Đề tài: Ứng dụng hệ thống thông tin địa lý trong đánh giá biến động hiện trạng sử dụng đất giai đoạn 2000 – 2010 tại xã Quang Kim – huyện Bát Xát – tỉnh Lào Cai - Pdf 11

LỜI NÓI ĐẦU
Để hoàn thành tốt khoá học của mình và được sự đổng ý của Ban giám
hiệu trường Đại học Lâm Nghiệp, Ban chủ nhiệm khoa Kinh Tế và Quản Trị
Kinh Doanh, dưới sự hướng dẫn của thầy giáo Vũ Xuân Định, tôi thực hiện
đề tài : “ Ứng dụng hệ thống thông tin địa lý trong đánh giá biến động hiện
trạng sử dụng đất giai đoạn 2000 – 2010 tại xã Quang Kim – huyện Bát Xát –
tỉnh Lào Cai ”. Đến nay đề tài đã được hoàn thành.
Tôi xin bày tỏ sự cảm ơn chân thành nhất tới ban giám hiệu nhà trường,
khoa Kinh Tế và Quản Tri Kinh Doanh cùng các thầy cô giáo, đặc biệt là giáo
viên hướng dẫn đã tận tình hướng dẫn giúp đỡ tôi trong suốt quá trình hoàn
thành đề tài.
Tôi xin chân thành cảm ơn phòng Tài nguyên Môi trường huyện Bát
Xát đã giúp đỡ nhiệt tình và tạo điều kiện thuận lợi, cung cấp các số liệu đầy
đủ và chính xác cho tôi hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình. Mặc dù bản thân
đã rất cố gắng cùng với sự giúp đỡ nhiệt tình của các thầy cô giáo và bạn bè
nhưng do trình độ và thời gian có hạn nên đề tài không thể tránh khỏi các
thiếu sót. Rất mong được sự đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo và các bạn
để đề tài của tôi được hoàn thiện và đầy đủ hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn !
Hà nội, ngày 12 tháng 05 năm 2011
Sinh viên thực hiện
Vũ thị Huyền Chang
1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá đối với mỗi quốc gia bởi nó là tư
liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường
sống, là địa bàn phân bố của các khu dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn
hoá, xã hội, an ninh và quốc phòng. Trong xã hội hiện nay dưới sức ép của
gia tăng dân số thì đất đai đã trở thành vấn đề sống còn của mỗi quốc gia, mỗi
dân tộc và một trong những chỉ tiêu đánh giá sự phát triển của mỗi quốc gia,
mỗi dân tộc đôi khi còn được tính theo mức độ biến động trong quá trình sử

như sự cần thiết của việc ứng dụng GIS trong công tác đánh giá biến động, tôi
tiến hành thực hiện đề tài: “Ứng dụng hệ thống thông tin địa lý trong đánh
giá biến động hiện trạng sử dụng đất giai đoạn 2000 – 2010 tại xã Quang
Kim – huyện Bát Xát – tỉnh Lào Cai”
3
Chương1
TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ CẦN NGHIÊN CỨU
“Ứng dụng hệ thống thông tin địa lý trong đánh giá biến động hiện
trạng sử dụng đất” thực chất là ứng dụng GIS để xây dựng và chuẩn hoá bản
đồ hiện trạng sử dụng đất qua các thời điểm rồi từ đó đưa ra được các bản đồ
biến động tương ứng thể hiện sự thay đổi hiện trạng tại khu vực nghiên cứu.
Từ lâu con người đã biết đến bản đồ như một công cụ, một tài liệu hữu
hiệu cho công việc của mình. Tuỳ theo các ngành, các lĩnh vực sẽ có các loại
bản đồ riêng như bản đồ hiện trạng sử dụng đất, bản đồ địa chính, bản đồ địa
hình (ngành quản lý đất đai) ; Bản đồ hiện trạng rừng (ngành quản lý tài
nguyên rừng và môi trường) ; Các bản đồ chuyên ngành khác như : Bản đồ
giao thông, bản đồ khai thác khoáng sản Bản đồ hiện trạng sử dụng đất là
bản đồ thể hiện sự phân bố các loại đất tại một thời điểm xác định, được lập
theo đơn vị hành chính (Khoản 17 – Điều 4 – Luật Đất đai 2003).
