1
Phần 1
MỞ ĐẦU
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong giai đoạn hiện nay và trong thời gian tới, tài nguyên rừng cần
được quản lý dựa vào các tiến bộ để nâng cao chất lượng và hiệu quả của
đánh giá diễn biến tài nguyên rừng. Trong đó việc vận dụng công nghệ GIS
là một nhu cầu khách quan.Vì theo dõi diễn biến tài nguyên rừng và đất
lâm nghiệp là nhiệm vụ quan trọng trong quản lý nhà nước trong lĩnh vực
bảo vệ và phát triển rừng được quy định trong luật bảo vệ và phát triển
rừng. Nghành lâm nghiệp tổ chức thực hiện một số đợt kiểm kê rừng toàn
quốc công bố vào các năm 1977, 1991, 1999, 2006 và 2010. Do đó nếu vận
dụng được GIS sẽ là một giải pháp hữu hiệu không chỉ cho quản lý vĩ mô
mà cả quản lý vi mô ở cơ sở trong quản lý.
Xã Cao Kỳ huyện Chợ Mới tỉnh Bắc Kạn đang hướng tới việc phát
triển rừng bền vững, xuất phát từ thực tế hiện nay với diện tích rừng ngày
càng thay đổi và suy thoái cùng với việc chuyển đổi giữa các trạng thái rừng
tự nhiên. Do tác động của con người (chủ yếu là các hoạt động khai thác và
kinh tế), hay các tác động khác của thiên nhiên. Trong các nguyên nhân làm
cho rừng ngày càng bị suy thoái, nguyên nhân quan trọng nhất là việc sử dụng
không hợp lý (theo báo cáo công tác của HĐND xã năm 2011) [1]. Do đó, đòi
hỏi có những phương pháp nghiên cứu hỗ trợ trong việc theo dõi diễn biến tài
nguyên rừng, để phân tích được các nguyên nhân gây ra biến động rừng và để
đề ra các giải pháp nâng cao công tác quản lý bảo vệ rừng trên địa bàn.
Theo phương pháp truyền thống, việc đánh giá diễn biến tài nguyên rừng
chủ yếu dựa vào quá trình điều tra, quan sát, trắc địa ,tổng hợp phân tích thông
tin thu thập được ngoài thực địa thành bảng tổng hợp hay chỉ ở dạng các bản đồ
mô tả địa hình, ranh giới hiện trạng rừng hay chỉ là các văn bản lưu trữ, các số
liệu thống kê hay là sự kết hợp giữa chúng. Do đó phương pháp này tiêu tốn
nhiều thời gian và kinh phí, đồng thời độ tin cậy không cao, hơn nữa việc cập
nhật quản lý những biến đổi là khó khăn và không mang được những thông tin
1.2. Mục đích của đề tài
Đánh giá diễn biến tài nguyên rừng nhằm đánh giá được biến động
rừng trong một giai đoạn nhất định, từ đó thấy được những hiệu quả trong
công tác quản lý, hiệu quả trong việc áp dụng các chính sách quản lý và phát
triển rừng. Mặt khác qua kết quả biến động thấy được những kết quả không
2
3
tốt trong quản lý bảo vệ, từ đó tìm hiểu nguyên nhân và đề xuất các giải pháp
nhằm nâng cao công tác quản lý bảo vệ rừng.
1.3. Mục tiêu nghiên cứu
- Thành lập được bản đồ hiện trạng rừng năm 2006 xã Cao Kỳ huyện
Chợ Mới tỉnh Bắc Kạn
- Thành lập được bản đồ hiện trạng rừng năm 2011 xã Cao Kỳ huyện
Chợ Mới tỉnh Bắc Kạn
- Đánh giá được sự biến động về diện tích, trạng thái rừng tại giai xã
Cao Kỳ huyện Chợ Mới tỉnh Bắc Kạn đoạn 2006 - 2011
- Phân tích được các nguyên nhân gây biến động rừng và đề xuất các
giải pháp để nâng cao công tác quản lý bảo bệ rừng tại xã Cao Kỳ huyện Chợ
Mới tỉnh Bắc Kạn.
1.4. Ý nghĩa của đề tài
1.4.1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu
Góp phần củng cố phương pháp nghiên cứu khoa học cho sinh viên,
giúp sinh viên vận dụng những kiến thức đã học trong trường vào công tác
nghiên cứu khoa học và thực tiễn sản xuất lâm nghiệp một cách có hiệu quả.
1.4.2. Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất
Góp phần khẳng định tính ưu việt của phương pháp làm bản đồ số so
với phương pháp làm bản đồ truyền thống mà trước hết là ứng dụng
HTTTĐL trong xây dựng khai thác thông tin bản đồ phục vụ theo dõi, đánh
giá biến động sử dụng rừng và quản lý rừng.
3
- Cấp tỉnh: 1/ 50000 - 1/ 100000
- Toàn quốc: 1/ 200000 - 1/ 1000000
4
5
2.1.1.3. Nội dung
Bản đồ hiện trạng rừng thể hiện các nội dung sau đây:
1. Đường bình độ
2. Hệ thống thủy văn
3. Đường giao thông
4. Điểm dân cư
5. Các đối tượng: Công nghiệp, nông nghiệp, văn hóa - xã hội như
lâm trường, xí nghiệp, đường tải điện…
6. Ranh giới hành chính tỉnh, huyện, xã
7. Ranh giới tiểu khu, lô
8. Hiện trạng rừng và đất lâm nghiệp
Bản đồ phải thể hiện được tỷ lệ xích và hướng quy ước( hướng Bắc )
2.1.1.4. Khái niệm rừng, phân loại rừng
Phân loại rừng theo chức năng
Căn cứ vào mục đích sử dụng chủ yếu, rừng được phân chia thành ba
loại sau đây:
Rừng sản xuất: Là rừng được dùng chủ yếu trong sản xuất gỗ, lâm sản,
đặc sản.
Rừng phòng hộ: Được sử dụng chủ yếu để bảo vệ nguồn nước, bảo vệ
đất, chống xói mòn, chống sa mạc hóa, hạn chế thiên tai, điều hòa khí hậu,
góp phần bảo vệ môi trường.
Rừng đặc dụng: Được sử dụng chủ yếu để bảo tồn thiên nhiên, mