1
DANH MỤC CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT
GIS : Geographic Infomational System
UBND : Ủy ban nhân dân
CSDL : Cơ sở dữ liệu
HĐND : Hội đồng nhân dân
HTTTĐL : Hệ thống thông tin địa ký
NSBQ : Năng suất bình quân
ĐTQHR : Điều tra quy hoạch rừng
RTN : Rừng tre nứa
ĐTC : Đất thổ cư
NR : Nương rẫy
RL : Ruộng lúa
ĐK : Đất khác
HG : Hỗn giao
RT TL : Rừng trồng
ĐNN : Đất nông nghiệp
SHA : Sông hồ, ao
NĐ : Núi đá
RNĐ : Rừng núi đá
CHXHCN : Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
DT : Diện tích
DTBD : Diện tích biến động
DANH MỤC CÁC BẢNG
1
2
2
3
DANH MỤC CÁC HÌNH
MỤC LỤC
3
phục vụ cho công tác quản lý bảo vệ rừng.
Trước đây theo phương pháp truyền thống, việc đánh giá diễn biến tài
nguyên rừng chủ yếu dựa vào quá trình điều tra, quan sát, trắc địa, tổng hợp phân
tích thông tin thu thập được ngoài thực địa thành bảng tổng hợp hay chỉ ở dạng
các bản đồ mô tả địa hình, ranh giới hiện trạng rừng hay chỉ là các văn bản lưu
trữ, các số liệu thống kê hay là sự kết hợp giữa chúng. Do đó phương pháp này
tiêu tốn nhiều thời gian và kinh phí, đồng thời độ tin cậy không cao, hơn nữa
việc cập nhật quản lý những biến đổi là khó khăn và không mang được những
thông tin về sự thay đổi trên phạm vi rộng như rừng.
Xã Nông Hạ huyện Chợ Mới tỉnh Bắc Kạn là một xã có diện tích rừng
lớn nhưng từ năm 1999 đến nay đã có phần giảm xuống do thiên tai, cháy
rừng, và một số người dân ý thức kém liên tiếp khai thác trái phép tài nguyên
rừng. Trong giai đoạn 2006 - 2011 dưới sự chỉ đạo của Nhà nước và các cơ
quan trong tỉnh diện tích rừng được cải thiện đáng kể. Kế hoạch giao đất giao
rừng được bà con trong huyện hưởng ứng.
Để ứng dụng GIS vào nghiên cứu đề tài thuận lợi cho quá trình đánh giá
tài nguyên thiên có áp dụng các công cụ kĩ thuật hiện đại tôi tiến hành nghiên
cứu đề tài : “Ứng dụng GIS dánh giá diễn biến tài nguyên rừng giai đoạn
2006-2011 tại xã Nông Hạ huyện Chợ Mới tỉnh Bắc Kạn”
1.2. Mục đích của đề tài
Đánh giá diễn biến tài nguyên rừng nhằm đánh giá được biến động rừng
trong một giai đoạn nhất định, từ đó thấy được những hiệu quả trong công tác
quản lý, hiệu quả trong việc áp dụng các chính sách quản lý và phát triển
rừng. Mặt khác qua kết quả biến động thấy được những kết quả không tốt
trong quản lý bảo vệ, từ đó tìm hiểu nguyên nhân và đề xuất các giải pháp
nhằm nâng cao công tác quản lý bảo vệ rừng.
5
6
1.3. Mục tiêu nghiên cứu
- Thành lập được bản đồ hiện trạng rừng năm 2006 xã Nông Hạ huyện
tài nguyên rừng trên khu vực.
Bản đồ tài nguyên rừng là tài liệu quan trọng và cần thiết cho công tác
quản lý, phát triển tài nguyên rừng và cho các ngành kinh tế, kỹ thuật khác
đang sử dụng và khai thác tài nguyên rừng,
Bản đồ hiện trạng rừng được thành lập nhằm mục đích:
- Thể hiện kết quả thống kê, kiểm kê rừng trên bản vẽ.
- Xây dựng tài liệu cơ bản phục vụ quản lý, phát triển tài nguyên rừng.
