Download Tiểu luận Giao dịch dân sự vô hiệu và hậu quả pháp lý của việc tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu miễn phí
Mục đích hay nói cách khác là những mong muốn, nguyện vọng mà bất kỳ chủ thể nào tham gia giao dịch đều muốn đạt được. Pháp luật luôn tạo điều kiện và giúp đỡ các chủ thể hành động theo ý chí của mình nếu họ không vi phạm vào 1 trong 4 điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự nói trên. Trên thực tế, có rất nhiều trường hợp không tuân thủ các điều kiện đó dẫn đến giao dịch dân sự bị vô hiệu và các chủ thể phải gánh chịu hậu quả pháp lý phát sinh từ việc tuyên bố giao dịch vô hiệu. Đây cũng là 2 đặc điểm đặc trưng của giao dịch dân sự vô hiệu:
Vi phạm một trong các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự do pháp luật quy định: đặc điểm này tuân theo đúng tinh thần của quy định về giao dịch dân sự tại Điều 127 BLDS 2005. Một đặc điểm mang tính quyết định một giao dịch trở nên vô hiệu đó là việc giao dịch đó không tuân thủ đầy đủ 4 điều kiện mà pháp luật đã quy định đối với giao dịch dân sự có hiệu lực tại Điều 122 BLDS: điều kiện về năng lực hành vi dân sự của chủ thể tham gia giao dịch, điều kiện về mục đích và nội dung của giao dịch, điều kiện về sự tự nguyện của chủ thể và điều kiện về hình thức trong một số trường hợp pháp luật quy định.
/tai-lieu/de-tai-ung-dung-tren-liketly-37807/
Để tải bản DOC Đầy Đủ thì Trả lời bài viết này, mình sẽ gửi Link download choTóm tắt nội dung:
uyền để xác lập, thực hiện giao dịch dân sự đó. Tuy nhiên pháp luật cũng quy định rõ pháp nhân chỉ được tham gia các giao dịch dân sự thuộc chức năng, nhiệm vụ của pháp nhân; hộ gia đình chỉ được tham gia các giao dịch dân sự liên quan đến quyền sử dụng đất, đến hoạt động sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp và trong một số lĩnh vực sản xuất kinh doanh khác theo quy định pháp luật; còn tổ hợp tác chỉ được tham gia các giao dịch dân sự liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh của tổ được xác định trong hợp đồng hợp tác. Nếu tham gia vào các giao dịch dân sự không thuộc lĩnh vực hoạt động đã được pháp luật quy định như trên, pháp nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác đều coi là đã vi phạm 1 trong các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự, tất nhiên giao dịch đó sẽ bị coi là vô hiệu.
2.2. Điều kiện về mục đích và nội dung của giao dịch dân sự:
“Mục đích của giao dịch dân sự là lợi ích hợp pháp mà các bên mong muốn đạt được khi xác lập giao dịch đó” (Điều 123 BLDS 2005). Trong bất kỳ một giao dịch nào, các bên tham gia đều hướng đến một mục đích nhất định, từ đó sẽ có sự xác lập quyền và nghĩa vụ (tức là nội dung của giao dịch) nhằm hiện thực hóa mục đích đó. Như vậy mục đích và nội dung của giao dịch có quan hệ chặt chẽ 2 chiều với nhau.
Mục đích và nội dung là một trong những yếu tố chủ yếu tạo thành một giao dịch dân sự, do vậy điều kiện về mục đích và nội dung của giao dịch cũng là những điều kiện cần thiết cho một giao dịch dân sự hợp pháp: “Mục đích và nội dung của giao dịch không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội”. Điều cấm của pháp luật được hiểu là những quy định của pháp luật không cho phép chủ thể thực hiện những hành vi nhất định. Việc quy định cụ thể những điều cấm của pháp luật là để đảm bảo lợi ích công cộng và của các chủ thể. Còn đạo đức xã hội là những chuẩn mực ứng xử chung giữa người với người trong đời sống xã hội, được cộng đồng thừa nhận và tôn trọng. Tuy nhiên trong thực tế, căn cứ để xác định mục đích và nội dung của giao dịch dân sự trái với đạo đức xã hội khá phức tạp vì đó là những chuẩn mực ứng xử do cộng đồng xã hội tự đặt ra và thừa nhận nó như những quy tắc chung chứ không được quy định cụ thể, rõ ràng trong các văn bản pháp luật như các điều cấm của pháp luật.
2.3. Điều kiện về ý chí của chủ thể tham gia giao dịch dân sự:
Bản chất của giao dịch dân sự là sự thống nhất giữa ý chí và bày tỏ ý chí tức là các chủ thể tham gia giao dịch phải có sự tự nguyện. Đây cũng là một trong các điều kiện tiên quyết để 1 giao dịch dân sự có hiệu lực “Người tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện”.
