàn thành tốt
nhiệm vụ được giao và cung cấp đầy đủ các số liệu cần thiết phục vụ cho quá
trình nghiên cứu đề tài.
Cảm ơn gia đình, bạn bè và những người thân đã động viên, giúp đỡ tôi


Ô tiêu chuẩn


Quyết định
T
: T
ốt
TB
: Trung bình

TNTN

Tài nguyên thiên nhiên
TS

Tái sinh
TTV

Thảm thực vật
UBNN

Ủy ban nhân dân
Viện STTNSV

Viện Sinh thái tài nguyên sinh vật
Viện THTQHR

Viện Điều Tra Quy Hoạch Rừng
X


2.1.2.1. Về cơ sở sinh thái của cấu trúc rừng 4

2.1.2.2. Tái sinh rừng 5

2.1.2.3. Khái niệm về phục hồi rừng 6

2.1.2.4. Cơ sở lý luận về tái sinh phục hồi rừng 6

2.2. Một số nghiên cứu về cấu trúc rừng, tái sinh rừng và phục hồi rừng trên
thế giới 7

2.2.1. Nghiên cứu về cấu trúc rừng 7

2.2.2. Nghiên cứu về tái sinh rừng 8

2.3.Nghiên cứu cấu trúc rừng, tái sinh rừng và phục hồi rừng ở Việt Nam 9

2.3.1. Nghiên cứu về cấu trúc rừng 9

2.3.2. Nghiên cứu về tái sinh rừng 10

2.3.3. Nghiên cứu về khoanh nuôi phục hồi rừng 10

2.3.4. Cơ sở khoa học lựa chọn giải pháp phục hồi rừng 16

2.3.5. Thống kê các biện pháp kỹ thuật phục hồi rừng 18

2.4. Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội khu vực nghiên cứu 18



3.1. Đối tượng và địa điểm nghiên cứu 33

3.2. Thời gian nghiên cứu 33

3.3. Nội dung nghiên cứu 33

3.4. Phương pháp nghiên cứu 33

3.4.1. Phương pháp thu thập số liệu 33

3.4.1.1. Tham khảo, thu thập các tài liệu có liên quan 33

3.4.1.2. Điều tra thực tế 33

3.4.1.3. Mô hình phục hồi rừng 31

3.4.2. Các chỉ tiêu đo đếm 34
PHẦN 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 38

4.1. Đặc điểm tái sinh trên các trạng thái rừng và khả năng sinh trưởng phát
triển cây tái sinh trên trạng thái Ic 38

4.1.1. Đặc điểm cấu trúc tổ thành cây tái sinh 38

4.1.2. Chất lượng, nguồn gốc cây tái sinh và cây tái sinh triển vọng 40


TÀI LIỆU THAM KHẢO 62
DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 2.1. Phân loại các đối tượng rừng 17

Bảng 2.2. Tình hình sử dụng đất đai xã Liên Minh qua 3 năm 21

Bảng 2.3. Bảng chế độ khí tượng huyện Võ Nhai-tỉnh Thái Nguyên 23

Bảng 2.4. Tình hình dân số và lao động xã Liên Minh qua 3 năm 28

Bảng 4.1. Tổ thành cây tái sinh trạng thái IC, IIA, IIB tại xã Liên Minh 39

Bảng 4.2. Chất lượng, nguồn gốc cây tái sinh và cây tái sinh triển vọng của
trạng thái IC, IIA, IIB tại xã Liên Minh, huyện Võ Nhai 40

Bảng 4.3. Mật độ tái sinh của loài và tỷ lệ phần trăm mật độ cây tái sinh trạng
thái IC, IIA, IIB tại xã Liên Minh, huyện Võ Nhai. 41

Bảng 4.4. Động thái tăng trưởng về Doo, Hvn cây tái sinh trạng thái IC tại xã
Liên Minh, huyện Võ Nhai 44

Bảng 4.5. Ảnh hưởng khoảng cách vách rừng tới tái sinh tại trạng thái IC ở
Liên Minh, Võ Nhai 48

