1
Phần 1
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Với sự phát triển kỳ diệu của công nghệ thông tin trong những thập kỷ
cuối cùng của thế kỷ 20 đã đặt nền móng cho sự ra đời của hệ thống thông tin
không gian. Hệ thống thông tin địa lý (Geographic Infomation System) và ảnh
viễn thám (Remote Sensing) đã mở ra nhiều hướng ứng dụng trong nhiều
ngành khoa học và quản lý. Đặc biệt đối với lĩnh vực quản lý tài nguyên rừng
và môi trường, công nghệ này hỗ trợ đắc lực cho quản lý cơ sở dữ liệu, lưu
trữ, thống nhất lưu trữ mô hình hóa và mô tả được nhiều loại dữ liệu, đặc biệt
là khả năng phân tích và liên kết dữ liệu thuộc tính với dữ liệu không gian để
lựa chọn các giải pháp quản lý, sử dụng bền vững và có hiệu quả tài nguyên.
Ngày nay, với kỹ thuật GPS và GIS, viễn thám càng ngày càng có rất
nhiều ứng dụng thực tế cụ thể trong nhiều lĩnh vực. Trong đó, không thể
không kể đến các ứng dụng của viễn thám trong nghiên cứu các lĩnh vực
thuộc Khoa Học Trái Đất, đặc biệt là Tài Nguyên Rừng. Trong lĩnh vực quản
lý rừng, công nghệ viễn thám được coi như một công cụ quan trắc hữu ích
nhằm theo dõi những biến động, thay đổi trạng thái của rừng theo thời gian,
phát hiện kịp thời những bất lợi của các hiện tượng thiên nhiên và tác động
của con người lên rừng: chặt phá, khai thác bừa bãi, phát hiện cháy rừng,
nghiên cứu tài nguyên rừng và thành lập bản đồ chuyên đề (đặc biệt là các
bản đồ hiện trạng rừng).
Trong thành lập bản đồ hiện trạng rừng, viễn thám cung cấp thông tin
bao quát trên diện rộng, chi phí lại thấp, thời gian ngắn, cập nhật thông tin
một cách nhanh nhạy, giảm bớt được một khối lượng lớn công việc mà trước
đây khi xây dựng bản đồ hiện trạng rừng phải đo đạc, quan trắc và khảo sát
thực địa nhưng kết quả lại không cao. Vì vậy việc sử dụng các thông tin viễn
thám tích hợp với hệ thống thông tin địa lý (GIS) và hệ thống định vị toàn cầu
(GPS) cùng với các quan trắc thu được từ bề mặt sẽ đáp ứng khách quan và đa
dạng các thông tin cần thiết phục vụ công tác lập bản đồ chuyên đề nghiên
rất cần thiết trong việc trồng rừng và bảo vệ rừng từ đó giúp cho việc quản lý
rừng của các cấp lãnh đạo được tốt hơn.
Do đó chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Ứng dụng GIS và viễn
thám để thành lập bản đồ hiện trạng rừng tại xã Cao Kỳ - huyện Chợ Mới -
tỉnh Bắc Kạn”.
2
2
3
1.2. Mục đích nghiên cứu
Ứng dụng công nghệ GIS và viễn thám này ta có thể thiết lập bản đồ
hiện trạng rừng phục vụ cho việc đánh giá, quy hoạch quản lý tài nguyên rừng
và làm cơ sở cho việc định hướng quản lý bền vững tài nguyên rừng một cách
phù hợp nhất.
1.3. Mục tiêu nghiên cứu
- Xây dựng được bộ khóa giải đoán ảnh spot 5 cho xã Cao Kỳ, huyện
Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn .
- Xác định được quy mô diện tích theo trạng thái rừng năm 2011.
- Xác định được quy mô diện tích theo chức năng của rừng năm 2011.
- Đưa ra được quy trình giải đoán ảnh viễn thám spot 5.
1.4. Ý nghĩa đề tài
- Đối với học tập và nghiên cứu khoa học:
+ Nâng cao khả năng khai thác các tư liệu địa lý phục vụ trong lâm
nghiệp như các loại bản đồ giấy, máy địa bàn, máy GPS cầm tay.
+ Bồi dưỡng kỹ năng sử dụng GIS cũng như kỹ năng sử dụng máy tính
trong thực tiễn.
+ Góp phần giới thiệu sơ bộ về công nghệ GIS, viễn thám và GPS cũng
như thúc đẩy việc nghiên cứu các công nghệ này trong sinh viên.
- Ý nghĩa thực tiễn:
+ Đề tài tiến hành thành lập bản đồ hiện trạng rừng đây chính là tư liệu
phục vụ cho công tác quản lý và quy hoạnh rừng.
mạnh các sóng điện từ trong vùng xanh lục. Do đó lá cây xuất hiện màu xanh
lục và chúng xanh nhất vào mùa hè khi mà lượng diệp lục trong lá cây đạt cực
đại. Vào mùa thu lượng diệp lục trong lá cây giảm vì vậy sóng điện từ trong
vùng màu đỏ ít bị hấp thụ đồng thời nó được phản xạ nhiều hơn làm cho lá
cây có màu đỏ hoặc vàng (màu vàng là màu được kết hợp giữa màu xanh lục
và màu đỏ). Thực vật phản xạ ở bước sóng 0.54 (µm) và phần hồng ngoại.
Khả năng phản xạ phổ của thực vật ở phần hồng ngoại lớn hơn rất nhiều lần
so với vùng ánh sáng nhìn thấy.
Với nước thì các sóng điện từ có bước sóng dài hơn, trong vùng sóng
nhìn thấy và hồng ngoại gần sẽ bị hấp thụ nhiều hơn so với các sóng điện từ
có bước sóng ngắn hơn. Vì vậy nước trong có màu xanh lam hoặc lam lục do
4
4
5
sự phản xạ mạnh hơn của các sóng điện từ trong vùng sóng đỏ bị hấp thụ
manh hơn vùng bước sóng màu xanh lam và xanh lục. Do đó trong vùng bước
sóng đỏ hay hồng ngoại gần, nước sẽ trông tối hơn.
Nước trong sẽ hấp thụ nhiều và phản xạ ít, do đó màu sắc của nó sẽ rất
thẫm trên ảnh.
Nước đục sẽ phản xạ mạnh hơn nước trong vì khả năng phản xạ của nó
phụ thuộc vào khả năng phản xạ của các đối tượng trong nước (ví dụ như phù
sa hoặc rong rêu). Vì trong tảo có diệp lục hấp thụ nhiều sóng điện từ vùng
màu xanh lam và đỏ nó phản xạ mạnh hơn với vùng sóng điện từ màu xanh
lục làm cho nước có màu xanh hay xanh lục hơn.
Đất phản xạ rất mạnh và khả năng phản xạ phụ thuộc vào chiều dài bước
sóng. Ngoài ra đối với đối tượng đất, mặc dù nó có thể phản xạ ở mọi bước
sóng nhưng nếu trong đất có chứa các tạp chất và nước thì khả năng phản xạ
phổ của nó sẽ thay đổi. Ví dụ trong trong đất có nước thì nó hấp thụ nhiều
năng lượng và phản xạ ít năng lượng hơn. Nếu trong đất có chứa chất phù sa
hoặc chất sắt thì nó cũng hấp phụ nhiều năng lượng và màu sắc của nó sẽ trở
- Cấp xã: 1/ 5 000 - 1/ 10 000.
- Cấp huyện: 1/ 10 000 - 1/ 25 000.
- Cấp tỉnh: 1/ 50 000 - 1/ 100 000.
- Toàn quốc: 1/ 200 000 - 1/ 1 000 000.
Nội dung cơ bản của bản đồ hiện trạng rừng bao gồm:
- Ranh giới hành chính.
- Địa hình, thủy văn, địa vật và địa danh quan trọng.
- Ranh giới các loại trạng thái rừng.
Các phương pháp thành lập bản đồ hiện trạng rừng:
Trên cơ sở các tài liệu thu thập được ta có thể chọn một phương pháp
thích hợp trong các phương pháp sau để thành lập bản đồ hiện trạng rừng:
- Thành lập bản đồ hiện trạng rừng mới trên cơ sở bản đồ hiện trạng
rừng giai đoạn trước. Bằng cách đưa bản đồ cũ ra thực địa đối soát, sau đó
chỉnh lý và xác định biến động tài nguyên rừng, khoanh vùng các loại trạng
thái rừng theo thực tế. Cuối cùng là thực hiện việc biên tập, tổng hợp nội dung
bản đồ hiện trạng rừng.
- Thành lập bản đồ hiện trạng rừng bằng phương pháp đo ảnh viễn thám.
- Thành lập bản đồ hiện trạng rừng bằng phương pháp đo vẽ trực tiếp ở
ngoài thực địa.
- Ứng dụng công nghệ bản đồ số.
6
6
7
2.1.3. Vai trò của hệ thống thông tin địa lý GIS và viễn thám trong công
tác thành lập bản đồ hiện trạng rừng
- Vai trò hệ thống thông tin địa lý GIS:
Hệ thống thông tin địa lý GIS trong quản lý tài nguyên rừng được ứng
dụng ở khía cạnh: điều tra và giám sát tài nguyên rừng, phân tích, mô hình
hóa và dự đoán nhằm hỗ trợ quá trình ra quyết định. (Jean E. McKendry and J
Ronald Eastman).
trái. Tùy theo hệ thống quét ảnh mà kích thước của hình ảnh (diện tích quét
trên mặt đất). Ví dụ với hệ thống Landsat MSS là 185 x 185km, với hệ thống
SPOT là 65 x 65km, ảnh NOAA là 2400 x 2400km… [5]
Sử dụng các giải phổ đặc biệt khác nhau để quan sát các đối tượng nên
tư liệu ảnh viễn thám có độ chính xác về những biến đổi của đối tượng thuận
tiện cho việc nghiên cứu biến đổi khí hậu, nhiệt độ của trái đất.
Tư liệu viễn thám có độ phân giải cao nên có thể sử dụng để thành lập
bản đồ từ tỷ lệ lớn (1/ 5.000 - 1/ 25.000) đến tỷ lệ trung bình (1/ 50.000 - 1/
100.000) và tỷ lệ nhỏ (1/ 250.000 - 1/ 1.000.000), nên nó không chỉ dừng lại ở
việc thành lập bản đồ hiện trạng rừng mà còn được ứng dụng trong nhiều
ngành khoa học khác như trong công tác điều tra quy hoạch rừng, khí tượng,
đánh giá tác động môi trường.
Với những đặc tính thuận lợi như trên thì tư liệu ảnh viễn thám thuận
tiện cho việc thành lập bản đồ chuyên đề nói chung và bản đồ hiện trạng rừng
nói riêng. Mặt khác tư liệu ảnh viễn thám cũng là nơi cung cấp những thay
đổi để cập nhật vào cơ sở dữ liệu địa lý quốc gia.
2.2 Tình hình nghiên cứu trên Thế Giới và trong nước
2.2.1. Tình hình nghiên cứu trên Thế Giới
Trên thế giới sự ra đời của viễn thám như một lĩnh vực khoa học có thể
coi được bắt đầu ngay từ những năm 1840 khi giám đốc đài thiên văn Pari
Arago đưa ra ý tưởng sử dụng ảnh cho mục đích điều tra địa hình. Năm 1849
Colobil Aine Laussedat một quan chức thuộc hiệp hội các kỹ sư Pháp đã khởi
động một chương trình đầy tham vọng - sử dụng ảnh để xây dựng bản đồ địa
hình. Gần mười năm sau, năm 1858 các không khí cầu được sử dụng làm
công cụ bay chụp ảnh của nhiều lĩnh vực. Sự ra đời của máy ảnh bay đánh
dấu một bước tiến quan trọng, kể từ đó chúng ta có thể chụp ảnh ở những khu
vực định trước trong điều kiện xác định. Những bức ảnh hàng không đầu tiên
được ghi nhận đã thực hiện trong chuyến bay của Wilbur Wright vào năm
1909 ở Centocelli, Italia.