- Là tài liệu phục vụ và xây dựng phương án quy hoạch lâm nghiệp, kế
hoạch sử dụng hợp lý tài nguyên rừng, lập phương án bảo vệ, quản lý rừng,
đất rừng và kiểm tra thực hiện kế hoạch lâm nghiệp đã được phê duyệt của
các địa phương và các ngành kinh tế.
Bản đồ hiện trạng rừng được xây dựng cho từng cấp hành chính: xã,
huyện, tỉnh, toàn quốc.
2.1.1.2. Tỷ lệ
Tỷ lệ bản đồ hiện trạng rừng được quy định trong quy trình thành lập bản
đồ hiện trạng rừng – Viện Điều tra quy hoạch rừng năm 1991 như sau:
7
8
- Tiểu khu: 1/5000 – 1/10000
- Cấp xã: 1/10000 – 1/25000
- Cấp huyện: 1/25000 – 1/50000
- Cấp tỉnh: 1/50000 – 1/100000
- Toàn quốc: 1/200000 – 1/1000000
2.1.1.3. Nội dung
Bản đồ hiện trạng rừng thể hiện các nội dung sau đây:
1. Đường bình độ
2. Hệ thống thủy văn
3. Đường giao thông
4. Điểm dân cư
5. Các đối tượng: Công nghiệp, nông nghiệp, văn hóa – xã hội như lâm
lượng đáng kể nằm trong hai kiểu trên. Chỉ được xếp vào kiểu 1C khi số
lượng cây gỗ tái sinh có chiều cao trên 1 mét đạt từ 1000 cây/ha trở lên.
2) Nhóm II:
Rừng phục hồi cây tiên phong có đường kính nhỏ. Dựa vào hiện trạng và
nguồn gốc, nhóm này chia thành:
* Kiểu IIA: đây là trạng thái rừng phục hồi sau nương rẫy được đặc
trưng bởi lớp cây tiên phong, ưa sáng, mọc nhanh, thường đều tuổi và có
kết cấu 1 tầng.
* Kiểu IIB: là trạng thái rừng phục hồi sau khai thác kiệt. Phần lớn
trạng thái này bao gồm những quần thụ non với những loài cây tương đối
ưa sáng. Thành phần loài phức tạp, không đều tuổi do tổ thành loài cây ưu
thế không rõ ràng. Vượt lên khỏi tán rừng có thể còn sót lại một số cây của
9
10
quần thụ cũ nhưng trữ lượng không đáng kể. Đường kính của tầng cây phổ
biến không vượt quá 20cm.
3) Nhóm III: kiểu rừng thứ sinh đã bị tác động. Bao gồm các quần thụ
rừng đã bị khai thac bởi con người ở nhiều mức độ khác nhau khiến cho kết
cấu rừng bị thay đổi.
* Kiểu IIIA: quần thụ đã bị khai thác nhièu nhưng hiện tại đã bị hạn
chế. Cấu trúc ổn định của rừng đã bị thay đổi cơ bản hoặc phá vỡ hoàn
toàn. Kiểu này được chia thành 1 số kiểu phụ.
- Kiểu phụ IIIA1: rừng đã bị khai thác kiệt quệ, tán rừng bị phá vỡ
từng mảng lớn. Tầng trên có thể còn sót lại 1 số cây tầng cao, to nhưng
phẩm chất xấu. Nhiều dây leo, bụi rậm, tre nứa xâm lấn. Tuỳ theo tình hình
tái sinh, kiểu phụ này được chia nhỏ thành:
+ IIIA1-1: thiếu tái sinh (<1000 cây tái sinh mục đích có triển vọng/ ha).
+ IIIA1-2: đủ cây tái sinh (>1000 cây tái sinh mục đích có triển vọng/ ha).
