nghiên cứu thực trạng và giải pháp trong giao đất rừng đến các hộ dân tại xã thanh vận, huyện chợ mới, tỉnh bắc kạn” - Pdf 21

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NGUYỄN HUY TRUNG
NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
TRONG GIAO ĐẤT RỪNG ĐẾN CÁC HỘ DÂN TẠI
XÃ THANH VẬN, HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH BẮC KẠN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
Thái Nguyên, năm 2013
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NGUYỄN HUY TRUNG
NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
TRONG GIAO ĐẤT RỪNG ĐẾN CÁC HỘ DÂN TẠI
XÃ THANH VẬN, HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH BẮC KẠN
Chuyên ngành: Quản lý đất đai
Mã số: 60 85 01 03
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP
Hướng dẫn khoa học: TS. Trần Văn Điền
Thái Nguyên, năm 2013
i
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành được bản luận văn này, trước hết tôi xin chân thành cảm ơn
TS.Trần Văn Điền đã trực tiếp hướng dẫn tôi trong suốt thời gian thực hiện đề tài.
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn sự góp ý chân thành của các thầy, cô giáo khoa
Tài nguyên và Môi trường, phòng Quản lý Đào tạo Sau Đại học - Trường Đại học
Nông Lâm Thái Nguyên đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi thực hiện đề tài.
Tôi xin chân thành cảm ơn UBND xã Thanh Vận, UBND huyện Chợ Mới,
tỉnh Bắc Kạn đã giúp đỡ tôi trong thời gian nghiên cứu và thực hiện đề tài.
Một lần nữa tôi xin trân trọng cảm ơn!
Tác giả luận văn
Nguyễn Huy Trung

DANH MỤC CÁC BẢNG
TÊN BẢNG TRANG
2. MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI 2
3. Ý NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI 2
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 65
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 65
vi
DANH MỤC CÁC HÌNH
TÊN HÌNH TRANG
2. MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI 2
3. Ý NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI 2
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 65
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 65
1
MỞ ĐẦU
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Với 24 triệu dân sống ở nông thôn miền núi trên tổng số gần 60 triệu dân
vùng nông thôn Việt Nam, sự phát triển kinh tế xã hội và bảo vệ môi trường ở
khu vực này là vấn đề sống còn trong phát triển nông thôn Việt Nam. Phần lớn
nông dân miền núi sống dựa vào rừng và các hoạt động lâm nghiệp liên quan. Vì
vậy, đất lâm nghiệp, với tư cách là một tư liệu sản xuất có vai trò rất quan trọng
đối với vấn đề xoá đói, giảm nghèo, sự thịnh vượng cũng như sự năng động về
kinh tế của nông thôn miền núi. Các hoạt động kinh tế nông thôn miền núi còn
có tác động không nhỏ đến hoạt động sản xuất và sinh hoạt ở đồng bằng ven
biển thể hiện ở khía cạnh bổ trợ cho sản xuất (nước tưới), giảm nhẹ thiên tai như
lũ lụt và hạn hán.
Nhận thức được tầm quan trọng của đất lâm nghiệp đối với người dân miền
núi, từ năm 1994, Nhà nước đã bắt đầu triển khai chính sách giao đất lâm nghiệp
để sử dụng lâu dài cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân, chính sách này nhằm thu hút
người dân tham gia vào việc quản lí, bảo vệ và phát triển rừng, gắn chặt lợi ích

- Thuận lợi, khó khăn và đề xuất một số giải pháp trong tiến trình GĐR đến
các hộ gia đình.
3. Ý NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI
3.1. Ý nghĩa khoa học
Kết quả nghiên cứu là tài liệu tham khảo cần thiết giúp cho cán bộ khoa
học, các sinh viên có cách nhìn nhận vấn đề giao giao đất giao rừng tại các địa
phương miền núi một cách tổng quát hơn.
3.2. Ý nghĩa thực tiễn
- Kết quả nghiên cứu là cơ sở khoa học cho chính quyền địa phương, người
dân tham khảo trong xây dựng kế hoạch, giám sát và đánh giá việc GĐR có tính
thực tế và hiệu quả hơn.
- Những đề xuất từ nghiên cứu này, cũng sẽ là tài liệu tham khảo cho các
đơn vị, địa phương đang và sẽ thực hiện quá trình GĐR có những nhìn nhận kỹ
lưỡng và đề xuất tới các phía liên quan trong khi giao và nhận những thay đổi
cần thiết, để tránh được những thiếu sót, bất cập và đạt mục tiêu quản lý sử dụng
tài nguyên rừng hiệu quả, bền vững.
3
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
1.1. CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1.1. Các khái niệm liên quan
Đất: là sản phẩm của tự nhiên, được tạo thành do quá trình tổng hợp của đá
mẹ, khí hậu, sinh vật, địa hình và thời gian. Đất đai xuất hiện tồn tại, phát triển
ngoài ý chí và nhận thức của con người, luôn vận động theo những quy luật tự
nhiên khách quan mà con người không thể khống chế được như quá trình phong
hoá đá tạo thành đất, khoáng hoá làm suy thoái đất. . . .Sự tác động của con
người ở mức độ nào đó chỉ có thể làm thay đổi tốc độ quá trình trên mà thôi [12].
Đất lâm nghiệp: là đất đang dùng chủ yếu vào sản xuất hoặc nghiên cứu
thí nghiệm về lâm nghiệp, gồm đất có rừng tự nhiên, đất có rừng trồng, đất được
quy hoạch để trồng rừng và đất được quy hoạch để trồng rừng và đất ươm cây