PHẦN 1
MỞ ĐẦU
1.1: Đặt vấn đề
Vốn được mệnh danh là "lá phổi" của trái đất, rừng có vai trò rất quan
trọng trong việc duy trì cân bằng sinh thái và sự đa dạng sinh học trên hành tinh
chúng ta. Bởi vậy, bảo vệ tài nguyên rừng là một nhiệm vụ quan trọng của tất cả
các quốc gia trên thế giới nhằm bảo vệ môi trường đang bị huỷ hoại mà nguyên
nhân chủ yếu là do chính hoạt động của con người gây ra. Việt Nam trải dài
trên nhiều vĩ tuyến và đai cao, với địa hình rất đa dạng. Hơn 2/3 lãnh thổ là
đồi núi, khí hậu thay đổi từ nhiệt đới ẩm phía Nam, đến á nhiệt đới ở vùng
cao phía Bắc, đã hình thành nên sự đa dạng về hệ sinh thái và sự phong phú
về các loài sinh vật.
Vai trò của rừng là rất to lớn, thế nhưng trong những năm vừa qua rừng
tự nhiên của chúng ta đang bị suy giảm rất nghiêm trọng cả về số lượng và
chất lượng. Việt Nam cũng không nằm ngoại lệ đó. Nhất là ở nước ta rừng tập
trung ở khu vực vùng núi cao, nơi mà trình độ dân trí của người dân còn thấp
sống chủ yếu phụ thuộc vào nguồn tài nguyên rừng nhưng lại thiếu ý thức bảo
vệ, gìn giữ nguồn tài nguyên vô giá này. Đặc biệt với tập quán du canh, du cư,
người dân tuỳ ý đốt nương, làm rẫy. Sau một thời gian canh tác, khi năng suất
cây trồng giảm đi họ chuyển sang một mảnh đất khác vài năm sau mới quay
lại mảnh đất cũ làm cho đất rừng bị suy thoái.
Để phục hồi và phát triển rừng đòi hỏi con người cần nghiên cứu tìm
hiểu sâu về hệ sinh thái rừng để hiểu biết đầy đủ về bản chất và qui luật phát
triển của hệ sinh thái rừng, trước hết là quá trình tái sinh tự nhiên và từ đó có
những biện pháp tác động hợp lý cho tái sinh phục hồi rừng phù hợp với điều
kiện kinh tế xã hội ở mỗi nước, mỗi vùng. Nghiên cứu đặc điểm tái sinh tự
nhiên dưới trạng thái nương rẫy, rừng nghèo kiệt sẽ cho thấy tiềm năng phát
2

triển của rừng trong tương lai và khả năng sử dụng không gian dinh dưỡng

các nghiên cứu tiếp theo.
1.4.2. Ý nghĩa thực tiễn
- Khả năng gieo giống và phục hồi rừng để bảo vệ nguồn gen duy trì
tính đa dạng sinh học và cân bằng sinh thái trong vùng là hết sức cần thiết, do
đó kết quả của nghiên cứu này sẽ góp phần làm rõ nguồn gốc tái sinh và khả
năng sinh trưởng, phát triển của cây tái sinh tại khu vực nghiên cứu.
- Cho ta biết được được khả năng gieo giống, hình thức phát tán hạt
giống của cây mẹ ở vách rừng, làm cơ sở cho các biện pháp kỹ thuật lâm sinh
thúc đẩy tái sinh ở khu vực trước đây đã làm nương bãi.