8
tài nguyên chỉ thực sự bắt đầu kể từ năm 1972 khi vệ tinh landsat - 1 được
phóng lên quỹ đạo, mở đầu một chuỗi các vệ tinh landsat được phóng lên kế
tiếp nhau cho đến ngày nay sau Mỹ các nước khác cũng đã lần lượt đưa lên
quỹ đạo các vệ tinh tài nguyên của riêng mình như Pháp với vệ tinh SPORT,
9
9
10
cộng đồng Châu Âu với ERS và Envisat, Nga với Resources và Ocean, một
số các nước nhỏ như Hàn Quốc, Thái Lan , Idonesia, Malaysia, Negeria,
Trung Quốc
Kết quả theo dõi từ năm 1972 đến năm 1991, nhờ ứng dụng công nghệ
RS và GIS trong đánh giá biến động rừng và độ che phủ rừng cho thấy ở Ấn
Độ diện tích rừng là 14,12 triệu ha, giảm 2,4 triệu ha, từ kết quả đó Ấn Độ đã
xây dựng hệ thống bản đồ hiện trạng với chu kỳ 2 năm để quản lý, bảo vệ và
phát triển rừng hiệu quả.(Dutt, Udayalakshmt, 1994). [11]
Theo Devendra Kumar (2011), việc ước tính sự thay đổi về độ che phủ
rừng dựa trên dữ liệu vệ tinh có thể giúp các nhà nghiên cứu thấy rõ được khả
năng tính lũy carbon, biến đổi khí hậu, mối đe dọa đến đa dạng sinh học và
mức độ biến động rừng thông qua dữ liệu vệ tinh. Bản đồ lớp phủ rừng của
các vùng được xây dựng dựa trên ba loại nguồn dữ liệu: thu thập ý kiến
chuyên gia, dựa vào các sản phẩm viễn thám và thống kê quốc qia. [12]
Bodart et al. (2009) theo dõi sự thay đổi độ che phủ rừng nhiệt đới ở
châu Mỹ Latinh, Nam Á và Châu Phi năm 1990 - 2000 bằng cách sử dụng
ảnh vệ tinh. [10]
Hansen và defries (2004) sử dụng ảnh vệ tinh để theo dõi sự thay đổi
độ che phủ rừng trong thời gian 1982 - 1990 và cuối cùng kết luận rằng, trái
ngược với Liên Hiệp Quốc tổ chức Nông Lương (FAO) báo cáo về một sự gia
tăng toàn cầu về độ che phủ rừng. Mỹ latinh và vùng nhiệt đới Châu Á là hai
khu vực phá rừng chiếm ưu thế. Paraguay cho thấy tỉ lệ cao nhất liên quan
đến mất rừng, trong khi Indonecia đã có sự gia tăng lớn nhất trong việc phá
Giai đoạn 1970 - 1975 ảnh máy bay đã được sử dụng rộng rãi để xây
dựng các bản đồ hiện trạng, bản đồ mạng lưới vận xuất, vận chuyển cho nhiều
vùng thuộc miền Bắc (Vũ Tiến Hinh, Phạm Ngọc Giao, 1997). [3]
Kỹ thuật viễn thám đã được đưa vào sử dụng ở Việt Nam từ năm 1976
( Viện điều tra quy hoạch rừng) 7 - 1980 là mốc quan trọng để đánh dấu sự phát
triển của kỹ thuật viễn thám ở Việt Nam là sự hợp tác nhiều bên trong khuôn
khổ của Chương Trình Vũ Trụ Quốc Tế (Inter Kosmos) nhân chuyến bay vũ
trụ Xô - Việt.
Từ năm 1981 - 1983 Viện điều tra quy hoạch rừng nhận được dự án do
UNDP/FAO tài trợ và lần đầu tiên các ảnh vệ tinh lansat MSS đã được sử
dụng để thành lập bản đồ hiện trạng rừng toàn quốc và đánh giá biến động
rừng ở Việt Nam giai đoạn từ 1975 đến 1983. [9]
11
11
12
Từ năm 1991 - 1995 đã tiến hành theo dõi diễn biến tài nguyên rừng toàn
quốc và xây dựng bản đồ hiện trạng rừng. Có thể kể ra một số các tác giả sau:
Lại Huy Phương năm 1995 “Ứng dụng kỹ thuật tin học - GIS trong
điều tra quy hoạch và quản lý rừng Việt Nam”, Nguyễn Mạnh Cường năm
1995 với nghiên cứu “Xây dựng bản đồ rừng trên cơ sở ứng dụng thông tin
viễn thám”, Chu Thị Bình 2001 “Ứng dụng công nghệ tin học để khai thác
thông tin cơ bản trên tư liệu viễn thám, nhằm phục vụ việc nghiên cứu một số
đặc trưng về rừng Việt Nam” Nguyễn Ngọc Thanh, Hà Nội - 1999[6], đã
thử nghiệm sử dụng ảnh MODIS để thành lập bản đồ lớp phủ bề mặt và sử
dụng đất, bản đồ phân bố rừng và thảm thực vật tỉ lệ 1/ 500 000 vùng Tây
Nguyên và Đông Nam Bộ và một số bản đồ dẫn xuất khác.
