Đánh giá mô hình phục hồi rừng tại xã Nông Hạ - huyện Chợ Mới - tỉnh Bắc Kạn - Pdf 29



ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM LÊ THỊ THÙY ANH

Tên đề tài:
“ĐÁNH GIÁ MÔ HÌNH PHỤC HỒI RỪNG TẠI XÃ NÔNG HẠ -
HUYỆN CHỢ MỚI – TỈNH BẮC KẠN”

KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên ngành : Nông Lâm Kết Hợp
Lớp : K42 - NLKH
Khoa : Lâm nghiệp
Khoá học : 2010 – 2014
Giảng viên hướng dẫn: ThS. Nguyễn Thị Thu Hoàn
Thái Nguyên, năm 2014 LỜI CAM ĐOAN


nghiệp là điều có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với mỗi sinh viên. Công việc
này giúp sinh viên được áp dụng những kiến thức được học trong nhà trường
vào thực tế, bổ sung củng cố kiến thức của bản thân, tích luỹ được nhiều kinh
nghiệm quý báu phục vụ cho công việc chuyên môn sau này.
Được sự đồng ý của Ban Giám hiệu trường Đại học Nông Lâm Thái
Nguyên, Ban Chủ nhiệm khoa Lâm nghiệp và giáo viên hướng dẫn. Tôi đã
tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá mô hình phục hồi rừng tại xã Nông
Hạ, huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn”.
Kết quả đề tài là sự nỗ lực của bản thân và sự giúp đỡ của các tổ chức, cá
nhân trong và ngoài nhà trường. Nhân dịp này tôi xin bày tỏ sự cảm ơn sâu sắc
tới UBND xã và toàn thể nhân dân xã Nông Hạ đã tạo mọi điều kiện cho tôi thu
thập thông tin liên quan đến vấn đề nghiên cứu, sự đóng góp ý kiến của thầy cô,
bạn bè về kiến thức và tinh thần đã giúp tôi hoàn thành đề tài.
Đặc biệt tôi xin chân thành cảm ơn cô giáo ThS. Nguyễn Thị Thu Hoàn
đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo giúp đỡ tôi trong suốt quá trình làm đề tài.
Do trình độ bản thân còn hạn chế và địa bàn nghiên cứu rộng, giao
thông đi lại gặp khó khăn nên đề tài vẫn không tránh khỏi những thiếu sót
nhất định. Tôi rất mong nhận được sự đóng góp của các thầy cô giáo và các
bạn để đề tài được hoàn thiện hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn !
Thái Nguyên, tháng 05 năm 2014
Sinh viên

Lê Thị Thuỳ Anh MỤC LỤC

Phần 1: MỞ ĐẦU 1
1.1. Đặt vấn đề. 1

2.2.3.4. Văn hóa 21
2.2.3.5. Thương mại, dịch vụ 22
2.2.3.6. Thành phần dân tộc, dân số 22
2.2.3.7. Thực trạng phát triển các khu dân cư 22
Phần 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24
3.1. Đối tượng nghiên cứu. 24
3.2. Nội dung nghiên cứu. 24
3.2.1. Đặc điểm khái quát, vị trí các điểm áp dụng phục hồi rừng. 24
3.2.2. Đánh giá mô hình phục hồi rừng. 24
3.2.3. Đề xuất các giải pháp quản lý, tác động nâng cao hiệu quả của các biện pháp
lâm sinh được tác động 24
3.3. Phương pháp nghiên cứu. 24
3.3.1. Phương pháp kế thừa số liệu 24
3.3.2 Phương pháp điều tra cây tái sinh 25
3.3.3. Đánh giá các cây trồng bổ sung trong mô hình phục hồi rừng 26
3.3.4. Phương pháp xử lý số liệu 26
Phần 4: PHÂN TÍCH KẾT QUẢ 29
4.1. Đặc điểm chủ yếu của thảm thực vật tại khu vực nghiên cứu 29
4.2. Khái quát vị trí, đặc điểm lập địa mô hình áp dụng biện pháp phục hồi rừng 30
4.3. Đặc điểm tái sinh tự nhiên ở một số điểm áp dụng giải pháp phục hồi rừng 35
4.3.1. Đặc điểm cấu trúc tổ thành cây tái sinh 35
4.3.2. Chất lượng và nguồn gốc cây tái sinh. 37
4.3.3. Đánh giá tình hình tái sinh sinh trưởng của cây tái sinh theo cấp chiều cao. . 39 4.4. Kết quả theo dõi sinh trưởng của cây tái sinh mục đích và cây trồng bổ sung ở
các mô hình. 43
4.4.1. Tình hình sinh trưởng của cây tái sinh mục đích để lại trong mô hình. 43
4.4.2. Đánh giá tỷ lệ sống và tình hình sinh trưởng của cây trồng bổ sung. 44
4.4.3. Đánh giá tình hình tăng trưởng và phẩm chất cây qua các giai đoạn. 46