4

PHẦN 2
TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU


mặt phẳng ngang (mật độ và dạng phân bố cây trong quần thể);
3- Cấu trúc theo thời gian: Cấu trúc theo tuổi. Cấu trúc rừng phản ánh
điều kiện sinh thái. Ở môi trường khắc nghiệt, cấu trúc rừng đơn giản chỉ gồm
những loài cây chống chịu được môi trường đó. Ở môi trường thuận lợi, cấu
trúc rừng phức tạp hơn và gồm nhiều loài cạnh tranh, có phần cộng sinh, kí
sinh. Ở vùng ôn đới cấu trúc điển hình là rừng thuần loài, đều tuổi, một tầng,
rụng lá. Ở vùng nhiệt đới Việt Nam, cấu trúc rừng tự nhiên điển hình là rừng
hỗn loài, nhiều tầng, thường xanh. Luận điểm cơ bản của kinh doanh rừng
nhiệt đới là xây dựng cho được một cấu trúc rừng hợp lý nhất để có năng suất,
chất lượng cao và ổn định nhất.
2.1.2.2. Tái sinh rừng
Tái sinh rừng, được hiểu theo nghĩa rộng là sự tái sinh của hệ sinh thái
rừng. Tái sinh rừng, hiểu theo nghĩa hẹp là quá trình phục hồi lại thành phần
cơ bản của rừng (Phùng Ngọc Lan, 1986) [7]
Theo giáo trình Lâm sinh học - Đại học Lâm nghiệp [3], tái sinh tự
nhiên là quá trình tạo thành thế hệ rừng mới bằng con đường tự nhiên về cơ
bản không có sự tác động của con người. Kết quả của phương thức tái sinh
này phụ thuộc vào quy luật khách quan của tự nhiên. Tái sinh nhân tạo là
phương thức tái sinh có sự tác động tích cực của con người từ khi gieo giống,
trồng cây, chăm sóc để tạo rừng mới trên đất rừng. Về mặt kỹ thuật, tái sinh
nhân tạo và trồng rừng giống nhau, nhưng khác nhau ở địa điểm tiến hành.
Trồng rừng là tiến hành trên đất chưa có rừng hoặc có rừng nhưng đã mất từ
lâu, đất không còn tính chất đất rừng. Trái lại tái sinh nhân tạo tiến hành trên
6

đất còn mang tính chất đất rừng. Cây tái sinh có triển vọng là cây con tái sinh
có chiều cao bằng hoặc vượt chiều cao thảm tươi, cây bụi xung quanh nó và
có phẩm chất từ trung bình trở lên. Khi vận dụng quy luật này cần thống nhất
ba yêu cầu sau: Thứ nhất cây đó qua thời gian cây mạ, có khả năng chống đỡ
với điều kiện bất lợi của hoàn cảnh; Thứ hai, chiều cao cây tái sinh phải bằng

2.2. Một số nghiên cứu về cấu trúc rừng, tái sinh rừng và phục hồi rừng
trên thế giới
2.2.1. Nghiên cứu về cấu trúc rừng
Trên thế giới, việc nghiên cứu cấu trúc rừng đã được tiến hành từ lâu
nhằm xác định cơ sở khoa học cho việc đề xuất các biện pháp kỹ thuật tác
động vào rừng, góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế và môi trường của rừng.
Các công trình của các tác giả Richards, Baur, Catinot, Odum, Van
Stennis v.v…Được coi là nền tảng cho những nghiên cứu về cấu trúc rừng,
đặc biệt là ở rừng tự nhiên nhiệt đới. Baur G.N. (1976) [19] đã nghiên cứu các
vấn đề về cơ sở sinh thái học nói chung và về cơ sở sinh thái học trong kinh
doanh rừng mưa nói riêng, trong đó đã đi sâu nghiên cứu các nhân tố cấu trúc
rừng, các kiểu xử lý về mặt lâm sinh áp dụng cho rừng mưa tự nhiên. Từ đó
tác giả đã đưa ra những tổng kết hết sức phong phú về các nguyên lý tác động
xử lý lâm sinh nhằm đem lại rừng cơ bản là đều tuổi, rừng không đều và các
phương thức xử lý cải thiện rừng mưa. Đối với rừng mưa nhiệt đới, nhiều tác
giả chia ra làm 3 tầng, đó là tầng cây cao thường hình thành tầng vượt tán,
tầng tán chính, tầng dưới tán.
8