1.1. Lịch sử phát triển hệ thống thông tin địa lý
1.1.1. Trên thế giới và tại Việt Nam
Hệ thống thông tin địa lý (Geographic Information System - gọi tắt là
GIS) được hình thành vào những năm 1960 và phát triển rất rộng rãi trong 10
năm lại đây. GIS ngày nay là công cụ trợ giúp quyết định trong nhiều hoạt
động kinh tế - xã hội, quốc phòng của nhiều quốc gia trên thế giới. GIS có
khả năng trợ giúp các cơ quan chính phủ, các nhà quản lý, các doanh nghiệp,
các cá nhân đánh giá được hiện trạng của các quá trình, các thực thể tự
nhiên, kinh tế - xã hội thông qua các chức năng thu thập, quản lý, truy vấn,
phân tích và tích hợp các thông tin được gắn với một nền hình học (bản đồ)
nhất quán trên cơ sở toạ độ của các dữ liệu đầu vào.

những đầu tư đáng kể cho việc phát triển ứng dụng làm bản đồ, hay quản lý
dữ liệu có sự trợ giúp của máy tính là Canada và Mỹ sau đó đến các nước
Thuỵ Điển, Đan Mạch, Pháp…
5
Thập kỷ 80 được đánh dấu bởi các nhu cầu sử dụng GIS ngày càng
tăng với các quy mô khác nhau. Người ta tiếp tục giải quyết những tồn tại của
các năm trước mà nổi lên là vấn đề số hoá dữ liệu. Thập kỷ này đánh dấu bởi
sự nảy sinh các nhu cầu mới trong ứng dụng GIS như: Theo dõi sử dụng tối
ưu các nguồn tài nguyên, Đánh giá khả thi các phương án quy hoạch, Các bài
toán giao thông… GIS trở thành một công cụ hữu hiệu trong công tác quản lý
và trợ giúp quyết định.
Những năm đầu của thập kỷ 90 được đánh dấu bằng việc nghiên cứu
hoà nhập giữa GIS và Viễn thám. Các nước Bắc Mỹ và Châu Âu thu được
nhiều thành công trong lĩnh vực này. Khu vực Châu Á – Thái Bình Dương
cũng đã thành lập nhiều trung tâm nghiên cứu Viễn thám và GIS. Ở các nước
như Trung Quốc, Nhật Bản, Thái lan… đã chú ý nghiên cứu đến GIS chủ yếu
vào lĩnh vực quản lý, đánh giá Tài nguyên thiên nhiên và Môi trường.
Ở Việt Nam việc nghiên cứu và ứng dụng GIS cũng chỉ mới bắt đầu và
chỉ được triển khai ở những cơ quan lớn như: Bộ Tài nguyên và Môi trường,
trường Đại học Mỏ Địa Chất, Viện điều tra quy hoạch rừng, Cục kiểm lâm,
Viện địa chất… Đồng thời mức độ ứng dụng còn hạn chế, và mới chỉ có ý
nghĩa nghiên cứu hoặc ứng dụng để giải quyết một số nhiệm vụ trước mắt.
Như vậy, hầu hết các nước trên thế giới đều quan tâm nghiên cứu hệ
thống thông tin địa lý và ứng dụng của nó vào nhiều ngành. Ngày nay, phần
mềm GIS đang hướng tới đưa công nghệ GIS trở thành hệ tự động thành lập
bản đồ, và xử lý dữ liệu. Phần cứng của GIS phát triển mạnh theo giải pháp
máy tính để bàn, nhất là những năm gần đây ra đời các bộ vi xử lý cực mạnh,
thiết bị lưu trữ dữ liệu, hiển thị và in ấn tiên tiến đã làm cho công nghệ GIS
thay đổi về chất. Có thể nói trong suốt quá trình hình thành và phát triển của
mình, công nghệ GIS đã luôn tự hoàn thiện từ thấp đến cao, từ đơn giản đến

quả hết sức to lớn.