- Kiểu phụ IIIA2: rừng đã khai thác quá mức nhưng đã có thời gian
phục hồi tốt. đặc trưng là đã hình thành tầng giữa vươn lên chiếm ưu thế
Biến động về chất lượng rừng như: Biến động về tổ thành loài, phẩm
chất gỗ, tỷ lệ thương phẩm, độ phì của đất… khi chất lượng rừng bị giảm
sút người ta gọi đó là sự suy thoái của rừng. Sự suy thoái của rừng chính là
sự thay đổi kết cấu, tổ thành rừng, có thể từ rừng kín sang rừng thưa, rừng
giàu sang rừng nghèo, từ rừng gỗ sang rừng tre nứa… sự thay đổi này
không có lợi cho quần thụ hoặc lập địa, khả năng cung cấp lâm sản cũng
như phòng hộ môi trường, tiềm năng du lịch sinh thái cảnh quan cũng bị
suy giảm.
2.1.2.3. Các nguyên nhân gây biến động
Các nguyên nhân chính gây ra thay đổi diện tích rừng và đất lâm
nghiệp bao gồm:
11
12
- Trồng rừng
- Khai thác rừng
- Cháy rừng
- Sâu bệnh hại rừng
- Phá rừng (làm nương rẫy)
- Chuyển mục đích sử dụng đất và rừng
- Tăng phẩm chất rừng do khoanh nuôi, bảo vệ hoặc tái tạo tự nhiên
- Một số thay đổi khác…
2.2. Những nghiên cứu trên thế giới
(HTTTĐL) được sử dụng sớm nhất vào năm 1854 bởi một người Anh tên là
John Snow. Ông đã mô tả sự lây lan của bệnh dịch tả ở Luân Đôn bằng cách đánh
dấu các điểm dịch lên bản đồ, và cách làm của ông đã mang lại hiệu quả trong
việc xác định hướng lây lan của dịch bệnh và kịp thời ngăn chặn.
Năm 1962, (HTTTĐL) đầu tiên hoạt động thực sự trên thế giới được ra
đời tại Canada, được phát triển bởi cục phát triển nông lâm nghiệp Canada.
Đó là công trình nghiên cứu của tiến sĩ Roger Tomlinson có tên là Canada
Geographic Information System (CGIS). Hệ thống này được sử dụng để lưu
kế để làm việc với các dữ liệu tham chiếu bởi các tọa độ không gian hay
địa lý”. [15]
Theo Davis (2001): “GIS là một công nghệ dựa trên máy tính và phương
pháp luận thu nhập, quản lý, phân tích, mô hình hóa, và trình bày dữ liệu địa
lý cho một phạm vi rộng của các ứng dụng”. [13]
Theo Clarke (2001): “GIS là một hệ thống tự động để chụp, lưu trữ, thu
hồi, phân tích và hiển thị các dữ liệu không gian”. [12]
Hiện nay, trên thế giới công nghệ GIS đang được phát triển mạnh trên
các lĩnh vực quản lý tài nguyên như:
13
14
Viện tài nguyên thế giới (World Resoure Insitute – WRI) đã sử dụng
GIS để đánh giá ảnh hưởng của phá rừng với các quốc gia và người dân
trên toàn thế giới. Ứng dụng GIS để kiếm soát diện tích rừng trên toan
cầu.Ngoài ra GIS con hỗ trợ phân tích so sánh diện tích rừng hiện nay so
với diện tích rừng trong quá khứ, cho thấy xu hướng thu hẹp ngày nhanh
của diện tích này và tốc độ thu hẹp ở các vùng khác nhau.Với phần mền
GIS, các dự báo có thể phân tích dưới dạng bản đồ hoặc biểu đồ.
Tại Malaysia, công nghệ GIS đã được coi như là một nhiệm vụ quan
trọng trong các nghành công nghiệp liên quan đến dầu khí, quản lý thiên
tai… GIS cũng rất hữu ích cho Chính phủ và các đồn điền lớn nhằm nỗ lực
hơn trong việc hướng tới mục tiêu than thiện môi trường. Nhiều công ty ở
Malaysia đang tạo ra lợi nhuận từ công nghệ lập bản đồ trên máy tính sử
dụng hệ thống định vị toàn cầu (GPS) và hệ thống thông tin địa lý GIS
trong các hoạt động như: Xác định cây trồng phù hợp cho từng địa phương
và theo mùa, tối ưu hóa phân bón và số lương thuốc trừ sâu, tính toán chính
xác năng suất cho từng loại cây trồng.