2.2.2. Nghiên cứu về tái sinh rừng
Theo quan điểm của các nhà nghiên cứu lâm học, hiệu quả của tái sinh
rừng được xác định bởi mật độ, tổ thành loài cây, cấu trúc tuổi, chất lượng
cây con, đặc điểm phân bố. Vai trò của cây con là thay thế cây già cỗi, vì vậy
hiểu theo nghĩa hẹp, tái sinh rừng là quá trình phục hồi thành phần cơ bản của
rừng, chủ yếu là tầng cây gỗ. Trên thế giới, tái sinh rừng đã được nghiên cứu
từ hàng trăm năm trước đây, nhưng từ năm 1930, mới bắt đầu nghiên cứu tái
sinh rừng nhiệt đới. P.W Richard [20] tổng kết quá trình nghiên cứu tái sinh
cho thấy, cây tái sinh có dạng phân bố cụm, một số có dạng phân bố Poissn
Van Steens (1956) [18], đã nghiên cứu hai đặc điểm tái sinh phổ biến ở rừng
mưa nhiệt đới, đó là tái sinh phân tán liên tục của loài cây chịu bóng và tái

mưa ẩm nhiệt đới nước ta, đã đưa ra mô hình cấu trúc tầng, những tầng vượt
tán, tầng ưu thế sinh thái, tầng dưới tán, tầng cây bụi và tầng cỏ quyết. Tác giả
vận dụng và có sự cải tiến bổ sung phương pháp biểu đồ mặt cắt của Davit –
Risa, trong đó tầng cây bụi và thảm tươi được phóng với tỷ lệ lớn hơn. Ngoài
ra, tác giả còn dựa vào 4 tiêu chuẩn để phân chia kiểu thảm thực vật rừng Việt
Nam, đó là: Dạng sống ưu thế của những thực vật tầng cây lập quần, độ tàn
che của tầng ưu thế sinh thái, hình thái sinh thái của nó và trạng thái của tán
lá. Dựa vào đó, tác giả chia thảm thực vật rừng Việt Nam thành 14 kiểu. Nhìn
chung, các công trình nghiên cứu về cấu trúc rừng gần đây thường thiên về
mô hình hóa các quy luật kết cấu lâm phần và việc đề xuất các biện pháp kỹ
thuật tác động vào rừng thường ít đề cập đến các yếu tố sinh thái nên chưa
thực sự đáp ứng mục tiêu kinh doanh rừng ổn định lâu dài.
10
2.3.2. Nghiên cứu về tái sinh rừng
Thái Văn Trừng (1978) [15] khi nghiên cứu về thảm thực vật rừng Việt
Nam đã kết luận, ánh sáng là nhân tố sinh thái khống chế và ảnh hưởng đến
quá trình tái sinh tự nhiên trong rừng.
Đinh Quang Diệp (1993) [2] nghiên cứu về tái sinh tự nhiên ở rừng
Khộp vùng Easuk – Đắc Lắc kết luận: Độ tàn che, thảm mục, độ dày tầng
thảm mục, điều kiện lập địa là những nhân tố ảnh hưởng đến số lượng và chất
lượng cây con tái sinh dưới tán rừng. Qua nghiên cứu tác giả cho thấy, tái
sinh trong khu vực có dạng phân bố cụm. Tái sinh rừng tự nhiên nhiệt đới là
một vấn đề rất đa dạng và phong phú. Quá trình này, bị chi phối bởi rất nhiều
yếu tố, như vị trí địa lý, biện pháp tác động đến tầng cây cao, nguồn gốc hình
thành rừng,… Chính vì thế cho dù quá trình tái sinh có những quy luật nhất
định, vốn có tồn tại khách quan, nhưng do tác động trên làm cho chúng trở
nên rất phức tạp. Tái sinh là vấn đề quan trọng, quyết định đến quá trình kinh
doanh rừng bền vững, vì thế nghiên cứu quá trình tái sinh phục hồi rừng là
một việc làm không thể thiếu trong các nghiên cứu về cấu trúc rừng tự nhiên.
Theo TS. Vũ Tiến Hinh (1991) [4] khi nghiên cứu đặc điểm tái sinh tự