7
Ở nước ta việc theo dõi, đánh giá biến động hiện trạng sử dụng đất
được quan tâm đáng kể. Tuy nhiên từ trước đến nay công việc này thường
được thực hiện bằng phương pháp truyền thống nên kết quả nhận được chưa
thực sự chính xác, và thậm chí còn chậm hơn vài năm so với hiện tại, ít có ý
nghĩa trong việc đưa ra các biện pháp thích hợp để phục vụ cho công tác quản
lý hay quy hoạch sử dụng đất.
1.3. Sự cần thiết của vấn đề nghiên cứu
Quá trình phát triển của đất nước diễn ra nhanh chóng và sôi nổi, Luật
đất đai năm 2003 ra đời bổ xung quyền lợi và nghĩa vụ của người dân với đất
đai. Theo đó người dân được hưởng các quyền như : Chuyển đổi, chuyển
nhượng, cho thuê, thừa kế, thế chấp, tặng cho quyền sử dụng đất, bảo lãnh,
góp vốn bằng quyền sử dụng đất. Trong quá trình thực hiện các quyền hợp
pháp của người sử dụng đất đã gây ra nhiều biến động lớn về đất đai. Các
biến động đó là :
- Biến động về yếu tố không gian của thửa đất do chia mảnh, ghép
thửa, do sạt nở đất làm biến động hình dạng kích thước thửa đất.
- Chuyển mục đích sử dụng đất.
- Thay đổi chủ sử dụng đất.
Trước tình hình này thì công tác quản lý nhà nước về đất đai càng phải
được trú trọng và quan tâm hơn, việc cập nhật biến động phải được cập nhật
thường xuyên sao cho sát thực tế nhất. Tuy nhiên đây là việc làm không đơn
giản nếu việc quản lý chỉ dừng lại ở mức độ thô sơ : Bản đồ giấy, sổ sách
GIS là hệ thống quản lý không gian được phát triển dựa trên cơ sở công
nghệ máy tính với mục đích lưu trữ, hợp nhất, mô hình hoá, phân tích và miêu
tả được nhiều dữ liệu. GIS được gọi là công nghệ xúc tác vì tiềm năng to lớn
của nó đối với phạm vi các ngành có liên quan. GIS hợp nhất các số liệu
mang tính liên ngành lại bằng tổng hợp, mô hình hoá và phân tích. Hệ thống
thông tin địa lý và các ứng dụng của nó giúp đạt được nhiều yêu cầu của thực

sử dụng đất giai đoạn 2000 – 2005, 2005 – 2010 và 2000 – 2010.
2.3. Nội dung nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu của khoá luận, chúng tôi tiến hành nghiên cứu
các nội dung sau:
1. Thu thập tài liệu, bản đồ phục vụ nghiên cứu.
2. Đánh giá chất lượng tài liệu, bản đồ thu thập được.
3. Quét, định vị và số hoá bản đồ hiện trạng sử dụng đất năm 2000 từ bản đố giấy.
4. Chuyển đổi định dạng đối tượng bản đồ năm 2005, 2010 từ Microstation
sang Mapinfo.
5. Hoàn thiện và chuẩn hoá cơ sở dữ liệu hiện trạng sử dụng đất năm 2000,
2005 theo các tiêu chuẩn của bản đồ hiện trạng sử dụng đất năm 2010.
6. Đánh giá biến động hiện trạng sử dụng đất giai đoạn 2000 – 2005, 2005 –
2010 và 2000 - 2010.
