ứng dụng công nghệ thông tin địa lý trong đánh giá biến động rừng tại xã quy kỳ huyện định hóa tỉnh thái nguyên - Pdf 22


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

TRƯỜ NG ĐẠ I HỌ C THÁ I NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÁI NGUYÊN
NGUYỄN ĐĂNG CƯỜNG

ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN ĐỊA LÝ TRONG
ĐÁNH GIÁ BIẾN ĐỘNG RỪNG TẠI XÃ QUY KỲ
HUYỆN ĐỊNH HÓA TỈNH THÁI NGUYÊN LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP

Chuyên ngành : Lâm học
Mã số : 60 62 60

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP Người hướng dẫn khoa học: TS. Trần Quốc Hưng
THÁI NGUYÊN – 2011
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

1
ĐẶT VẤN ĐỀ

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

2
nhất vì tình hình đất rừng luôn biến động. Phương pháp viễn thám kết hợp
GIS đang dần khắc phục được những nhược điểm này.
Ngày nay việc sử dụng thông tin vệ tinh viễn thám trong nghiên cứu, giám
sát Trái đất đã trở thành một nhu cầu thiết yếu của nhiều quốc gia, trong đó có
Việt Nam. Công nghệ đang ngày càng phát triển, công nghệ khai thác thông tin
vệ tinh đang thực sự phục vụ con người, mang lại hiệu quả cao trong nhiều lĩnh
vực khoa học-công nghệ, phục vụ đời sống, sản xuất và kiểm soát tài nguyên -
môi trường.
Nhằm đánh giá biến động tài nguyên rừng, công nghệ 3S (viễn thám:
remote sensing, GIS: Geographic infomation system, GPS: Global position
system) ra đời và đáp ứng trong việc thành lập bản đồ, theo dõi và phân tích biến
động tài nguyên và hỗ trợ ra quyết định.
Hiện nay tại xã Quy Kỳ cũng như các xã khác đã thực hiện xong chương
trình trồng rừng 661, và thực hiện theo Thông tư số 99 của BNN & PTNT
chuyển đổi rừng tự nhiên nghèo, thành rừng trồng có năng suất, chất lượng, hiệu
quả kinh tế và phòng hộ, bảo vệ môi trường cao hơn. Bên cạnh đó người dân tiến
hành chặt phá lấy củi, tre nứa, chuyển đổi rừng trái phép gây ra biến động rừng.
Đồng thời, xã Quy kỳ hiện nay đang được tiến hành điều tra để tiến tới thí điểm
chi trả dịch vụ môi trường Các bon theo dự án của Viện Lâm nghiệp thế giới. Do
đó kết quả đánh giá độ biến động rừng là tài liệu tham khảo cũng như luận cứ để
thấy được biến động rừng trong giai đoạn 2000 - 2010, từ đó tìm hiểu nguyên
nhân gây diễn biến làm cơ sở khoa học cho việc đề xuấ t cá c giả i phá p quản lý
bảo vệ rừng tại địa bàn nghiên cứu.
Xuất phát từ thực tiễn đó, đề tài: “Ứng dụng công nghệ thông tin địa lý
trong đánh giá biến động rừng tại xã Quy Kỳ - huyện Định Hóa - tỉnh Thái
Nguyên” được thực hiện nhằm góp phần bổ sung thêm những hiểu biết về ứng
dụng công nghệ thông tin địa lý trong việc thành lập bản đồ hiện trạng và đánh

+ Biến động rừng theo chức năng: sản xuất, phòng hộ và đặc dụng
+ Biến động rừng theo hình thái quản lý
- Biến động về chất lượng: biến động về tổ thành loài, biến động về cấu
trúc rừng khi chất lượng rừng bị suy giảm ta gọi đó là sự suy thoái của rừng.
Như sự thay đổi từ rừng kín sang rừng thưa, từ rừng giàu sang rừng nghèo, từ
rừng gỗ sang rừng tre nứa, từ rừng sang đất trống đồi núi trọc.
* Nguyên nhân gây biến động rừng
Các nguyên nhân chính gây ra biến động rừng và đất Lâm nghiệp bao gồm:
nguyên nhân trực tiếp và nguyên nhân gián tiếp:

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

4
- Nguyên nhân trực tiếp:
+ Khoanh nuôi bảo vệ rừng
+ Trồng rừng mới
+ Khai thác rừng
+ Cháy rừng
+ Sâu bệnh hại rừng
+ Phá rừng làm nương rãy
+ Chuyển đổi mục đích sử dụng đất
- Nguyên nhân gián tiếp: Mật độ dân số, Tỷ lệ hộ nghèo, Tăng trưởng và
phát triển kinh tế xã hội, Nhận thức và sự tham gia của người dân
Bản đồ hiện trạng rừng là bản đồ chuyên đề tài nguyên rừng được biên vẽ
trên nền bản đồ địa hình cùng tỷ lệ, trên đó thể hiện đầy đủ và chính xác vị trí,
diện tích các loại trạng thái rừng phù hợp với kết quả thống kê, kiểm kê tài
nguyên rừng theo định kỳ. Bằng việc sử dụng màu sắc và ký hiệu thích hợp hiển
thị các trạng thái rừng khác nhau, nó cho thấy rõ toàn bộ sự phân bố tài nguyên
rừng trên khu vực.
Bản đồ hiện trạng rừng là tài liệu quan trọng và cần thiết cho công tác

(1924), điều tra trữ lượng rừng từ ảnh hàng không của Mỹ (1940). Thí nghiệm
các phương pháp đo tán, đo chiều cao trên ảnh của Seely, Hugershoff,… Tuy
nhiên, giai đoạn này chưa xây dựng được hoàn chỉnh hệ thống lý luận cũng như
các phương pháp đọc đoán ảnh hàng không. (Vũ Tiến Hinh & Phạm Ngọc Giao,
1997)[14]
Kết quả theo dõi từ năm 1972 đến năm 1991, nhờ ứng dụng công nghệ RS
và GIS trong đánh giá biến động rừng và độ che phủ rừng cho thấy ở Ấn Độ diện
tích rừng từ 14,12 triệu ha xuống còn 11,72 triệu ha, giảm 2,4 triệu ha. Từ kết
quả đó Ấn độ đã xây dựng hệ thống bản đồ hiện trạng với chu kỳ 2 năm để quản
lý, bảo vệ và phát triển rừng hiệu quả. (Dutt, Udayalakshmt, 1994)[15]
Theo Devendra Kumar (2011), việc ước tính sự thay đổi về độ che phủ
rừng dựa trên dữ liệu vệ tinh có thể giúp các nhà nghiên cứu thấy rõ được khả
năng tích lũy carbon, biến đổi khí hậu, mối đe dọa đến đa dạng sinh học và mức
độ biến động rừng thông qua dữ liệu vệ tinh. Bản đồ lớp phủ rừng của các vùng
được xây dựng dựa trên ba loại nguồn dữ liệu: thu thập ý kiến chuyên gia, dựa
vào các sản phẩm viễn thám và thống kê quốc gia.[17]
Bodart et al (2009), theo dõi sự thay đổi độ che phủ rừng nhiệt đới ở châu
Mỹ Latinh, Nam Á và châu Phi năm 1990-2000 bằng cách sử dụng ảnh vệ tinh

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

6
và phát triển một cách tiếp cận hoạt động và mạnh mẽ có thể trước khi một
quá trình rất lớn số lượng dữ liệu từ các điều kiện khác nhau một cách tự động để
đưa các dữ liệu multitemporal và đa cảnh trên quy mô tương tự và phân khúc xạ
hình ảnh trước khi phân loại giám sát. [16]
Hansen và DeFries (2004), sử dụng ảnh vệ tinh để theo dõi sự thay đổi độ
che phủ rừng trong thời gian 1982-1990 và cuối cùng kết luận rằng, trái ngược
với Liên Hiệp Quốc Tổ chức Nông lương (FAO) báo cáo về một sự gia tăng toàn
cầu về độ che phủ rừng. Mỹ Latinh và vùng nhiệt đới châu Á là hai khu vực phá

bay được sử dụng từ năm 1959, đã xác định tổng diện tích rừng miền Nam là 8
triệu ha.
Kỹ thuật viễn thám đã được đưa vào sử dụng ở Việt Nam từ năm 1976
(Viện Điều tra Quy hoạch Rừng). Mốc quan trọng để đánh dấu sự phát triển của
kỹ thuật viễn thám ở Việt Nam là sự hợp tác nhiều bên trong khuôn khổ của
chương trình vũ trụ quốc tế (Inter Kosmos) nhân chuyến bay vũ trụ kết hợp Xô -
Việt tháng 7 - 1980.
Kết quả nghiên cứu các công trình khoa học này được trình bày trong hội
nghị khoa học về kỹ thuật vũ trụ năm 1982 nhân tổng kết các thành tựu khoa học
của chuyến bay vũ trụ Xô - Việt năm 1980 trong đó một phần quan trọng là kết
quả sử dụng ảnh đa phổ MKF-6 vào mục đích thành lập một loạt các bản đồ
chuyên đề như: địa chất, đất, sử dụng đất, tài nguyên nước, thuỷ văn, rừng vv
Từ năm 1981 đến năm 1983, lần đầu tiên ngành lâm nghiệp tiến hành điều
tra, đánh giá tài nguyên rừng trên phạm vi toàn quốc. Trong đó đã kết hợp giữa
điều tra mặt đất và giải đoán ảnh vệ tinh do FAO hỗ trợ. Do vào đầu những năm
1980, ảnh vệ tinh và ảnh hàng không còn rất hạn chế, chỉ đáp ứng yêu cầu điều
tra rừng ở một số vùng nhất định mà chưa có đủ cho toàn quốc.
Từ năm 1991 – 1995 đã tiến hành theo dõi diễn biến tài nguyên rừng toàn
quốc và xây dựng bản đồ hiện trạng tài nguyên rừng trên cơ sở kế thừa những
bản đồ hiện trạng rừng hiện có thời kỳ trước năm 1990, sau đó dùng ảnh vệ tinh
Landsat MSS và Landsat TM có độ phân giải 30x30m để cập nhật những khu
vực thay đổi sử dụng đất, những nơi mất rừng hoặc những nơi có rừng trồng mới
hay mới tái sinh phục hồi [4]. Ảnh vệ tinh Landsat MSS và Landsat TM tỷ lệ
1:250.000 được giải đoán khoanh vẽ trực tiếp trên ảnh bằng mắt thường. Kết quả
giải đoán được chuyển lên bản đồ địa hình tỷ lệ 1:100.000 và được kiểm tra tại
hiện trường. Thành quả đã thành lập được: bản đồ sinh thái thảm thực vật rừng
các vùng tỷ lệ 1:250.000; bản đồ dạng đất đai các tỉnh tỷ lệ 1:100.000 và các
vùng tỷ lệ 1:250.000.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

PAM 2780 trên 5 tỉnh, 700 hợp tác xã từ nghệ an đến Huế, PAM 3352 trên 5 tỉnh
Băc Thái, Hà Tây, Hoà Bình, Vĩnh Phú, hà Nội. PAM 4304 trên 13 tỉnh duyên
hải từ Quảng Ninh đến Bình Thuận. . Cơ quuan yêu cầu: PAM, Ban quản lý