dung công việc cần tiến hành trong quá trình khoanh nuôi ở các mức độ khác
nhau. Nghiên cứu đã xây dựng được bản quy phạm cho khoanh nuôi phục hồi
rừng và xây dựng được danh lục sơ bộ gồm 155 loài cây bản địa có thể sử
dụng cho việc khoanh nuôi và phục hồi rừng. Đây là công trình đầu tiên ở
Việt Nam đề cập một cách hệ thống từ cơ sở khoa học đến quy phạm khoanh
nuôi phục hồi rừng ở Việt nam. Nghiên cứu này mới chỉ dừng lại ở việc xây
dựng quy phạm chưa xây dựng được quy trình khoanh nuôi cụ thể cho từng
vùng và từng loại hình rừng cụ thể.
12
Bên cạnh các đề tài đó có đề tài cấp cơ sở điều tra khảo sát hoặc nghiên cứu
thí nghiệm một số vấn đề có liên quan cũng được xúc tiến ở nhiều địa phương
như:
- Nghiên cứu quá trình tái sinh tự nhiên thảm thực vật rừng và ứng
phương thức khoanh nuôi phục hồi rừng ở Quảng Ninh (ĐHLN, 1993).
- Khả năng tái sinh diễn thế, quá trình sinh trưởng và phát triển của thảm
thực vật trên đất rừng thứ sinh sau nương rẫy tại Kon Hà Nừng. (Viện STTNSV,
92).
- Đặc điểm sinh thái Lâm học rừng cây họ Dầu (Dipterocarpaceae) ở Đông
Nam Bộ và một số định hướng bảo vệ khôi phục rừng (Viện THTQHR, 1991 –
1995).
- Một số loài cây bản địa có thể sử dụng trong khoanh nuôi phục hồi
rừng ở Việt Nam (Viện STTNSV, 1994).
- Quy trình kỹ thuật khoanh nuôi phục hồi rừng tự nhiên ở vùng Tây
Bắc (Trung tâm KHSXLN Tây Bắc, 1992).
- Phân loại đất trống đồi núi trọc phục vụ trồng rừng và tái sinh rừng
(Viện THTQHR, 1998).
Cùng với sức ép ngày càng một bức bách của yêu cầu và thực tiễn sản
xuất các kết quả của sự chuyển hướng đó là những tiền đề quan trọng cho sự
đổi mới của vấn đề tái sinh phục hồi rừng. Đầu những năm 90, kết quả của sự
chuyển hướng đã được pháp lý hóa thông qua 3 tiêu chuẩn ngành thể hiện sự

IA, IB, IC, IIA, IIB đưa ra nhận xét, trong suốt quá trình phục hồi tự nhiên
thảm thực vật rừng trước khi đạt tới giai đoạn thuần thục, thành phần loài và
14
số lượng cây gỗ trên một diện tích nhất định có xu hướng giảm dần, đơn giản
hoá để tái ổn định.
Tuy nhiên, trong giai đoạn đầu của quá trình tự phục hồi thảm thực vật
rừng, quy luật này biểu hiện chưa rõ ràng và có thể có những xáo trộn.
Lê Đồng Tấn (1993 – 1999) [10] nghiên cứu quá trình phục hồi tự
nhiên một số quần xã thực vật sau nương rẫy tại Sơn La theo phương pháp kết
hợp điều tra ô tiêu chuẩn 400 m
2
cho các đối tượng là thảm thực vật phục hồi
sau nương rẫy và theo dõi ô định vị 2000 m
2
. Tác giả kết luận: Mật độ cây tái
sinh giảm dần từ chân đồi lên đỉnh đồi. Tổ hợp loài cây ưu thế trên ba vị trí
địa hình và 3 cấp độ dốc là giống nhau. Sự khác nhau chính là hệ số tổ thành
các loài trong tổ hợp đó.
Nguyễn Văn Thông (2000) [12], đưa ra kết quả phục hồi rừng tự nhiên
tại trung tâm nghiên cứu thực nghiệm lâm sinh Cầu Hai – Phú thọ. Qua đó tác
giả đã đưa ra được ưu, nhược điểm của các biện pháp kỹ thuật phục hồi rừng
được áp dụng ở trung tâm từ những năm 1960 tới nay. Tác giả kết luận có thể
sử dụng cả 3 biện pháp: Cải tạo rừng, làm giàu và khoanh nuôi rừng để phục
hồi rừng tự nhiên. Biện pháp làm giàu rừng và cải tạo rừng giải quyết được
vấn đề về mật độ và tổ thành. Tuy nhiên, nó lại có một số hạn chế là làm thay
đổi khá lớn và lâu phục hồi lại hoàn cảnh rừng cũng như lâu phục hồi khả
phòng hộ và khả năng cải thiện môi trường, đầu tư tốn kém, kỹ thuật gây
trồng phức tạp. Khi thất bại do chọn loài cây, biện pháp gây trồng không hợp
lý thì hậu quả sẽ rất lớn. Biện pháp khoanh nuôi rừng có ưu điểm là chi phí
đầu tư thấp, triển vọng thành rừng cao, nhanh phát huy tác dụng mọi mặt của