+ Đáp ứng nhu cầu hiện tại mà không hủy hoại tiềm năng trong tương lai
+ Tăng cường sức sản xuất trên đầu người
+ Duy trì, tăng cường chất lượng môi trường
+ Phục hồi sức sản xuất và khả năng điều hòa môi trường của các hệ sinh
thái bị suy thoái và nghèo nàn.
Ngày nay, sử dụng đất bền vững, tiết kiệm và có hiệu quả đã trở thành
chiến lược quan trọng có tính toàn cầu.
•Sử dụng đất lâm nghiệp bền vững
Sử dụng đất lâm nghiệp được coi là bền vững thì phải sử dụng một cách
toàn diện coi trọng ba khâu: Trồng, bảo vệ và khai thác hợp lý, tốc độ khai thác
không được lớn hơn tốc độ phục hồi. Phát triển lâm nghiệp phải lấy rừng giữ
rừng, lấy rừng phát triển rừng, lấy rừng cải thiện đời sống người dân và phải gắn
với các mục tiêu kinh tế - xã hội [19].
Độ che phủ: Là tỷ lệ diện tích rừng trên một đơn vị diện tích hay lãnh thổ.
Độ che phủ phản ánh việc sử dụng đất lâm nghiệp có hợp lý hay khôn
Đất lâm nghiệp được coi là bền vững thì độ che phủ của rừng tự nhiên phải
đạt mức tối thiểu là 30%.
1.2. TỔNG QUAN VỀ CHÍNH SÁCH GIAO ĐẤT, GIAO RỪNG
Chủ trương giao đất, giao rừng của Đảng đã hình thành từ rất sớm. Ngay
từ năm 1983, Ban Bí thư (Khoá V) đã có Chỉ thị 29-CT/TW ngày 12/11/1983
về việc đẩy mạnh giao đất, giao rừng. Chỉ thị nhấn mạnh, ‘làm cho mỗi khu
đất, mỗi cánh rừng, mỗi quả đồi đều có người làm chủ’. Trong những năm qua,
Đảng và Nhà nước đã có nhiều chính sách nhằm thực hiện chủ trương này và đã
đạt được những thành tựu rất đáng kể, nhất là trong lĩnh vực giao đất và rừng
sản xuất. Nhiều hộ, nhiều cộng đồng đã được nhận đất, nhận rừng và đã tích cực
đầu tư để phát triển sản xuất. Do vậy, ở nhiều nơi công tác quản lý và bảo vệ
rừng đã có những chuyển biến tích cực, tài nguyên rừng phát triển tốt hơn và
5
đời sống của người dân cũng được cải thiện sau khi nhận rừng. Có thể nói giao
đất, giao rừng là một chủ trương rất đúng đắn của Đảng và Nhà nước, nhờ đó