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

9
trồng rừng, Dự án VIE - 91 - 022, và các Ban quản lý PAM của 18 tỉnh thành
phố vơi diện tích vùng xử lý khoảng 10 triệu ha, diện tích trồng rừng gần
200.000 ha. Tỷ lệ bản đồ gồm 1:10000 cho các lô rừng trồng với hơn 300.000 lô,
tỷ lệ 1:25000 cho các xã có trồng rừng, 1:100000 cho tỉnh.
Dự án VIE – 76 – 014 lần đầu tiên đã xây dựng bản đồ hiện trạng rừng và
các trạng thái rừng trên cơ sở sử dụng ảnh viễn thám Landsat. Đây là bước ngoặt
đánh dấu sự phát triển của việc ứng dụng RS và GIS vào Lâm nghiệp nói chung
và điều tra quy hoạch rừng nói riêng.[8]
Theo kết quả báo cáo dự án điều tra thông tin về hiện trạng rừng tre nứa
tại một số tỉnh, phương pháp giải đoán ảnh bằng mắt, khoanh vẽ trực tiếp trên
màn hình máy tính đối với ảnh Spot 5 do cấu trúc không gian của ảnh rất rõ ràng
được thực hiện. Kết quả cho thấy đã xác định được 3 loại rừng tre nứa hỗn giao,
rừng tre nứa thuần loài và rừng tre nứa trồng. Tuy nhiên với loại rừng hỗn giao,
việc xác định loài dựa trên ảnh là chưa khả thi.[12]
Đối với ngành điều tra theo dõi diễn biến tài nguyên rừng, các chương
trình ứng dụng GIS và viễn thám gần đây có như sau: Chương trình điều tra
nguyên liệu giấy (1972 – 1985), chương trình hợp tác Việt Nam – Thụy Điển, Dự
án ứng dụng viễn thám để theo dõi biến động các khu bảo tồn thiên nhiên (1991
– 1995) – WWF, chương trình ứng dụng GIS trong theo dõi đánh giá diễn biến
tài nguyên rừng (1991 – 1995), (1996 – 2000), (2001 – 2005), (2006 – 2010) -
FIPI, Dự án theo dõi độ che phủ hạ lưu sông Mê Kông (1993 – 1995) - Ủy ban
Mê Kông, đem lại nhiều kết quả khả quan.
Các chương trình nhỏ của các tổ chức trong công tác điều tra đánh giá

giả cũng sử dụng phần mềm ERDAS image với phương pháp phân loại có kiểm
định và thuật toán gần đúng nhất cho ảnh Spot 4. Tác giả đánh giá biến động diện
tích rừng dựa vào phần mềm Arcview 3.2a cho giai đoạn 2005 – 2009. Kết quả
cho thấy diện tích đất có rừng tăng 30.903,19 ha.[2]
Từ đó đến nay nghiên cứu ứng dụng RS và GIS trở thành công việc
thường nhật của ngành điều tra theo dõi diễn biến tài nguyên rừng. Đặc biệt từ
năm đầu của thập niên 90 trở lại đây, sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công
nghệ cùng sự giúp đỡ của tổ chức quốc tế, việc ứng dụng công nghệ GIS đã thu
được những tiến bộ ở trung tâm Khoa học tự nhiên và công nghệ quốc gia, Bộ tài
Nguyên và môi trường, Bộ Nghiệp và phát triển nông thôn, công ty địa tin học,
Viện điều tra quy hoạch rừng, hàng loạt các phần mềm được ứng dụng như:
Arcview, Mapinfo, Arcgis, Erdas image, Envi, Microstation, Autocad

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

11
Tóm lại, những năm trước đây để điều tra theo dõi diễn biến tài
nguyên rừng chủ yếu vẫn dựa trên việc đo vẽ, thành lập bản đồ hiện trạng rừng
bằng phương pháp thủ công vì vậy công việc này đòi hỏi tốn rất nhiều thời gian,
công sức, tiền bạc, độ chính xác không cao và thông tin thường không được cập
nhật vì tình hình rừng và đất rừng luôn biến động. Trong những năm gần đây, khi
khoa học công nghệ viễn thám phát triển mạnh thì việc áp dụng công nghệ viễn
thám vào lâm nghiệp là rất cần thiết vì kỹ thuật viễn thám với khả năng quan sát
các đối tượng ở các độ phân giải phổ và không gian khác nhau, từ trung bình đến
siêu cao và chu kỳ chụp lặp từ một tháng đến một ngày cho phép ta quan sát và
xác định nhanh chóng hiện trạng lớp phủ rừng, từ đó có thể dễ dàng xác định
được biến động rừng và đặc biệt là xu hướng của biến động.