Bằng quá trình định dạng địa hình, vị trí địa lý, kỹ thuật xây dựng, GIS
có thể giúp dự báo thời gian và địa điểm có thể xảy ra các sự cố như động
đất, núi lửa cũng như hậu quả có thể có. Cơ quan kiểm soát sự cố địa chấn
quyết các vấn đề tổng hợp thông tin cho các mục đích của con người đặt ra,
chẳng hạn như: Để hỗ trợ cho việc ra các quyết định cho việc quy hoạch và
quản lý sử dụng đất, tài nguyên thiên nhiên và môi trường, giao thông, dễ
dàng trong việc quy hoạch phát triển đô thị và những việc lưu trữ các dữ
liệu hành chính. [5]
15
16
Tại Việt Nam công nghệ GIS được thí điểm khá sớm và đến nay được
ứng dụng trong khá nhiều nghành như quy hoạch nông lâm nghiệp, quản lý
rừng, đo đạc bản đồ, quản lý đô thị… đã mang lại hiệu quả bước đầu cho
hoạt động phát triển kinh tế xã hội và an ninh quốc phòng của nước ta và
đang có nhiều triển vọng phát triển nhanh trong thời gian tới. Hàng loạt các
chương trình, dự án GIS với sự tham gia của các trường đại học, các viện
nghiên cứu, các chuyên gia trong và ngoài nước đã được triển khai có thể
kể đến như:
Dự án của Chương trình phát triển Liên Hiệp Quốc (United Nation
Development Programme) ứng dụng viễn thám ở Việt Nam là nâng cao năng
lực về thống kê rừng ở viện Điều tra quy hoạch rừng vào những năm 80. Sau
đó, UNDP tiếp tục tài trợ dự án thứ hai mà đối chính là các nhà khoa học
thuộc Viện khoa học và Công nghệ Việt Nam trong vài năm. Vào những năm
90, Việt Nam đã thu hút một số lớn các dự án quốc tế trong lĩnh vực nâng cao
quản lý môi trường vào quản lý tài nguyên trong đó GIS luôn là hợp phần
quan trọng.
Ngoài các dự án được đầu tư theo các chương trình dự án, trong những
năm gần đây các nhà khoa học Việt Nam cũng đã có nhiều đề tài nghiên cứu
ứng dụng GIS liên quan đến quản lý tài nguyên rừng:
Ứng dụng phương pháp viễn thám và GIS để giám và đánh giá nhanh sự
thay đổi của lớp phủ thực vật ở khu vực diện tích rừng mới mở rộng ở huyện
Nam Đông, tỉnh Thừa Thiên Huế của vườn quốc gia Bạch Mã.
Chu Hải Tùng (2007) nghiên cứu khả năng ứng dụng kết hợp ảnh vệ tinh
bảo tồn như quản lý dữ liệu ảnh hưởng đến biến động tài nguyên rừng và xây
17
18
dựng được bản đồ hiên trạng rừng… nhìn chung còn nhiều hạn chế, trong khi
đó đây là công nghệ thích hợp và có hiệu quả để theo dõi diễn biến tài nguyên
rừng và quản lý có hiệu quả.
2.4. Điều kiện tự nhiên kinh tế và kinh tế xã hội của khu vực nghiên cứu
2.4.1. Điều kiện tự nhiên
2.4.1.1. Vị trí địa lý
Nông Hạ là một xã của Chợ Mới tỉnh Bắc Kạn, xã có hình dạng kéo dài
theo chiều đông – tây với vị trí:
Hình 2.1. Ranh giới xã Nông Hạ
- Phía Bắc giáp xã Thanh Mai, Cao Kỳ
- Phía Đông giáp xã Yên Cư, Yên Hân
- Phía Nam giáp xã Bình Văn, Như Cố, Thanh Bình và Nông Thịnh
- Phía Tây giáp xã Tân Thịnh của huyện Định Hóa - Thái Nguyên
2.4.1.2. Đặc điểm địa hình địa thế
Hệ thống các núi thuộc cánh cung sông Gâm chạy dọc phía tây của địa
bàn huyện. Nham thạch chủ yếu ở đây là đá phiến – thạch anh, cát kết, đá
18
19
vôi… nằm trên nền đá kết linh cổ. Địa hình cao ở phía bắc - tây bắc với
những đỉnh núi cao trên 1000m và khi xuống phía nam giam dần thành những
đồi núi thấp dạng bát úp, ít hiểm trở với độ cao vài trăm mét. Núi đồi ở đây có
đỉnh bằng,sườn thoải, cao nhất là đỉnh núi thuộc dãy Nam Khiếu Thượng với
độ cao khoảng 1640m, nơi thấp nhất khoảng 40m thuộc khu vực Quảng Chu.