7. Phân tích kết quả và nhận xét tiến trình quy hoạch giai đoạn 2004– 2010.
2.4. Phương pháp nghiên cứu
2.4.1. Phương pháp thu thập số liệu
Để xây dựng bản đồ nói chung và bản đồ hiện trạng sử dụng đất nói
riêng hay để đánh giá biến động thì công việc đầu tiên không thể thiếu được
là công tác chuẩn bị cho việc thành lập bản đồ. Nhiệm vụ chủ yếu của công
10
đoạn này là thu thập, kiểm tra, đánh giá các tài liệu, số liệu sẵn có và điều tra
khảo sát thực địa theo những yêu cầu của nội dung, mục đích của đề tài. Kế
thừa có chọn lọc các bản đồ, tài liệu đã có trên khu vực nghiên cứu. Bản đồ
địa chính, địa hình, bản đồ hiện trạng sử dụng đất cũ có thể dùng làm bản đồ
nền trong khi xây dựng bản đồ hiện trạng mới. Cũng có thể sử dụng tài liệu
này đối chiếu với thực địa để chỉnh lý các biến động về đất đai cho phù hợp
với tình hình sử dụng đất tại thời điểm lập bản đồ.
- Thu thập bản đồ của các năm : 2000, 2005, 2010 và các điều kiện tự
nhiên, kinh tế, xã hội của khu vực nghiên cứu làm tài liệu phục vụ
cho công tác xây dựng CSDL cho bản đồ.

cứu giữa các năm phải trùng khít nhau, ranh giới các lô phải khép
kín.
 Về cơ sở dữ liệu thuộc tính yêu cầu thiết kế các trường cơ sở dữ liệu
giữa các năm phải hoàn toàn giống nhau về tên trường, thứ tự
trường, độ rộng, kiểu trường….
 Với số liệu bản đồ đã được chuẩn hoá của các thời điểm tiến hành. Chồng
xếp các lớp thông tin về HTSDĐ của 3 thời điểm theo giai đoạn (chỉ thực
hiện trên hai lớp thông tin) sẽ cho ra kết quả biến động.
2.5. Các máy móc thiết bị và phần mềm phục vụ nghiên cứu
Để đảm bảo tính chính xác, hiệu quả, phù hợp với yêu cầu của công
nghệ thông tin hiện đại, trong quá trình nghiên cứu tiến hành sử dụng các
công cụ sau:
 Máy móc được sử dụng gồm có: máy quét, máy in, máy tính để bàn.
 Các phần mềm máy tính: phần mềm Microstation, phần mềm phục vụ
công tác xây dựng bản đồ Mapinfo - một nhánh của công nghệ GIS, phần
mềm hỗ trợ VDMAP biên tập hoàn thiện nhanh bản đồ và đánh giá biến động,
phần mềm xử lý số liệu Exel. Trong đó:
12
* Phần mềm Microstation là phần mềm lưu trữ số liệu nguồn, đây là
phần mềm trợ giúp thiết kế (CAD) và là môi trường đồ hoạ rất mạnh cho phép
xây dựng, quản lý các đối tượng đồ hoạ thể hiện các yếu tố bản đồ.
* Phần mềm MapInfo với các chức năng như cung cấp thông tin địa lý,
giúp định vị, xây dựng và hoàn thiện bản đồ, MapInfo tạo ra hai dạng dữ
liệu là dữ liệu không gian và dữ liệu thuộc tính hết sức tiện lợi để lưu trữ và
hiển thị cùng lúc hình ảnh và số liệu trên một file. Phần mềm MapInfo có khả
năng liên kết với các hệ cơ sở dữ liệu khác như Microsoft Access, SQL
Server, Oracle, Data Base để quản lý dữ liệu một cách chặt chẽ; đồng thời
tích hợp với các phần mềm khác như MicroStation, CAD, để chuyển dữ liệu
khi cần thiết.
* Phần mềm VDMAP là phần mềm hỗ trợ thiết kế và biên tập bản đồ,

dạng và kích thước.
3. Mạng lưới thuỷ văn : Thể hiện đường bờ biển, sông ngòi, kênh
mương, ao hồ
4. Mạng lưới giao thông : Thể hiện đầy đủ đường sắt, đường bộ quốc
gia đến đường liên xã, liên thôn, đường trong làng, đường ngoài đồng.
14
5. Dáng đất.
6. Phân bố dân cư : Các công trình kinh tế, văn hoá, xã hội, và công sở
hành chính.