Vấn đề về phân loại rừng
Năm 1935, theo A Tennslay thì rừng là một hệ sinh thái và đặc trưng của

+ Rừng phục hồi sau nương rãy chủ yếu cây ưa sáng mọc nhanh đều tuổi 1
tầng (cây Thẩu tấu, Hu đay, Màng tang ). – Ký hiệu: IIa
+ Rừng phục hồi sau khai thác kiệt, chủ yếu gòm những quần thụ non với
cây ưa sáng mọc nhanh (cây Thẩu tấu, Hu đay, Màng tang ), thành phần phức
tạp không đều tuổi, do tổ thành loài cây ưu thế không rõ ràng. Vượt lên khỏi tán
rừng kiểu này còn sót lại một số cây củ quần thụ cũ đứng phân tán, nhưng trữ
lượng không đáng kể. Kiểu này quần thụ gồm những cây có đường kính phổ biến
D
1.3
< 20 cm – Ký hiệu: IIb
Nhóm III: Rừng thứ sinh đã bị tác động
+ Rừng tự nhiên bị tàn phá mạnh: Được đặc trưng nởi những quần thụ đã
khai thác nhiều , khả năng khai thác hiện tại bị hạn chế. Cấu rúc ổn định của rừng
bị phá vỡ hoàn toàn hoặc thay đổi về cơ bản – Ký hiệu: IIIa
- Rừng rừng bị khai thác kiệt quệ, tán rừng bị phá vỡ thành từng mảng
lớn. Tầng trên có thể còn sót lại một số cây cao, to nhưng phẩm chất gỗ kém. –
Ký hiệu: IIIa
1
- Rừng bị khai thác quá mức nhưng thời gian phục hồi tốt. Đặc trưng cho
kiểu này là đã hình thành tầng giứa vươn lên chiếm ưu thế sinh thái so với lớp
cây đại bộ phận có đường kính 20 – 30cm. Rừng có 2 tầng trở nên, tầng trên tán
không liên tục được hình thành chủ yếu từ những cây của tầng giữa trước đây, rải
rác còn có một số cây to khỏe vượt tán của tầng rừng cũ để lại. – Ký hiệu: IIIa
2

- Rừng rừng bị khai thác vừa phải hay phát triển từ IIIa2 đi lên. Quần thụ
tương đối khép kín với 2 hoặc nhiều tầng tán. Khác với IIIa2 là đã có một số cây
có đường kính lớn trên 35cm có thể khai thác sử dụng gỗ lớn – Ký hiệu: IIIa
3


rào thuận lợi cho trồng trọt và chăn nuôi. Vùng có thể quy hoạch phát triển sản
xuất nông lâm nghiệp kết hợp chăn nuôi đại gia súc.
2.1.2. Khí hậu, thuỷ văn
2.1.2.1. Khí hậu

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

14
Khu vực nghiên cứu nằm trong miền khí hậu nhiệt đới, gió mùa, ảnh
hưởng của khí hậu vùng cao. Một năm chia thành 2 mùa: Mùa mưa và mùa khô.
Mùa mưa kéo dài từ tháng 4 đến tháng 10, mùa khô từ tháng 11 đến tháng 3 năm
sau. Các đặc trưng chính của khí hậu trong vùng như sau:
- Chế độ nhiệt: Nhiệt độ không khí bình quân năm là 22,5
o
C, nhiệt độ
trung bình tháng thấp nhất (tháng I) là 14,6
o
C, nhiệt độ tối thấp tuyệt đối 3
o
C
vào tháng 1. Nhiệt độ trung bình tháng cao nhất (tháng VII) là 27,2
o
C. Nhiệt độ
cao nhất tuyệt đối là 42,6
o
C vào tháng 6. Biên độ nhiệt trung bình giữa các tháng
là 7,6
o
C, biên độ nhiệt giữa ngày và đêm từ 8 đến 10
o