Khi tham gia giao dịch dân sự, mỗi chủ thế đều có những nguyện vọng, mong muốn để tạo cơ sở cho việc xác lập các quyền và nghĩa vụ trong giao dịch đó. Nhưng để có thể đạt được mục đích của giao dịch, các chủ thể phải có sự thống nhất giữa ý chí và bày tỏ ý chí. Nếu không thỏa mãn điều này tức là các chủ thể đã vi phạm điều kiện về sự tự nguyện trong giao dịch đồng nghĩa với việc giao dịch dân sự được xác lập sẽ bị coi là vô hiệu. Pháp luật cũng quy định một số trường hợp cụ thể mà giao dịch dân sự được thiết lập không có sự tự nguyện của các chủ thể tham gia giao dịch: giao dịch dân sự được xác lập bởi sự giả tạo, nhầm lẫn, lừa dối, đe dọa hay giao dịch xác lập vào thời điểm mà người xác lập không nhận thức, làm chủ được hành vi của mình. Tất nhiên, những giao dịch được xác lập bởi những yếu tố kể trên tức là đã vi phạm vào nguyên tắc tự nguyện của chủ thể sẽ bị coi là vô hiệu.
2.4. Điều kiện về hình thức của giao dịch dân sự:
Hình thức giao dịch dân sự là cách thức thể hiện ý chí ra bên ngoài dưới 1 hình thức nhất định của các bên tham gia giao dịch. Theo quy định của pháp luật hiện hành thì “Hình thức giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch trong trường hợp pháp luật có quy định”. Như vậy hình thức của giao dịch chỉ trở thành điều kiện có hiệu lực trong một số trường hợp được pháp luật quy định. Đây là điểm mới trong BLDS 2005 so với bộ luật cũ. Tại Điều 131 BLDS 1995 thì hình thức của giao dịch được quy định là một trong 4 điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự và bất cứ giao dịch nào vi phạm quy định về hình thức đều bị coi là vô hiệu chứ không chỉ trong một số trường hợp như pháp luật hiện hành.
Đối với các giao dịch dân sự mà pháp luật không quy định hình thức bắt buộc thì giao dịch đó có thể được thể hiện dưới bất kỳ hình thức nào chẳng hạn như bằng lời nói, bằng văn bản hay bằng hành vi cụ thể:
+ Hình thức miệng (bằng lời nói) : đây được coi là hình thức phổ biến nhất trong xã hội hiện nay dù đó cũng là hình thức có độ xác thực thấp nhất. Hình thức này thường được áp dụng đối với các giao dịch được thực hiện ngay và chấm dứt ngay sau đó hay giữa các chủ thể có mối quan hệ thân tín, tin cậy.
+ Hình thức văn bản: thể theo sự thỏa thuận của các chủ thể tham gia giao dịch hay do pháp luật quy định, các bên xác lập giao dịch bằng hình thức văn bản, trên đó phải có chữ ký xác nhận của chủ thể nhằm xác minh sự tham gia giao dịch của các chủ thể. Ngoài ra, có một số trường hợp các bên thỏa thuận hay pháp luật quy định giao dịch bắt buộc phải lập thành văn bản có chứng nhận chứng thực, đăng ký hay xin phép mà thông thường là đối với các giao dịch dân sự có đối tượng Nhà nước cần kiểm soát trong lưu thông dân sự hay đối tượng của giao dịch dân sự có giá trị lớn ( đất đai, nhà cửa…). Trong các trương hợp đó, các chủ thể buộc phải tuân theo quy định của pháp luật về hình thức để có thể đảm bảo giao dịch dân sự phát sinh hiệu lực.
+ Hình thức bằng hành vi: chẳng hạn như rút tiền từ trạm ATM, gọi điện thoại ở bốt công cộng, mua nước bằng máy tự động... Đây cũng là hình thức giản tiện nhất của giao dịch do không cần thiết phải có sự hiện diện của tất cả các bên tham gia giao dịch.
Giao dịch dân sự là một chế định rất quan trọng và có ý nghĩa to lớn. Những quy định về giao dịch dân sự là sự cần thiết cấp bách không thể thiếu trong việc điều chỉnh mối quan hệ cơ bản của pháp luật dân sự. Tuy nhiên để có thể bảo đảm trọn vẹn quyền lợi của các chủ thể tham gia giao dịch, pháp luật cũng đề ra các điều kiện có hiệu lực của một giao dịch dân sự hợp pháp, từ đó xác định những giao dịch nào vi phạm các điều kiện đó sẽ bị coi là vô hiệu, sẽ phải chịu những hậu quả pháp lý phát sinh từ việc tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu đó. Vậy cụ thể, giao dịch dân sự vô hiệu là gì? Hậu quả pháp lý của nó ra sao? Nghiên cứu tìm hiểu vấn đề này sẽ giúp chúng ta có phương hướng để hoàn thiện thêm chế định giao dịch dân sự nói chung.
II. Giao dịch dân sự vô hiệu và hậu quả pháp lý của việc tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu:
Giao d