7. Địa danh : Xóm ấp, xứ đồng, thôn, xã, huyện, tỉnh, tên sông, suối,
đường giao thông
3.1.2. Phương pháp thành lập bản đồ hiện trạng sử dụng đất
Có rất nhiều phương pháp thành lập bản đồ hiện trạng sử dụng đất
như : Phương pháp đo vẽ trực tiếp ngoài thực địa, phương pháp sử dụng ảnh
máy bay và ảnh vệ tinh, phương pháp sử dụng bản đồ địa chính và phương
pháp kết hợp.
* Phương pháp đo vẽ trực tiếp ngoài thực địa : Đây là phương pháp đo
vẽ bản đồ chi tiết đến từng thửa đất và chỉ áp dụng để xây dựng bản đồ hiện
trạng sử dụng đất ở tỷ lệ lớn (>1/10000), ở những vùng địa hình tương đối
bằng phẳng, địa vật không quá phức tạp và chưa có tài liệu bản đồ hoặc bản
đồ đã đo vẽ trước đây không bảo đảm yêu cầu và chất lượng để xây dựng bản
đồ hiện trạng sử dụng đất mới. Với cách làm này, độ chính xác của bản đồ chỉ
phụ thuộc vào độ chính xác đo ngắm trên thực địa mà không bị ảnh hưởng
của sai số chuyển vẽ, định vị, can vẽ. Với bản đồ địa chính phương pháp này
được áp dụng khi toàn bộ khu vực phải đo mới hoàn toàn hoặc với bản đồ
hiện trạng được đo vẽ bổ sung khi có sự thay đổi.
* Phương pháp sử dụng ảnh máy bay và ảnh viễn thám : Phương pháp
này thường được áp dụng khi thành lập bản đồ hiện trạng sử dụng đất trên
quy mô lãnh thổ lớn và tỷ lệ bản đồ nhỏ như cấp huyện, tỉnh, cả nước. Ta có
thể sử dụng các tư liệu ảnh như : Ảnh đơn, ảnh nắn, bình đồ ảnh để điều vẽ

thông tin lớn về bản đồ, các bảng thuộc tính đối tượng, cho phép nắn chỉnh
chuyển đổi hệ toạ độ, tính toán diện tích, liên kết các yếu tố đồ họa với các
thuộc tính phi không gian nhanh chóng thuận tiện.
3.2. Các phương pháp đánh giá biến động
Trước đây khi công nghệ thông tin chưa được phổ cập rộng thì việc
đánh giá biến động mới chỉ dừng lại ở mức độ thô sơ dựa vào các số liệu thu
16
thập được qua sổ sách và bản đồ giấy, so sánh sự thay đổi bằng phương pháp
lấy số liệu từ năm trước trừ số liệu của năm sau với các diện tích thay đổi để
tìm xem diện tích đó thay đổi theo chiều hướng tăng hay theo chiều hướng
giảm từ đó lập bảng chu chuyển đất đai. Với phương pháp này rất tốn kém,
mất thời gian, tốn nhiều công sức, và thiếu độ chính xác, bên cạnh đó đất đai
thay đổi từng ngày theo nhu cầu về mục đích sử dụng của con người. Phương
pháp đánh giá đã lỗi thời không còn phù hợp nữa vì vậy phải thay thế bằng
các phương pháp đánh giá mới đáp ứng được yêu cầu trên và phải đảm bảo
được kịp thời theo sự thay đổi của đất đai. Ngày nay GIS đã thực hiện được
những yêu cầu trên theo quy trình cụ thể :
Sơ đồ 3.1: Sơ đồ trình tự các bước đánh giá biến động trong nghiên cứu
Khi công nghệ thông tin được sử dụng rộng rãi thì việc đánh giá biến
động không còn là vấn đề lo ngại với các nhà quản lý thực hiện nhanh chóng
các số liệu phục vụ kịp thời đáp ứng được sự thay đổi của đất đai. Vdmap là
Cơ sở dữ liệu đầu vào
(số liệu, bản đồ HTSDĐ dạng số)
Ứng dụng GIS
Xuất CSDL không gian từ môi trường
Microstation sang Mapinfo và xây dựng bản đồ
Hoàn thiện và chuẩn hoá hệ thống
CSDL của các thời điểm
Xây dựng CSDL thuộc tính
và liên kết với CSDL không

sẽ tự động tính toán, kết quả cho một lớp thông tin về biến động (chứa dữ liệu
không gian và dữ liệu thuộc tính của những đối tượng có biến động) và một
ma trận biến động. Từ lớp thông tin biến động ta có thể xây dựng được bản đồ
biến động hiện trạng sử dụng đất. Để đánh giá biến động có thể sử dụng ma
trận biến động hoặc khai thác dữ liệu thuộc tính của lớp thông tin biến động.