Nguyễn Quốc Khánh (2007) Nghiên cứu ứng dụng công nghệ viễn
thám và GIS xây dựng bộ bản đồ hiện trạng tài nguyên thiên nhiên phục vụ
công tác quy hoạch bảo vệ môi trường cấp tỉnh.
Vũ Bích Ngọc (2007) Nghiên cứu sử dụng ảnh vệ tinh và công nghệ
thường nhật của ngành điều tra theo dõi diễn biến tài nguyên rừng. Các
chương trình ứng dụng GIS và viễn thám gần đây có như sau: dự án ứng dụng
viễn thám để theo dõi biến động các khu bảo tồn thiên nhiên (1991-1995).
WWF, chương trình ứng dụng GIS trong theo dõi đánh giá diễn biến tài
nguyên rừng (1991-1995, 1996-2000, 2001-2005, 2006-2010). FIPI, đem lại
nhiều kết quả khả quan.
Các chương trình nhỏ của các tổ chức trong công tác điều tra đánh giá
hiện trạng sử dụng rừng và thành lập bản đồ hiện trạng phân bố của một số
loài động vật như ở vườn quốc gia Xuân Sơn (2009), vườn quốc gia Ba Bể,
khu bảo tồn thiên nhiên Bắc Mê - Hà Giang…Ngoài ra, những nghiên cứu
của các nhà khoa học trong nước trong việc nghiên cứu ứng dụng GIS trong
lâm nghiệp thời gian gần đây như: Lại Huy Phương 1995 “Ứng dụng tin học
kỹ thuật - GIS trong điều tra quy hoạch và quản lý rừng Việt Nam”, Nguyễn
Mạnh Cường năm 1995 “Xây dựng bản đồ rừng trên cơ sở ứng dụng thông tin
viễn thám” Nguyễn Ngọc Thanh và NNK, Hà Nội 1999, đã thử nghiệm sử
dụng ảnh MODIS để thành lập bản đồ lớp phủ bề mặt và sử dụng đất, bản đồ
phân bố rừng và thảm thực vật tỉ lệ 1/ 500 000 vùng Tây Nguyên và Đông
Nam Bộ.
13
13
14
2.3. Tổng quan điều kiện TN - KT - XH khu vực nghiên cứu
2.3.1. Vị trí địa lý, địa hình
2.3.1.1. Vị trí địa lý
Cao Kỳ là một xã vùng cao nằm ở phía Bắc của huyện Chợ Mới tỉnh
Bắc Kạn, cách thị xã Bắc Kạn 20km về phía Bắc.Gồm 14 thôn bản trong đó
có 6 thôn vùng sâu xã 100% là người dân tộc gồm 4 dân tộc chính (Tày, Kinh,
Dao, Hoa).
Xã Cao Kỳ tiếp giáp với :
- Phía Bắc : giáp xã Hòa Mục, Tân Sơn.
C, nhiệt độ cao nhất là 35 - 37
0
C, nóng nhất vào
tháng 6 - 7, tổng lượng mưa bình quân là 1248mm/năm mưa tập trung vào các
tháng 6,7,8 với lượng mưa chiếm 78% tổng lượng mưa cả năm. Độ ẩm trung
bình là 80 - 85% gây nhiều khó khăn cho sản xuất nông lâm nghiệp.
2.3.2.2. Đặc điểm thủy văn
Bảng 2.1: Yếu tố khí tượng năm 2010 của xã Cao Kỳ
Tháng
Nhiệt độ
(
0
C)
Số giờ nắng
(H)
Lượng mưa
(mm)
Độ ẩm không khí
(%)
1 9 120 170.1 80
2 12 160 212 75
3 15 121 180 72
4 15 140 98.7 77
5 19 105.4 150 75
6 23 53 302.4 81.2
7 27 111 240.9 89
8 30 107 340 87
9 26 113 130 70
10 17 80 147 77
11 14.5 50.7 140 79
dịnh vụ chăm sóc sức khỏe sản sinh 168/144 người so với chỉ tiêu, cấp phát
màn theo chương trình phòng chống sốt rét toàn cầu = 25, quản lý 11 đối
tượng xã hội trong cộng đồng.
- Cho trẻ uống vitamin A đạt 100%.
- Tiêm chủng đầy đủ (08 loại vacxin) 51/ 55 trẻ = 92,7%.