- Nghị định số 135/2005/NĐ-CP ngày 08 tháng 11 năm 2005 của Chính
phủ về việc giao khoán đất nông nghiệp, đất rừng sản xuất và đất có mặt nước
nuôi trồng thủy sản trong các nông trường quốc doanh, lâm trường quốc doanh.
6
- Nghị định số 23/2006/NĐ-CP ngày 03/3/2006 của Chính phủ về việc
hướng dẫn thi hành Luật Bảo vệ và phát triển rừng.
- Quyết định số 186/2006/QĐ-TTg ngày 14/8/2006 của Thủ tướng Chính
phủ về việc ban hành Quy chế quản lý rừng.
- Quyết định số 1970/BNN-KL ngày 06/7/2006 của Bộ NN&PTNT về việc
công bố hiện trạng rừng toàn quốc năm 2005.
- Quyết định số 100/2007/QĐ-TTg ngày 6/7/2007 của Thủ tướng Chính
phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Quyết định 661/QĐ-TTg ngày 29/7/1998
về mục tiêu, nhiệm vụ, chính sách và tổ chức thực hiện dự án trồng mới 5 triệu
ha rừng.
- Quyết định số 18/2007/QĐ-TTg ngày 05/02/2007 của Thủ tướng Chính
phủ phê duyệt Chiến lược phát triển lâm nghiệp Việt Nam giai đoạn 2006- 2020.
- Thông tư số 38/2007/TT-BNN ngày 25/4/2007 của Bộ NN&PTNT về
Hướng dẫn trình tự, thủ tục giao rừng, cho thuê rừng, thu hồi rừng cho tổ chức,
hộ gia đình, cá nhân và cộng đồng dân cư thôn.
- Thông tư Liên tịch số 07/2011/TTLT-BNNPTNT-BTNMT của Bộ
NN&PTNT và Bộ TNMT, ngày 29/01/2011Về hướng dẫn một số nội dung về
giao rừng, thuê rừng gắn liền với giao đất, thuê đất lâm nghiệp.
1.2.2. Những tác động tích cực của chính sách quản lý đất lâm nghiệp
- Giao đất lâm nghiệp và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm
nghiệp đến hộ gia đình, cá nhân đã tạo được tâm lý phấn khởi vì có được một
tài sản và nguồn lực đầu tiên để các hộ gia đình có điều kiện sử dụng lao động
của hộ gia đình tham gia quản lý, bảo vệ, phát triển rừng [6].
Điều này, chứng tỏ nhân dân miền núi rất thiết tha với đất đai, rất cần đất
đai để sản xuất, rất cần quyền sử dụng đất đai ổn định. Đến nay, cần phá bỏ tư
duy cho rằng nông dân miền núi không tha thiết sổ đỏ đất lâm nghiệp, và cần

thiểu số nghèo, đời sống khó khăn có tác động giảm bớt khó khăn nhất thời
cho các hộ gia đình nghèo là đồng bào dân tộc.
Thực trạng thiếu đất ở, đất sản xuất, nhà cửa tạm bợ ở một bộ phận đồng
bào dân tộc thiểu số là một thực tế đã có ảnh hưởng không tốt về an ninh và xã
hội. Chính phủ đã ban hành quyết định số 134/2004/QĐ-TTg qui định các
chính sách để giải quyết tình trạng trên.
Đây là những chính sách rất hợp tình, hợp lý, có tác động trực tiếp đến
rừng và các hoạt động lâm nghiệp và thường do các cơ quan lâm nghiệp thực
hiện.
1.2.3. Tác động chưa tích cực của chính sách quản lý đất lâm nghiệp và rừng
- Chính sách GĐR mới cung cấp nguồn lực, nhưng chưa tạo được động
lực đủ mạnh để đẩy mạnh trồng rừng và quản lý rừng bền vững. Bởi vì động
lực để phát triển lâm nghiệp bền vững sau khi nhận được quyền sử dụng đất đai
ổn định thường được tạo ra từ các yếu tố [6,7]:
+ Quyền sở hữu đất đai của nhà nước và quyền sử dụng đất đai của
người sử dụng đất phải được qui định cụ thể rõ ràng;
8
+ Các hộ gia đình cần được hỗ trợ, bổ sung thêm các nguồn lực khác
ngoài đất đai và rừng, nhất là vốn và kỹ thuật;
+ Thị trường lâm sản và dịch vụ lâm nghiệp phát triển;
+ Kỹ thuật, kỹ năng quản lý đất đai của người có quyền sử dụng đất phải
được nâng cao.
- Công tác giao đất lâm nghiệp trước đây chủ yếu theo mục tiêu “giao
nhanh, cấp nhanh sổ đỏ đến tổ chức và hộ gia đình”, chưa gắn liền với việc thực
hiện chính sách giao đất lâm nghiệp, nhất là các chính sách hỗ trợ các nguồn
lực khác cho người sử dụng đất lâm nghiệp và chính sách xúc tiến thị trường
lâm sản và dịch vụ lâm nghiệp. Vì vậy, tuy đã giao và cấp sổ đỏ đến hộ gia
đình, nhưng nhiều chủ rừng vẫn chưa bảo vệ và phát triển được diện tích rừng
và đất lâm nghiệp được giao. Mặt khác có những trường hợp không xác định
được phạm vi ranh giới rừng và đất lâm nghiệp được giao trên thực địa, nên xảy