Đất phù sa, đất bạc màu, đất dốc tụ, đất đỏ vàng biến đổi do trồng lúa, đất
nâu đỏ trên đá vôi, đất nâu đỏ trên đá vôi, đất đỏ vàng trên đá phiến thạch sét, đất
đỏ nâu trên đá macma bazơ trung tính, đất vàng nhạt phát triển trên đá cát, đất
nâu vàng trên phù sa cổ, đất đỏ vàng trên đá macma axit.
Tài nguyên đất ở đây khá đa dạng phong phú, chủ yếu thích hợp cho phát
triển nông lâm nghiệp.
2.1.4. Đặc điểm tài nguyên rừng
Trong những năm gần đây, tài nguyên rừng trong xã đang ngày càng được
khôi phục trở lại, làm tăng độ che phủ và góp phần cảnh quan đồi núi. Theo kết
quả thống kê hết tháng 12 năm 2010 thì diện tích đất tự nhiên của xã là 5497.25
ha, trong đó đất lâm nghiệp của xã là 2669.82 ha.
Việc khai thác các sản phẩm từ rừng chưa theo quy định, mang tính chất
tự phát, hiện tượng chặt phá vẫn diễn ra do ý thức người dân vẫn còn kém và lực
lượng kiểm lâm còn mỏng nên quản lý tài nguyên rừng còn khó khăn.
2.2. Điều kiện kinh tế - xã hội
2.2.1. Thành phần dân tộc và phân bổ dân cƣ
Dân số của xã Quy Kỳ có 4352 nhân khẩu, 1042 hộ. Lực lượng lao động
của xã là 2779 nhân khẩu, chiếm 63,65%.Quy Kỳ là nơi tập trung sinh sống của
nhiều đồng bào dân tộc và được thống kê dưới bảng sau:
Bảng 2.1: Thành phần dân tộc trên địa bàn xã
Dân tộc
Tày
Kinh
San Chí
Dao
Nùng
Hoa
H”Mông
Sán Dìu
Tỷ lệ

Đội ngũ giáo viên có chuyên môn cao và thường xuyên trao dồi kiến thức
để truyền đạt cho học sinh có kết quả cao nhất trong học tập. Nhà trường thực
hiện tốt chương trình “Hai không” của Bộ Giáo dục và Đào tạo.
Hàng năm có 100% số trẻ em trong độ tuổi lao động đến trường. Chất
lượng đào tạo đạt ở mức khá.
2.2.3. Giao thông
Trên địa bàn xã Quy Kỳ có hệ thống đường liên tỉnh và liên xã chạy qua.
Trong xã có đường cấp phối, đá dăm với chiều dài hơn 20km đường, 2 cầu treo
giúp người dân trong xã đi lại thuận tiện hơn, giúp việc lưu thông hàng hóa của
người dân trở nên thuận tiện hơn.
Tuy nhiên, đường giao thông đến các thôn bản và vào các khu rừng chưa
được hoàn thiện gây khó khăn cho người dân đi lại trong mùa mưa.
2.2.4. Tình hình phát triển sản xuất xã Quy Kỳ
- Trồng trọt

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

17
Năm 2010, tổng sản lượng lượng thực (cây có hạt) đạt 2348 tấn,
tăng so với năm 2008. Bình quân lượng thực người/ năm là 539,5 kg. Lúa là cây
trồng chính, năng suất bình quân là 49 tạ/ha.
Ngô là cây lượng thực thứ hai, có hai hình thức trồng đó là trên ruộng và
trên núi đá. Năng suất bình quân là 42 tạ/ha.

Bảng 2.2: Diện tích, sản lƣợng một số cây trồng chính
Năm
Cây trồng
2008
2009
2010