- Tỉ lệ suy dinh dưỡng của trẻ em là 17,7%.
Trong năm 2011 sảy ra dịnh bệnh tay, chân, miệng có 04 trường hợp
mắc và theo dõi tại nhà không có biến chứng. Trong năm không có ngộ độc
thực phẩm xảy ra.
2.3.3.2. Giáo dục
Năm học 2010 - 2011 phát huy thành tích trong dạy và học.
16
16
17
+ Trường mầm non: tổng số giáo viên = 12 đ/c , học sinh = 143 cháu, trong
năm trường tổ chức thi giáo viên dạy giỏi cấp huyện = 5 đ/ c, cấp trường = 8 đ/ c .
+ Trường tiểu học: tổng số giáo viên = 23đ/ c, học sinh = 205 em, tỉ lệ
học sinh hoàn thành chương trình bậc tiểu học của trường đạt 100%. Trong
năm trường còn tổ chức cho các em thi vở sạch chữ đẹp cấp huyện đạt 9 em
thi học sinh giỏi cấp huyện đạt 3 em.
+ Trường trung học cơ sở: tổng số giáo viên = 19đ/ c, học sinh = 258
em. Trong năm trường còn tổ chức cho các em thi học sinh giỏi cấp huyện đạt
04 em, cấp tỉnh 01 em.
+ Tập thể: trường tiên tiến và công đoàn vững mạnh, tỷ lệ tốt nghiệp
của trường đạt 100%.
2.3.4. Công tác dân số, thành phần dân tộc
2.3.4.1. Công tác dân số
Tổng số hộ trong toàn xã năm 2011 là: 710 hộ với 2982 khẩu trong đó
(nam 1502, nữ 1478) nhân khẩu tạm vắng 103 khẩu. Trong năm ban dân số đã
tham mưu với đảng ủy, chính quyền phối hợp với các ban ngành đoàn thể
rừng đang dần dần phục hồi và phát triển, chương trình trồng rừng 147 thực
hiện đạt 124,87% kh, bảo đảm công tác tuần tra ngăn chặn khai thác trái phép
cây rừng, thu giữ 10,05 m
3
gỗ không chủ, công tác tuyên truyền luật bảo vệ
rừng được đẩy mạnh , trong năm không có vụ cháy rừng nào xảy ra. Tình
hình khai thác củi tươi trên địa bàn vẫn diễn ra thường xuyên.
2.3.5.2 Đặc điểm tài nguyên đất
- Đất ruộng: Là do tích tụ phù sa của sông Cầu và các suối, đất có tầng
phù sa dày, có màu xám đen, có hàm lượng đạm, lân, kali ở mức trung bình,
loại đất này phù hợp cho các loài cây lương thực và các loại cây hoa màu.
- Đất đồi: là đất feralit màu vàng, thành phần cơ giới thịt nhẹ đến trung
bình, nghèo dinh dưỡng và ở nơi có độ dốc tương đối lớn, loại đất này thích
hợp cho các loại cây công nghiệp lâu năm và trồng rừng.
- Tình hình sử dụng đất đai của xã: do địa hình núi dốc, đất đai chia cắt
phức tạp hình thành các tiểu khí hậu khác nhau về điều kiện tự nhiên và môi
trường tập quán sản xuất, do đó quá trình sản xuất nông lâm nghiệp gặp nhiều
khó khăn và hạn chế.
18
18
19
2.3.6. Tình hình phát triển sản xuất xã Cao Kỳ
2.3.6.1. Nông nghiệp
Tổng diện tích cây lúa nước thực hiện 161,4/ 171,3 ha = 94.7% (giảm
9ha do hạn hán tại các thôn vùng sâu, năng suất bình quân ước đạt 52 tạ/ ha)
sản lượng đạt 839,28 tấn, diện tích lúa nương 16ha/ 8ha đạt kế hoạch = 200%,
năng suất ước đạt 20tạ/ ha, sản lượng thu được = 32 tấn.
Cây ngô tổng diện tích thực hiện 192ha/ 203ha = 94,58% kh/ năm
( giảm so với kế hoạch là 11%) năng suất ước đạt 36 tạ, sản lượng ước đạt
691,2 tấn, tổng sản lượng lương thực có hạt đạt 1506,83 tấn (giảm so với năm
Qua những số liệu trên ta thấy: đàn gia cầm được nuôi với số lượng
nhiều nhất, dê là loài vật được nuôi ít nhất. Hình thức chăn thả là chủ yếu đối
với gia cầm, lợn được nuôi ngay trong chuồng hoặc trong vườn. Riêng đối với
trâu, bò, dê thì được các hộ thả rông trên rừng. Đây là một trong những
nguyên nhân ảnh hưởng đến sự sinh trưởng của cây tái sinh trong các khu
rừng tự nhiên.