1.3.2. Thực trạng công tác giao rừng, cho thuê rừng
Công tác giao đất, giao rừng trong thời gian qua chủ yếu được thực hiện
theo Nghị định 02/CP ngày 15/3/1995; Nghị định 163/1999/NĐ-CP ngày
16/11/1999 của Chính phủ về giao đất, cho thuê đất lâm nghiệp cho tổ chức, hộ
gia đình và cá nhân sử dụng ổn định, lâu dài vào mục đính lâm nghiệp và Nghị
định 181/2004/NĐ-CP ngày 29 tháng 10 năm 2004 về việc hướng dẫn thi hành
Luật đất đai năm 2003. Theo số liệu thống kê, kiểm kê ban hành tại Quyết định
số 2089/QĐ-BNN-TCLN ngày 30/8/2012 của Bộ NN&PTNT, tính đến
31/12/2011 như sau:
- Tổng diện tích rừng đã giao: 11,4 triệu ha, chiếm 84,4% diện tích rừng
toàn quốc (13,5 triệu ha) và chiếm 70,3 % so với tổng diện tích đất quy
hoạch cho lâm nghiệp(16,24 triệu ha).
Tổng hợp kết quả giao rừng chia theo chủ quản lý cả nước như sau:
Bảng 1.1. Tổng hợp kết quả giao rừng chia theo chủ quản lý
TT Chủ quản lý Diện tích ( triệu ha) Tỷ lệ %
1 Doanh nghiệp Nhà nước 1,971 14,58
2 Ban quản lý rừng 4,522 33,46
3 Đơn vị vũ trang 0,265 1,96
4 Hộ gia đình, cộng đồng 3,809 28,18
5 Tổ chức kinh tế 0,143 1,06
6 Các tổ chức khác 0,7 5,18
Tổng 11,4 84,4
(Nguồn: Bộ NN&PTNT)
- Tổng diện tích rừng chưa giao hiện đang do UBND xã quản lý là 2,1 triệu
ha, chiếm 15,6 % ( Diện tích rừng do UBND xã quản lý từ 2,8 triệu ha năm 2005
xuống còn 2,1 triệu ha năm 2011).
10
a. Những mặt tích cực
Chủ trương xã hội hoá công tác bảo vệ và phát triển rừng đang được đẩy
mạnh, đây là bước chuyển biến căn bản trong công tác quản lý, bảo vệ và phát

- Nhận thức của một bộ phận cán bộ và lãnh đạo UBND các cấp về công
11
tác giao rừng còn hạn chế, chưa quán triệt đúng chủ trương về giao đất, giao
rừng của Đảng, Nhà nước, vẫn còn tư tưởng cho rằng rừng là tài nguyên quốc
gia, nếu giao rừng cho mọi thành phần kinh tế sẽ khó quản lý và mất rừng, vì
vậy có biểu hiện né tránh và ít quan tâm đến công tác này.
- Công tác giao rừng, cho thuê rừng qua các thời kỳ được thực hiện khác
nhau, không theo một hệ thống thống nhất và nhất quán. Chính sách, quy định
của Nhà nước về giao rừng, cho thuê rừng, trách nhiệm và quyền hưởng lợi của
các chủ rừng vẫn chỉ mang tính định hướng, thiếu cụ thể nên các địa phương rất
lúng túng trong triển khai thực hiện.
- Các chính sách về giao đất, cho thuê đất lâm nghiệp, sử dụng rừng, quyền
hưởng lợi còn thiếu thống nhất. Chưa xác định rõ ràng các đối tượng rừng để
giao, cho thuê rừng, thiếu các chính sách hỗ trợ các chủ rừng, đặc biệt là các
cộng đồng, hộ gia đình, cá nhân trong quản lý, kinh doanh nghề rừng.
- Công tác tổ chức triển khai thực hiện việc giao rừng, cho thuê rừng của
các ngành, các cấp chậm, kém hiệu quả. Việc cấp giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất, sử dụng rừng còn chậm và thiếu đồng bộ. Phân công, phân cấp trách
nhiệm còn chồng chéo, không rõ ràng và thiếu thống nhất. Có thời kỳ, Chính
phủ, UBND các cấp, doanh nghiệp Nhà nước đều tham gia vào việc giao rừng,
cho thuê rừng.
Năng lực về tổ chức quản lý và chuyên môn kỹ thuật của các cơ quan Nhà
nước các cấp, đặc biệt là cấp cơ sở về giao rừng, cho thuê rừng rất hạn chế. Điều
tra, quy hoạch các loại rừng và đánh giá chất lượng rừng để làm cơ sở cho việc
giao rừng, cho thuê rừng chưa đáp ứng được yêu cầu.
- Công tác phổ biến, tuyên truyền, giáo dục pháp luật và cơ chế chính sách
về lâm nghiệp còn hạn chế và chưa thực sự có hiệu quả. Người dân, nhất là ở
vùng sâu, vùng xa chưa tích cực tham gia nhận rừng, cũng như quản lý và sử
dụng có hiệu quả diện tích rừng được giao.
- Vịêc giám sát, theo dõi, đánh giá hiệu quả công tác giao rừng, cho thuê