18
Kết quả của đánh giá biến động ứng dụng GIS là nhận được bản đồ
biến động và ma trận biến động. Trong đó Bản đồ biến động biểu thị sự phân
bố không gian của các đối tượng bị biến động hoặc cũng có thể biểu thị được
mức độ biến động của các đối tượng trên bản đồ, còn Ma trận biến động hiển
thị kết quả thống kê diện tích biến động của các loại đối tượng cùng với sự
phân bố biến động sang các đối tượng khác. Và đây chính là ưu điểm hơn hẳn
của phương pháp này so với các phương pháp khác.
19
Chương 4
KẾT QUẢ XÂY DỰNG HỆ THỐNG CƠ SỞ DỮ LIỆU HIỆN TRẠNG
SỬ DỤNG ĐẤT PHỤC VỤ ĐÁNH GIÁ BIẾN ĐỘNG
4.1. Đặc điểm của khu vực nghiên cứu
4.1.1. Điều kiện tự nhiên
Quang Kim là một xã vùng thấp của huyện Bát Xát nằm ở phía Đông
Bắc của huyện. Trung tâm xã cách trung tâm huyện khoảng 3 km, có đường
ranh giới Quốc gia giáp nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa 6 km dọc theo
sông Hồng về phía Đông Bắc của huyện.
Hình 4.1: Bản đồ hành chính huyện Bát Xát – tỉnh Lào Cai
Dựa vào bản đồ hành chính huyện Bát Xát cho thấy xã Quang Kim có:
- Phía Bắc giáp xã Bản Qua và nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa.
- Phía Nam giáp xã Phìn Ngan, xã Tòng Sành và xã Cốc San.
20
- Phía Đông giáp nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa và thành phố
Lào Cai.

4.1.2. Điều kiện Kinh tế - Xã hội
Nằm trên trục Tỉnh lộ tuyến đường nối giữa Lào Cai – Bát Xát và trục
đường Xuyên Á đang triển khai xây dựng vì vậy Quang Kim có điều kiện
21
phát triển các loại hình dịch vụ, du lịch và làng nghề truyền thống, tuy nhiên
là xã thuần về sản xuất nông nghiệp nên mặt bằng kinh tế còn thấp, đời sống
dân sinh gặp nhiều khó khăn, cơ sở hạ tầng tuy đã được đầu tư cơ bản nhưng
chưa đồng bộ.
Theo số liệu điều tra năm 2010 (Phòng thống kê) toàn xã có 21 thôn
bản, sự phân bố dân cư tập trung nhiều ở khu vực trung tâm xã, dân số 1238
hộ, 5175 nhân khẩu, 2425 lao động.
Tổng sản lượng lương thực có hạt là 1650.67 tấn, trong đó Lúa 1050.6 tấn,
Ngô 600.07 tấn. Bình quân đầu người 319 kg/người/năm. Ngoài ra diện tích một
số cây nông nghiệp khác cũng được chú trọng phát triển trên diện rộng.
Về chăn nuôi, tổng đàn gia súc năm 2010 là 13961 con trong đó đần
trâu 1839 con, đàn bò 239 con, đàn lợn 11585 con, đàn dê 298 con và tổng
đàn gia cầm 14751 con.