cây bản địa.
16
Phạm Ngọc Thường – 2003, [14] đề xuất một số giải pháp kĩ thuật lâm
sinh phục hồi rừng sau nương rẫy ở hai tỉnh Thái Nguyên – Bắc Kạn trên một
số mô hình. Mô hình khoanh nuôi tái sinh tự nhiên, mô hình này có thời gian
phục hồi 7 – 8 năm cho biết được mật độ cây tái sinh và số lượng cây tái sinh
có triển vọng/ha. Nhưng công trình này không đưa ra số liệu về kích thước
cây tái sinh và không có mô hình đối chứng nên chưa đánh giá được hiệu quả
của khoanh nuôi tái sinh tự nhiên đến mức nào. Mô hình khoanh nuôi xúc tiến
tái sinh trồng bổ sung cho biết cây trồng bổ sung có tỷ lệ sống cao, sinh
trưởng tốt nhưng lại không đề cập tới tình hình tái sinh như thế nào thông qua
biện pháp kỹ thuật lâm sinh do vậy nó vẫn chưa minh chứng được hiệu quả
của mô hình.
Phạm Quốc Hùng (2005) [6] tiến hành đề tài “Đánh giá khả năng tái
sinh phục hồi rừng vùng Đông bắc Việt Nam”. Nghiên cứu tập trung vào đối
tượng rừng phục hồi ở độ cao < 700m trong đất liền. Đề tài đưa ra được đặc
điểm lâm học và đặc điểm tái sinh dưới tán rừng của các trạng thái rừng phục
hồi. Tuy nhiên, trong vấn đề nghiên cứu về đặc điểm cấu trúc của rừng phục
hồi đề tài chưa đưa ra được hàm số phù hợp để mô tả tương quan chiều cao và
đường kính của rừng phục hồi.

2.3.4. Cơ sở khoa học lựa chọn giải pháp phục hồi rừng
Hai văn bản được đánh giá là tiêu biểu cho việc phân loại đối tượng tác
động, và được áp dụng rộng rãi trong thực tiễn kinh doanh rừng ở nước ta
trong một thời gian dài, đó là quy phạm các giải pháp kỹ thuật lâm sinh áp
dụng cho rừng sản xuất gỗ và tre nứa (QPN 14-92) được Bộ lâm nghiệp nay
là Bộ NN&PTNT ban hành ngày ngày 31 tháng 3 năm 1993, và quy phạm
phục hồi rừng bằng khoanh nuôi xúc tiến tái sinh kết hợp trồng bổ sung (QPN
21-98) ban hành ngày 04 tháng 11 năm 1998. Theo các quy phạm này, các đối
tượng rừng được phân loại dựa trên các tiêu chí như sau:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status