- Các cơ quan, đơn vị tổ chức thực hiện công tác giao đất lâm nghiệp không
thống nhất, trước tháng 11/1999 do cơ quan Kiểm lâm đảm nhiệm và sau tháng
12/1999 do cơ quan Địa chính đảm nhiệm. Do thiếu nhân lực, hiểu biết và kinh
nghiệm trong lĩnh vực lâm nghiệp và sự phối kết hợp giữa ngành Nông nghiệp
và Phát triển nông thôn và Địa chính còn nhiều hạn chế, chưa thống nhất trong
cách giao, phương thức giao đất lâm nghiệp, nên từ đó đến nay công tác giao
đất, cho thuê đất lâm nghiệp gần như bị ngưng trệ. Việc cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất lâm nghiệp không đồng bộ, nhiều nơi giao đất sau 3 đến 4
năm vẫn chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và chỉ mới tập trung
cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp (chủ yếu đất chưa có rừng)
cho một số dự án của nước ngoài hỗ trợ đầu tư trồng rừng [12,6].
Nhìn chung công tác giao đất, cho thuê đất lâm nghiệp và cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất chưa gắn kết với công tác giao rừng và các cơ chế
13
hưởng lợi, chính sách hỗ trợ đi kèm. Vì vậy hiệu quả của việc sử dụng rừng và
đất rừng còn rất thấp, tài nguyên rừng vẫn bị suy giảm và đời sống của người
dân cũng không được cải thiện.
1.4. THỰC TRẠNG TRIỂN KHAI CHÍNH SÁCH GIAO ĐẤT RỪNG Ở TỈNH BẮC KẠN
Lâm nghiệp được xác định là thế mạnh của Bắc Kạn, tỉnh đã xây dựng quy
hoạch đối với lĩnh vực này từ năm 2009 (giai đoạn 2009-2015 và định hướng đến
năm 2020). Với gần 400.000ha đất lâm nghiệp, hàng năm Bắc Kạn nỗ lực phủ
xanh đất trống đồi núi trọc, tuy nhiên vấn đề quản lý, khai thác và sử dụng đất lâm
nghiệp hiện nay trên địa bàn vẫn còn những bất cập, chống chéo cần tháo gỡ nhất
là trong vấn đề quản lý, sử dụng đất ở các lâm trường quốc doanh [10].
Theo thống kê tổng diện tích đất lâm nghiệp của tỉnh Bắc Kạn là
388.000ha, trong đó rừng đặc dụng là 25.582ha, gần 95.000ha rừng phòng hộ,
còn lại là rừng sản xuất với gần 270.000ha. Hiện nay việc quản lý, sử dụng đất
lâm nghiệp được giao cho các đối tượng như: Đối với rừng đặc dụng do các Ban
quản lý bảo vệ và phát triển rừng quản lý (Kiểm lâm); rừng phòng hộ do UBND
các xã, rừng sản xuất một phần giao cho lâm trường, còn lại chủ yếu giao cho