Trên địa bàn có chợ Chu hợp lưu tại thị trấn Chợ Mới, nhánh NaRi bắt
nguồn từ xã Yên Cư phía tây nam huyện chảy theo hướng đông bắc, đến xã
Lương Thành hợp lưu sông Bắc Giang tại Pác Cáp.
2.4.1.3. Đặc điểm đất đai
9 88,70 137,50
10 83,70 12,10
11 74,70 1,60
12 77,30 130,00
(Nguồn : Trạm khí tượng huyện Chợ Mới- Bắc Kạn)
Lượng mưa trung bình hàng năm ở Chợ Mới trong khoảng 1,60mm –
1386,3mm. Cũng như chế độ nhiệt, mưa ở đây chia thành 2 mùa rõ rệt mùa
mưa trùng với mùa nắng trong năm kéo dài từ tháng 5 đến tháng 10 với 85% -
90% lượng mưa cả năm. Thời gian còn lại là mùa ít mưa. Trong mùa mưa, có
những tháng có thể tới 15 – 20 ngày có mưa. Mùa ít mưa với số ngày mưa
20
21
trong tháng là dưới 10 ngày và lượng mưa không đáng kể, có khi gần như cả
tháng không có mưa hoặc chỉ mưa phùn, mưa mù.
Mùa ít mưa (từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau) có thể chia thành 2 thời
kỳ: Đầu mùa (thường từ tháng 4 đến tháng 1 năm sau) do ảnh hưởng các khối
khí lục địa lạnh, khô nên rất ít mưa, có khi cả tháng hanh khô, với thời tiết
trong xanh, ngày nắng úa, đêm lạnh, gây hạn hán và hay có sương muối. Thời
kỳ cuối mùa khô, do độ ẩm không khí cao, mây mù, mưa phùn, gây cảm giác
rất lạnh, ẩm thấp.
Trên địa bàn xã có hệ thống Sông Cầu chảy qua, nguồn nước này phục
vụ cho nhu cầu sinh hoạt và sản xuất của nhân dân. Ngoài ra sông Cầu còn là
nơi nông dân khai thác cát, sỏi làm nguyên liệu xây dựng, góp phần làm tăng
thu nhập và giải quyết việc làm lúc nông nhàn.
2.4.2. Điều kiện kinh tế, xã hội
2.4.2.1. Điều kiện kinh tế
* Ngành trồng trọt:
Sản xuất nông nghiệp của xã cây trồng chính chủ yếu là lúa, năng xuất
các vụ lùa trong năm bình quân 2003 đạt 43.5 tạ/ha, năm 2004 bình quân đạt
44 tạ/ha, năm 2005 bình quân đạt 44 tạ/ha. Theo thống kê mới nhất của xã
2400m, mương Nà Cắn – Nà Bia – Tổng Vạc dài 1200m, tuyến mương Bản
Tết dài 1800m hệ thống mương tập trung phía đông nguồn nước dồi dào nên
thuận lợi cung cấp nước cho đồng ruộng nhưng một số nơi của xã vẫn thiếu
nước vào mùa sản xuất chậm thời gian sản xuất nông nghiêp vì vậy xã cần
phải chú trong nhiều hơn vấn đề thủy lợi .
2.4.2.4. Tình hình dân số
Tính đến 31/07/2005 dân số toàn xã là 3676 nhân khẩu, 853 hộ trong đó
có 7 hộ gia đình tập thể. Dân số phân bố không đồng đều, tập trung đông dọc
trục đường quốc lộ 3, số còn lại phân bố rải rác các làng bản trong xã.