4.1.3. Đánh giá tổng hợp điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội
Quang Kim là xã có vị trí thuận lợi, nằm trên tuyến đường tỉnh lộ 158
cách thị xã Lào Cai 8km, cách trung tâm Bát Xát 4km. Thuận lợi trong việc
tiếp cận với khoa học kỹ thuật, lưu thông hàng hoá. Là xã giáp với láng giềng
Trung Quốc nên có những thuận lợi trong giao lưu kinh tế với nước bạn. Có
địa hình đa dạng, phong phú, tài nguyên đất, tài nguyên rừng, tài nguyên
nước, tạo điều kiện thuận lợi để phát triển đa dạng các ngành kinh tế nhất là
kinh tế nông lâm nghiệp. Tình hình quản lý đất đai trong thời gian qua khá
tốt, công tác quản lý đất đai ngày càng đi vào nề nếp. Tình hình xã hội có
nhiều thay đổi, dân số ngày càng tăng nhưng đời sống của nhân dân đã được
cải thiện. Tiềm năng lao động đồi dào với kinh nghiệm sản xuất, đoàn kết, cần
cù lao động là tiềm năng thực hiện thành công các mục tiêu phát triển kinh tế.
Song bên cạnh những thuận lợi thì vẫn còn tồn tại những khó khăn như

11 Đất xây dựng 41
Đất trụ sở cơ quan, công trình sự nghiệp
của Nhà nước
TSC
12 Đất làm vật liệu xây dựng 47 Đất sản xuất vật liệu xây dựng, gốm sứ SKX
13 Đất khu dân cư nông thôn 53 Đất ở tại nông thôn ONT
14 Đất đồi núi chưa sử dụng 56 Đất đồi núi chưa sử dụng DCS
15 Sông, suối 58 Đất sông, ngòi, kênh, rạnh, suối SON
16 Đất giao thông 42 Đất giao thông DGT
23
4.3. Sơ đồ các bước thực hiện
Thu thập tài liệu
BĐHT 2000
(BĐ giấy)
BĐHT 2010
(BĐ số trên Microstation)
BĐHT 2005
(BĐ số trên Microstation)
Chuyển đổi định dạng
(Micro →Mapinfo)
Chuyển đổi định dạng
(Micro →Mapinfo)
Bộ 3 bản đồ lưu trong Mapinfo
BĐHT 2000
BĐHT 2005
BĐHT 2010
Đánh giá biến động bằng phương
pháp truyền thống có sự hỗ trợ của
Mapinfo
Đánh giá biến động bằng phần mềm

chuẩn mới được đưa vào nghiên cứu. Để đạt được yêu cầu đó đề tài đã thu
thập các số liệu về bản đồ và các số liệu điều tra bổ sung khác đều do phòng
Tài nguyên Môi trường huyên Bát Xát cung cấp. Các số liệu này được đảm
bảo độ tin cậy đủ để phục vụ nghiên cứu, đó là:
1. Bản đồ hiện trạng sử dụng đất năm 2000 được đo vẽ với tỷ lệ
1/5000 trên giấy.
2. Bản đồ hiện trạng sử dụng đất năm 2005 là bản đồ số được định
dạng trong môi trường Microstation.
3. Bản đồ hiện trạng sử dụng đất năm 2010 là bản đồ số được định
dạng trong môi trường Microstation.
4. Các tài liệu hỗ trợ khác như bản đồ hành chính của huyện, các bản
đồ quy hoạch xã đến năm 2010.
Bên cạnh các tài liệu trên còn các số liệu lưu trong sổ sách là bản báo
cáo kết quả thống kê kiểm kê diện tích đất đai tính đến ngày 01/01/2005 và
01/01/2010, báo cáo quy hoạch sử dụng đất giai đoạn 2004 – 2010.
Nhìn chung các tài liệu thu thập được đều đủ tiêu chuẩn để đáp ứng cho
nghiên cứu này.
4.5. Kết quả xử lý số liệu
4.5.1. Phân tích, đánh giá chất lượng tài liệu
Bản đồ hiện trạng sử dụng đất được xây dựng trên nền các loại bản đồ
như bản đồ địa chính, bản đồ hiện trạng sử dụng đất cũ, bản đồ địa hình, bản
đồ giải thửa, các loại ảnh hàng không… Trong đề tài này các bản đồ hiện
trạng ở các năm cũng được thành lập theo nhiều cách. Các tài liệu được đánh
giá như sau:
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status