3
/ha, doanh thu bình quân 40 triệu đồng/ha,
tạo việc làm cho công nhân và lao động địa phương. Tuy nhiên một số diện tích
đất lâm nghiệp giao cho Công ty lâm nghiệp nhưng sử dụng chưa hiệu quả, việc
đầu tư trồng rừng theo kế hoạch đạt tỷ lệ thấp, diện tích đất trống đồi trọc còn
khá cao so với diện tích được giao. Cụ thể năm 2008 Công ty được phê duyệt dự
án trồng rừng nguyên liệu với tổng diện tích 7.500ha, nhưng đến nay mới trồng
được 2.600ha, đạt trên 35%, còn gần 5.000ha trồng rừng theo quy hoạch chưa
thực hiện được [20].
Một số diện tích khi giao khoán cho các hộ dân trồng rừng nhưng chưa
quản lý chặt chẽ, dẫn đến việc sử dụng đất sai mục đích theo hợp đồng, không
trồng rừng mà tự ý san gạt sử dụng vào mục đích khác như: Sử dụng để làm nhà
ở trồng cây nông nghiệp và cây ăn quả và cho thuê lại trái quy định. Cụ thể
1.099m2 đất vườn ươm của lâm trường tại xã Ngọc Phái, huyện Chợ Đồn đã
cho Doanh nghiệp thuê. Trường hợp này, theo quy định tại Điều 38, Luật Đất
đai năm 2003 thì cần xem xét, thu hồi.
Hiện nay Công ty còn 476,71ha đất trồng rừng theo các dự án 327 và 661
không hiệu quả, nhưng đơn vị chưa chủ động phối hợp với chính quyền địa
phương khoanh định ranh giới, bàn giao mốc giới khu vực đất đã được giao để
quản lý.
Công tác quản lý của một số chính quyền các cấp chưa chặt chẽ, sự phối
hợp giữa các cơ quan chức năng trong việc kiểm tra ngăn chặn và xử lý các hành
vi vi phạm chưa kiên quyết, còn để xảy ra tình trạng sử dụng đất rừng sản xuất
để xây dựng nhà ở.
Lâm trường Bạch Thông cho các hộ gia đình công nhân của Lâm trường
mượn 2.000,0m
2
đất để làm nhà ở từ năm 1990, hiện tại các hộ gia đình này đã
xây dựng nhà ở kiên cố. Theo Quyết định số 38/QĐ-UBND ngày 09/9/1991 thì
số diện tích trên giao cho Công ty Lâm nghiệp để sử dụng vào mục đích xây

tỉnh chỉ có 40 tỷ đồng, nghĩa là thiếu trên 60 tỷ đồng. Như vậy hiện nay tiền hỗ
trợ nhân công chăm sóc rừng trồng tỉnh vẫn chưa có nguồn để trả cho dân. Vấn
đề này đang được tỉnh đề nghị Trung ương bố trí cấp bổ sung.
16
CHƯƠNG 2
ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
- Các thành phần tham gia, các bên liên quan đến quá trình GĐR và các tác
động của công tác GĐR đến người dân tại xã Thanh Vận.
- Đất lâm nghiệp và rừng tại xã Thanh Vận, huyện Chợ Mới.
2.2. PHẠM VI NGHIÊN CỨU
- Về nội dung: Thực trạng và tiến trình GĐR tại xã Thanh Vận.
- Về không gian: Tại xã Thanh Vận, huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn
- Về thời gian: từ 09/2012 đến ngày 09/2013
2.3. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
2.3.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của xã Thanh Vận
2.3.2. Thực trạng GĐR tại xã Thanh Vận
- Thực trạng GĐR đến năm 2009.
- Thực trạng GĐR giai đoạn 2010-2012.
- Thành lập bản đồ giao đất rừng xã Thanh Vận.
- Thách thức và tiềm năng sau GĐR tại xã Thanh Vận.
2.3.3. Tác động của công tác GĐR đến người dân
- Hiểu biết của người dân trong tiếp cận với rừng và đất lâm nghiệp.
- Phương thức canh tác trên đất lâm nghiệp.
- Thu nhập của người dân.
- Trao đổi kiến thức, kinh nghiệm trong cộng đồng dân cư.
- Hiệu quả của công tác GĐR trong lao động việc làm.
2.3.4. Thuận lợi, khó khăn và đề xuất một số giải pháp trong tiến trình GĐR
- Thuận lợi trong tiến trình GĐR tại xã Thanh Vận.
- Khó khăn trong tiến trình GĐR tại xã Thanh Vận.

Những vấn đề cũng như nguyện vọng của hộ dân sau khi được GĐR.
Lựa chọn đối tượng phỏng vấn: Số lượng hộ được phỏng vấn là những hộ
được GĐR và phân đều cho 10 thôn (05 hộ/ thôn). Các hộ được lựa chọn ngẫu
nhiên tại các thôn.
b.Thảo luận nhóm

Trích đoạn Hạn chế vă giải quyết mđu thuẫn TĂI LIỆU THAM KHẢO XUẤT TIẾN TRÌNH GĐR
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status