22
23
2.4.2.5. Về dân tộc
Nông Hạ có 5 dân tộc anh em như: Dao, Tày, Nùng, Kinh, Sán chí. Phân
bố trên 14 thôn (bản). Dân số phân bố không đều, những năm gần đây do làm
tốt những công tác kế hoạch hóa gia đình nên tỷ lệ tăng dân số giảm. Năm
2005 tỷ lệ tăng dân số tự nhiên là 1,5%.
2.4.2.6. Về lao động
Tổng số lao động trong xã có 2289 lao động, chiếm 62,3% dân số. Trong
đó: Lao động nông, lâm nghiệp chiếm 89% tổng số lao động toàn xã. Phần
lớn là lao động chưa qua đào tạo. Hiện nay, việc làm cho người lao động đang
là vấn đề được chính quyền cũng như nhân dân rất quan tâm, đặc biệt là lao
động nông nhàn lúc kết thúc mùa vụ, để giải quyết việc làm cho người lao
động cần phải kết hợp chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển các ngành nghề
sử dụng lao động phổ thông. Gắn mục tiêu giải quyết việc làm với chiến lược
phát triển kinh tế, ổn định đời sống nhân dân và trật tự an toàn xã hội.
2.4.2.7. Về văn hóa
Hoạt động văn hóa tuyên truyền các chủ trương của Đảng, chính sách,
pháp luật của nhà nước và nhiệm vụ chính trị của từng địa phương tới người
dân, cụ thể tuyên truyền trên loa truyền thanh 1 lần/1 tuần. Các phong trào
toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống mới trong các khu dân cư và bài trừ các
phát triển đó.
2.4.2.9. Về y tế
Trên địa bàn có một trạm y tế với 1 bác sỹ, 3 y sỹ và 10 giường bệnh.
Nhìn chung công tác chăm sóc sức khỏe ban đầu cho nhân dân và thực hiện
các chương trình y tế Quốc gia như: Các hoạt động khám chữa bệnh được duy
24
25
trì hàng năm. Tiêm chủng 6 loại vacxin cho trẻ dưới 1 tuổi, tiêm phòng viêm
não Nhật Bản. Bên cạnh đó y tế xã tham gia tích cực công tác dân số, kế
hoạch hóa gia đình, chương trình phòng chống sốt rét, chống bướu cổ, tư vấn
tuyên truyền phòng chống HIV/ AIDS.
2.4.2.10. Về giáo dục
Nông Hạ có trường tiểu học, trường mầm non của huyện được xây dựng
trên địa bàn xã, trong những năm vừa qua cả hai ngành học Mầm non và Phổ
thông đảm bảo duy trì tốt về số học sinh đến trường tương đối. Đặc biệt vào
tháng 1 năm 2005 được phòng giáo dục chọn làm điểm thi điền kinh, cả hai
trường Tiểu học, THCS đều đạt giải nhất toàn huyện. Phong trào thi đua “Dạy
tốt – học tốt” được duy trì thường xuyên và có hiệu quả.
2.4.3. Đặc điểm tài nguyên đất
Đất đai ở xã Nông Hạ chia thành hai loại chính
- Đất ruộng: Là do tích tụ phù xa của sông Cầu và các suối, đất có tầng phù
xa dày, có màu sám đen, có hàm lượng đạm, lân, kali ở mức trung bình, loại đất
này phù hợp cho các loài cây lương thực và các loại cây hoa màu.
- Đất đồi: là đất feralit màu vàng, thành phần cơ giới thịt nhẹ đến trung
bình, nghèo dinh dưỡng và ở nơi có độ dốc tương đối lớn, loại đất này thích
hợp cho các loại cây công nghiệp lâu năm và trồng rừng.
- Tình hình sử dụng đất đai của xã: do địa hình núi dốc, đất đai chia cắt
phức tạp hình thành các tiểu khí hậu khác nhau về điều kiện tự nhiên và môi
trường tập quán sản xuất, do đó quá trình sản xuất nông lâm nghiệp gặp nhiều
khó khăn và hạn chế.