Bảng 4.10. Khái quát tình hình sinh trưởng của cây tái sinh theo cấp chiều cao
60
Bảng 4.11. Tăng trưởng của cây trồng bổ sung trong OTC 61

Bảng 4.12. Tăng trưởng cây tái sinh mục đích ở mô hình 1 64

Bảng 4.13. Tăng trưởng cây tái sinh mục đích ở mô hình 2 68
DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 4.1.Đo Hvn cây tái sinh 41

Hình 4.2 Phát dọn cây bụi, dây leo 41

Hình 4.3 Một số cây tái sinh mục đích 42

Hình 4.4. Đo đường kính gốc 49

Hình 4.5. Đo đường kính tán 49

Hình 4.6. Đo chiều cao 50

Hình 4.7. Cây lát 50 DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

PTNT : Phát triển nông thôn

MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề.
Rừng là tài nguyên vô cùng quý giá, có ý nghĩa to lớn đối với môi
trường cũng như đời sống con người. Đó là một thành phần của môi trường
địa lý tham gia vào vòng tuần hoàn vật chất sinh địa - hoá toàn hành tinh, là
nguồn tài nguyên thiên nhiên quý giá và đa dạng, bảo đảm cho nhu cầu nhiều
mặt của con người. Ngày nay, do dân số tăng nhanh, nhu cầu về tài nguyên
ngày càng lớn nên đã gây sức ép đối với các loại tài nguyên nói chung và tài
nguyên rừng nói riêng. Tài nguyên rừng đã và đang được sử dụng ngày càng
nhiều để đáp ứng các nhu cầu ngày càng tăng cao về lương thực, thực phẩm,
gỗ củi và các nguyên liệu khác cho sự phát triển kinh tế, xã hội của con
người. Bởi vậy, để đáp ứng những nhu cầu của hiện tại của con người tài
nguyên rừng đang bị suy giảm một cách nghiêm trọng về cả số lượng và chất
lượng. Theo số liệu công bố của tổ chức IUCN, UNDF và FFW trung bình
mỗi năm trên thế giới mất đi khoảng 20 triệu ha rừng, trong đó rừng bị mất do
đốt phá làm nương rẫy chiếm 50%, cháy rừng chiếm 23%, do khai thác 5-7%
còn lại là do các nguyên nhân khác [19]. Như vậy theo thống kê trên thấy
rằng tỷ lệ rừng mất đi do làm nương rẫy là lớn nhất chiếm tỷ lệ 50% trong
tổng số các nguyên nhân làm suy thoái rừng. Ở Việt Nam cũng không ngoại
lệ, nguyên nhân mất rừng chủ yếu cũng là do làm nương rẫy, rừng nước ta tập
trung chủ yếu ở các khu vực vùng núi cao, nơi trình độ dân trí còn thấp người
dân sống chủ yếu phụ thuộc vào tài nguyên rừng nhưng ý thức bảo vệ, giữ gìn
bảo tồn nguồn tài nguyên chưa cao.
Ngày nay, với tầm quan trọng của rừng đối với sự sống trên trái đất và
hiện trạng rừng đang bị suy giảm một cách nghiêm trọng thì “phục hồi rừng”
đang là một vấn đề được rất nhiều người quan tâm, đề cập đến trên toàn thế giới. 2


1.4.2. Ý nghĩa thực tiễn
Phục hồi rừng để bảo vệ nguồn gen duy trì tính đa dạng sinh học và
cân bằng sinh thái trong vùng là hết sức cần thiết, do đó kết quả của nghiên
cứu này sẽ góp phần làm sáng tỏ đặc điểm sinh thái và khả năng phục hồi
rừng tại địa điểm nghiên cứu.