Thu nhập bình quân đầu người tăng rõ rệt theo từng năm (năm 2005 :
3,5 triệu đồng/ người/ năm ; 2006: 4 triệu đồng/ người/ năm ; 2007: 5,5 triệu
đồng/người/năm ; 2008: 6 triệu đồng/người/năm ; 2009: 7,5 triệu
đồng/người/năm ; 2010: 9,5 triệu đồng/người/năm ; 2011: 11 triệu
đồng/người/năm).
(Nguồn: Báo cáo của UBND xã Cao Kỳ, 2011)
20
20
21
Phần 3
ĐỐI TƯỢNG - NỘI DUNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: đất rừng và trạng thái rừng tại xã Cao Kỳ,
huyện Chợ Mới, tỉnh Bắc Kạn.
- Phạm vi nghiên cứu: do hạn chế về điều kiện thực hiện, đề tài này
được giới hạn trong phạm vi sau:
+ Địa điểm nghiên cứ : khu vực nghiên cứu là xã Cao Kỳ, huyện Chợ
Mới, tỉnh Bắc Kạn, quy mô nghiên cứu ở đây là cấp xã.
+ Nội dung nghiên cứu: đề tài tập trung nghiên cứu ứng dụng GIS và
RS trong thành lập bản đồ hiện trạng rừng.
3.2. Thời gian nghiên cứu
Đề tài được tiến hành từ tháng 01 đến tháng 06 năm 2012.
3.3. Nội dung nghiên cứu
Để đáp ứng được mục đích nêu trên, đề tài tiến hành giải quyết các nội
- Khi xây dựng mẫu ảnh, phải lập OTC nơi lấy mẫu, đo đếm các chỉ
tiêu trong ô và mô tả đặc trưng từng trạng thái rừng và kiểu sử dụng đất.
3.4.2.2. Giải đoán ảnh
Giải đoán ảnh viễn thám là quá trình tách thông tin thuộc tính cũng như
định lượng về ảnh dựa trên tri thức chuyên ngành hoặc kinh nghiệm của
người đoán đọc điều vẽ. Để giải đoán ảnh người ta sử dụng một sô phần mềm
như: ENVI, ILWIS, ERDAS , trong đề tài này tôi sử dụng phần mềm
ERDAS 9.1 đây cũng là phần mềm hiện nay đang được Viện Điều tra quy
hoạc rừng sử dụng phổ biến. Ảnh sử dụng là ảnh Spot5.
Giải đoán có các giai đoạn sau:
* Giai đoạn 1: nhập dữ liệu ảnh từ thiết bị lưu trữ (USB, CD-Rom) vào
máy tính như sau:
- Khởi động phần mềm ERDAS 9.1/ trên menu chính chọn Import/
type: Generic binary/ Media/ chọn file ảnh cần nhập vào/ OK.
- Input (nhập ảnh), Output file name (tên file ảnh đầu ra của ảnh tương ứng)
22
22
23
Mô phỏng quá trình ở hình 3.1.
Hình 3.1: Nhập ảnh
a. Giai đoạn 2: Biến đổi ảnh
* Tăng cường chất lượng ảnh.
Tăng cường chất lượng ảnh là thao tác chuyển đổi nhằm tăng tính dễ
đọc, dễ hiểu của ảnh cho người giải đoán.
Tổ hợp màu: để mắt thường nhận biết được đối tượng trên ảnh rõ và
chính xác hơn ta cần tiến hành tổ hợp màu. Các bước như sau:
+ Interpreter/ Utilities/ Layer Stack.
+ Input file: đưa file ảnh nhập vào; Output file: Đặt tên file ảnh tổng
hợp màu/ OK. Tiến trình thể hiện ở hình 3.2.
Hình 3.2: Biến đổi ảnh
chuột vào một điểm trên ảnh thì điểm đó sẽ xuất hiện tương ứng trên bản đồ sông,
suối. Dùng con trỏ di chuyển điểm khống chế về đúng vị trí tương ứng.
25
25