181
41,5
751,2

170
42
714

Ha
Tạ/ha
Tấn
3. Cây Sắn
Diện tích
Nsbq
Sản lượng

10
120
160

20
120
180

20
120
185

Ha
Tạ/ha

Trâu
615
512
414
Con

215
119
126
Con

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

18
Lợn
3300
5450
6456
Con
Ngựa
150
142
265
Con

165
150
73
Con
Gia cầm


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

19 Chƣơng III
ĐỐI TƢỢNG, MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. Mục tiêu nghiên cứu
- Xác định được quy mô diện tích các trạng thái rừng qua các năm 2000
và 2010
- Đánh giá được sự biến động về diện tích, trạng thái rừng và trữ lượng
rừng tại địa bàn nghiên cứu.
- Phân tích được các nguyên nhân gây biến động rừng và đề xuất các giải
pháp để nâng cao công tác quản lý bảo bệ rừng tại địa bàn nghiên cứu.
3.2. Đối tƣợng nghiên cứu và giới hạn phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: biến động diện tích và trạng thái rừng tại Xã Quy
Kỳ Huyện Định Hóa Tỉnh Thái Nguyên.
- Phạm vi nghiên cứu:
Do hạn chế về điều kiện thực hiện, đề tài này được giới hạn trong pham vi sau:
+ Địa điểm nghiên cứu: Khu vực nghiên cứu là Xã Quy Kỳ Huyện Định
Hóa, qui mô nghiên cứu ở đây là cấp Xã.
+ Nội dung nghiên cứu : Nghiên cứu biến động rừng là đề tài lớn và phức
tạp và cần nhiều thời gian. Đề tài chỉ tập trung kế thừa số liệu, ứng dụng công

- Thu thập bản đồ: bản đồ hiện trạng rừng của phân viện điều tra Tây Bắc
Bộ năm 2000, 2009 tại Viện điều tra quy hoạch rừng (bản đồ được xây dựng theo
chương trình theo dõi diễn biến tài nguyên rừng chu kì II giai đoạn 1996 - 2000,
chu kỳ III giai đoạn 2001 – 2005 và tiếp tục chu kỳ IV giai đoạn 2006 – 2010).
- Ảnh vệ tinh: Ảnh vệ tinh Landsat ETM+ năm 2000 với độ phân giải 30m
và ảnh Spot 5 chụp năm 2010 độ phân giải 2.5m.
Cụ thể:
+ Ảnh Landsat ETM+ năm 2000
Bản đồ ảnh được chụp ngày 9 tháng 10 năm 2000 có chất lượng tốt và
không có mây che. Thuộc địa phận xã Quy Kỳ - huyện Định Hóa - Thái Nguyên,
có kích thước 185 km x 185 km.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

21
+ Ảnh Spot 5 chụp năm 2010 độ phân giải 2.5m, bản đồ ảnh được chụp
17h 47 phút 40 giây ngày 9 tháng 12/2009, có chất lượng tốt và không có mây
che, thuộc địa phận xã Quy Kỳ - huyện Định Hóa - Thái Nguyên.
3.5.2. Thu thập tài liệu liên quan về điều kiện tự nhiên, dân sinh kinh tế xã hội.
- Kế thừa các tài liệu về điều kiện tự nhiên dân sinh kinh tế xã hội, báo cáo
kinh tế xã hội.
- Thu thập các kết quả điều tra và thống kê của Ban quản lý rừng ATK –
Định Hóa, như: Số vụ vi phạm lâm luật giai đoạn 2000 – 2010, kết quả trồng
rừng 661 giai đoạn 2000 – 2010, kết quả thực hiện các chính sách phát triển như
135 tại địa bàn nghiên cứu.
3.5.2. Phƣơng pháp xây dựng mẫu khóa giải đoán ảnh
Luận văn chỉ tiến hành giải đoán ảnh vệ tinh Spot 5 năm 2010, ảnh
Landsat ETM+ 2000 chỉ sử dụng để kiểm tra lại bản đồ hiện trạng có sẵn của
Phân viện điều tra Tây Bắc Bộ, bằng cách chồng xếp lớp bản đồ hiện trạng dạng
số lên ảnh Landsat 2000 và cập nhật chỉnh sửa cho khớp với ảnh Viễn thám.

Hình 3.1
b. Giai đoạn 2: Biến đổi ảnh
* Tăng cường chất lượng ảnh
Tăng cường chất lượng ảnh là thao tác chuyển đổi nhằm tăng tính dễ đọc,
dễ hiểu của ảnh cho người giải đoán.
Tổ hợp màu: để mắt thường nhận biết dược đối tượng trên ảnh rõ và chính
xác hơn ta cần tiến hành tổ hợp màu. Các bước như sau:
+ Interpreter/ Utilities/ Layer Stack
+ Input file: đưa file ảnh nhập vào; Output file: Đặt tên file ảnh tổng hợp
màu/ OK. Tiến trình thể hiện ở hình 3.2.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên

23


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status