4

Phần 2
TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

2.1. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
2.1.1. Khái niệm về tái sinh, phục hồi rừng
2.1.1.1. Tái sinh rừng
Theo Phùng Ngọc Lan (1986), cho rằng: Tái sinh rừng được coi là một
quá trình sinh học mang tính đặc thù của hệ sinh thái rừng. Biểu hiện đặc
trưng của tái sinh rừng là sự xuất hiện của một thế hệ cây con của những loài
cây gỗ ở những nơi có hoàn cảnh rừng. Theo ông vai trò lịch sử của thế hệ
cây con là thay thế thế hệ cây gỗ già cỗi. Vì vậy, tái sinh rừng được hiểu theo
nghĩa hẹp là quá trình phục hồi thành phần cơ bản của rừng chủ yếu là tầng
cây gỗ. Ông cũng khẳng định tái sinh rừng được hiểu theo nghĩa rộng là sự tái
sinh của một thế hệ rừng [8].
Đứng trên quan điểm triết học, tái sinh rừng là một quá trình phủ định
biện chứng: rừng non thay thế rừng già trên cơ sở được thừa hưởng hoàn cảnh
thuận lợi do thế hệ rừng ban đầu tạo nên. Dứng trên quan điểm chính trị kinh
tế học tái sinh rừng là quá trình tái sản xuất mở rộng tài nguyên rừng . Đương
nhiên điều kiện này chỉ có thể trở thành hiện thực khi ta nắm chắc được các

Giải pháp
Tiêu chí
Gỗ lớn Gỗ nhỏ
Rừng trồng, rừng tự nhiên tương đối đều tuổi sau khép tán. Rừng
phục hồi trên đất nương rẫy. Rừng hỗn loài tự nhiên không đều
tuổi sau khai thác chọn không đúng kỹ thuật.
Cây cao phẩm
chất tốt (cây/ha)
Cây tái sinh có
triển vọng
(cây/ha)
Cây cao phẩm
chất tốt
(cây/ha)
Cây tái sinh có
triển vọng
(cây/ha)
Nuôi dưỡng
rừng
≥ 150-200 ≥ 500-600 ≥ 500-600 ≥ 1000-1200 6

Làm giàu
rừng
Không có triển vọng xúc tiến tái sinh thành công
<150 <500 <500 <1000
Xúc tiến tái
sinh

Đ
ất lâm nghiệp chưa có rừng ,đất rừng sau khai thác trắng. Rừng đã
áp d
ụng các biện pháp kỹ thuật trên nhưng không thành công. 2.1.2. Các nghiên cứu về phục hồi rừng trên thế giới

Lịch sử nghiên cứu tái sinh rừng trên thế giới đã trải qua hàng trăm năm
nhưng với rừng nhiệt đới vấn đề này được tiến hành chủ yếu từ những năm 30
của thế kỷ trước trở lại đây. Do sự phát triển của nền công nghiệp ở thế kỷ 19,
trong lâm nghiệp đã hình thành xu hướng thay thế rừng tự nhiên thành rừng
trồng nhân tạo cho năng suất cao nhằm đáp ứng nhu cầu gỗ cho nguyên liệu
công nghiệp và cuộc sống. Nhưng sau thất bại trong tái sinh nhân tạo ở Đức 7

và một số nước vùng nhiệt đới, nhiều nhà khoa học đã nêu khẩu hiệu “Hãy
quay lại với tái sinh tự nhiên”. Kết quả nghiên cứu của các công trình nghiên
cứu về tái sinh rừng tự nhiên trên thế giới được tóm tắt như sau:
Tái sinh tự nhiên của thảm thực vật sau nương rẫy được một số tác giả
nghiên cứu. Saldarriaga (1991) nghiên cứu tại rừng nhiệt đới ở Colombia và
Venezuela nhận xét: Sau khi bỏ hoá, số lượng loài thực vật tăng dần từ ban đầu
đến rừng thành thục. Thành phần của các loài cây trưởng thành phụ thuộc vào tỷ
lệ các loài nguyên thuỷ mà nó được sống sót từ thời gian đầu của quá trình tái
sinh, thời gian phục hồi khác nhau phụ thuộc vào mức độ, tần số canh tác của
khu vực đó (Phạm Hồng Ban, 2000) [5].
Van steens (1956) đã nghiên cứu hai đặc điểm tái sinh phổ biến ở rừng
mưa nhiệt đới: Tái sinh phân tán liên tục của loài cây chịu bóng và tái sinh vệt

ảnh hưởng này thường không rõ ràng và thảm cỏ, cây bụi có ảnh hưởng
đến sinh trưởng của cây tái sinh. Ở những quần thụ kín tán, thảm cỏ và cây
bụi kém phát triển nhưng chúng vẫn có ảnh hưởng đến cây tái sinh. Nhìn
chung ở rừng nhiệt đới, tổ thành và mật độ cây tái sinh thường khá lớn
nhưng số lượng loài cây có giá trị kinh tế thường không nhiều và được chú
ý hơn, còn các loài cây có giá trị kinh tế thấp thường ít được nghiên cứu,
đặc biệt là đối với tái sinh ở các trạng thái rừng phục hồi sau nương rẫy [6].
Lamprecht H.(1969) căn cứ vào nhu cầu ánh sáng của các loài cây
trong suốt quá trình sinh sống để phân chia cây rừng nhiệt đới thành các nhóm
cây ưa sáng, nhóm cây bán chịu bóng và nhóm cây chịu bóng [17].
2.1.3. Các nghiên cứu về phục hồi rừng ở Việt Nam
2.1.3.1. Các nghiên cứu về giải pháp phục hồi
Trước tình trạng diễn biến tài nguyên rừng từ những năm đầu tiên của
thập kỷ 70, Tổng cục Lâm nghiệp đã ban hành một qui trình kỹ thuật rất nổi
tiếng lúc đó là qui trình “Tu bổ rừng”. Đây là một giải pháp lâm sinh học
được xây dựng dựa trên cơ sở tổng kết những kinh nghiệm phục hồi rừng sau 9

khai thác ở các Lâm trường quốc doanh phía Bắc. Bởi vậy, tu bổ rừng lúc đó
được đánh giá là giải pháp kỹ thuật có tính “thực tiễn” cao.
Đối tượng tác động là rừng thứ sinh nghèo. Đây là đối tượng được hình
thành bởi nhiều nguyên nhân khác nhau nhưng tu bổ rừng nhấn mạnh vào đối
tượng rừng tự nhiên sau khai thác chọn thô. Tu bổ rừng phải là một hệ thống
các biện pháp kỹ thuật bởi vì rừng sau khai thác chọn ở cường độ cao bị xáo
trộn, quá trình phục hồi lại phải trải qua những giai đoạn với những biến đổi
phức tạp về thành phần loài cây, hình thức tái sinh…. Do vậy, sẽ không có
một biện pháp kỹ thuật lâm sinh đơn lẻ nào đáp ứng được tính phức tạp của
quá trình phục hồi đó. Hơn nữa, quá trình phục hồi rừng chịu sự chi phối tổng

- Tiêu chuẩn về điều kiện kinh tế - xã hôi
Trong ba tiêu chuẩn này, tiêu chuẩn về kinh tế - xã hội là tiêu chuẩn
khó xác định nhất. Phục hồi rừng bằng khoanh nuôi là một biện pháp ít chi
phí nhưng mang lại lợi ích kinh tế và lợi ích sinh thái cao, đặc biệt là phục hồi
tính đa dạng sinh học của rừng. Đây là biện pháp áp dụng cho những nơi
không có điều kiện áp dụng các giải pháp kỹ thuật, cho những nơi có địa hình
khó khăn, những nơi không có kinh phí đầu tư để phục hồi rừng… Tuy nhiên,
nhược điểm của giải pháp này là thời gian cho khoanh nuôi phục hồi rừng nên
là bao nhiêu và nếu qua khoảng thời gian nhất định rừng không phục hồi được
theo ý muốn sẽ sử lý như thế nào ?.
“Phục hồi rừng bằng khoanh nuôi xúc tiến tái sinh kết hợp trồng bổ
sung” là tên gọi đầy đủ cho một giải pháp tổng hợp về kỹ thuật kinh tế xã hội
mới được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành (QNP 21-98) [2].
Điều 2 của qui phạm này định nghĩa “khoanh nuôi xúc tiến tái sinh kết hợp
trồng bổ sung trong qui phạm này được hiểu là một giải pháp lợi dụng triệt để
khả năng tái sinh, diễn thế tự nhiên để phục hồi rừng thông qua các biện pháp
bảo vệ, biện pháp kỹ thuật lâm sinh và trồng bổ sung cần thiết”. 11

Đối tượng áp dụng của giải pháp này là đất lâm nghiệp đã mất rừng.
Quá trình tái sinh ở đây là “bằng mọi cách để thu được tái sinh”. Như ta đã
biết tái sinh luôn là một mắt xích quan trọng, một khâu chủ yếu nhất trong các
phương pháp lâm sinh. Việc xúc tiến tái sinh ở đây bao gồm cả hai, xúc tiến
tái sinh tự nhiên và tái sinh nhân tạo (trồng bổ sung). Như vậy, QNP 21-98 [2]
đã khắc phục được nhược điểm của qui phạm tạm thời 1998 và QNP 14- 92
[1]. Trong quy phạm trước đây, khoanh nuôi phục hồi rừng được hiểu theo
nghĩa thụ động “chỉ cần bảo vệ mà không cần có tác động kỹ thuật trực tiếp”.
Yếu tố con người ở đây chưa thể hiện rõ vai trò tích cực, nó hạn chế việc

trình lợi dụng triệt để quy luật tái sinh và diễn thế tự nhiên với sự can thiệp
hợp lý của con người nhằm thúc đẩy quá trình phục hồi lại rừng trong một
thời gian xác định theo mục đích đặt ra”. Qua cách nhìn nhận đó xác định
được đối tượng cụ thể cho khoanh nuôi phục hồi rừng. Xác định thời gian
khoanh nuôi và tiêu chuẩn cần đạt của rừng khoanh nuôi. Xác định được nội
dung công việc cần tiến hành trong quá trình khoanh nuôi ở các mức độ khác
nhau. Nghiên cứu đã xây dựng được bản quy phạm cho khoanh nuôi phục hồi
rừng và xây dựng được danh lục sơ bộ gồm 155 loài cây bản địa có thể sử
dụng cho việc khoanh nuôi và phục hồi rừng. Đây là công trình đầu tiên ở
việt nam đề cập một cách hệ thống từ cơ sở khoa học đến quy phạm khoanh
nuôi phục hồi rừng ở Việt nam. Nghiên cứu này mới chỉ dừng lại ở việc xây
dựng quy phạm chưa xây dựng được quy trình khoanh nuôi cụ thể cho từng vùng
và từng loại hình rừng cụ thể.
Cùng với sức ép ngày một bức bách của yêu cầu và thực tiễn sản xuất
các kết quả của sự chuyển hướng đó là những tiền đề quan trọng cho sự đổi
mới của vấn đề tái sinh phục hồi rừng. Đầu những năm 90, kết quả của sự
chuyển hướng đã được pháp lý hoá thông qua 3 tiêu chuẩn ngành thể hiện sự
đổi mới của vấn đề này.
Các tiêu chuẩn đó là: 13

- Quy phạm các giải pháp kỹ thuật Lâm sinh áp dụng cho rừng sản xuất
gỗ và tre nứa [1].
- Quy phạm phục hồi rừng bằng khoanh nuôi xúc tiến tái sinh kết hợp
trồng bổ sung [2].
- Quy định tạm thời nghiệm thu khoán bảo vệ rừng, khoanh nuôi, xúc
tiến tái sinh kết hợp trồng bổ sung, trồng rừng và chăm sóc trồng rừng [3].
Sự đổi mới ấy vừa khẳng định tầm quan trọng và chỗ đứng không thể

nhiệt đới rất phức tạp và khó khăn.
Lê Đồng Tấn (1993 - 1999) [11], nghiên cứu quá trình phục hồi tự
nhiên một số quần xã thực vật sau nương rẫy tại Sơn La theo phương pháp
kết hợp điều tra ô tiêu chuẩn 400m
2

cho các đối tượng là thảm thực vật phục
hồi sau nương rẫy và theo dõi ô định vị 2000m
2
. Tác giả kết luận: Mật độ
cây tái sinh giảm dần từ chân đồi lên đỉnh đồi. Tổ hợp loài cây ưu thế trên
ba vị trí địa hình và 3 cấp độ dốc là giống nhau. Sự khác nhau chính là hệ số
tổ thành các loài trong tổ hợp đó.
Nguyễn Văn Thông (2000) [14], đưa ra kết quả phục hồi rừng tự nhiên
tại trung tâm nghiên cứu thực nghiệm lâm sinh Cầu Hai - Phú thọ. Qua đó
tác giả đã đưa ra được ưu nhược điểm của các biện pháp kỹ thuật phục
hồi rừng được áp dụng ở trung tâm từ những năm 1960 tới nay. Tác giả kết
luận có thể sử dụng cả 3 biện pháp: Cải tạo rừng, làm giàu và khoanh nuôi
rừng để phục hồi rừng tự nhiên. Biện pháp làm giàu rừng và cải tạo rừng giải
quyết được vấn đề về mật độ và tổ thành. Tuy nhiên, nó lại có một số hạn chế
là làm thay đổi khá lớn và lâu phục hồi lại hoàn cảnh rừng cũng như lâu phục
hồi khả phòng hộ và khả năng cải thiện môi trường, đầu tư tốn kém, kỹ thuật
gây trồng phức tạp. Khi thất bại do chọn loài cây, biện pháp gây trồng không
hợp lý thì hậu quả sẽ rất lớn. Biện pháp khoanh nuôi rừng có ưu điểm là chi
phí đầu tư thấp, triển vọng thành rừng cao, nhanh phát huy tác dụng mọi mặt
của rừng nhưng có nhược điểm chỉ thực hiện ở các diện tích rừng có số 15

16

2.2. Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội khu vực nghiên cứu
2.2.1. Điều kiện tự nhiên
2.2.1.1. Vị trí địa lý
Xã có diện tích tự nhiên 5.820,2 ha, có ranh giới hành chính như sau:
- Phía Đông giáp xã Yên Hân, Yên Cư và Bình Văn;
- Phía Tây giáp xã Tân Thịnh thuộc tỉnh Thái Nguyên;
- Phía Nam giáp xã Nông Thịnh, Thanh Bình, Như Cố và tỉnh Thái Nguyên.
- Phía Bắc giáp xã Thanh Mai, Cao Kỳ.
Mối liên hệ vùng: xã nằm ở phía Bắc của huyện chợ Mới, cách trung
tâm huyện khoảng 12km, cách thị xã Bắc Kạn khoảng 26km, có đường Quốc
lộ 3 chạy qua, đây là tuyến đường giao thông quan trọng, tạo điều kiện thuận
lợi trong việc lưu thông với trung tâm huyện, thị xã Bắc Kạn và tỉnh Thái
Nguyên, thúc đẩy phát triển kinh tế. Ngoài ra, còn một số tuyến đường như
đường Tỉnh lộ đi xã Thanh Mai và các đường liên xã khác cũng tạo điều kiện
thuận lợi để xã giao lưu, thúc đẩy phát triển kinh tế với các xã lân cận.
2.2.1.2. Địa hình
Địa hình chủ yếu là đồi núi cao, dốc, có nhiều khe, suối lớn nhỏ, chia
cắt phức tạp tạo thành những thung lũng bằng phẳng và được chia cắt bởi hai
vùng riêng biệt bởi sông Cầu.
Độ cao trung bình từ 400 – 600m (cao nhất là đỉnh núi Mu Tà cao
981,1m, điểm thấp nhất là thôn Nà Bản 96,8m) độ dốc trung bình 25° - 35°.
2.2.1.3. Địa chất và thổ nhưỡng
* Địa chất
Đất trên địa bàn xã Nông Hạ được hình thành chủ yếu do sự phong hóa
trực tiếp của đá mẹ và một phần do sự bồi tụ phù sa từ các hệ thống sông suối.
* Thổ nhưỡng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status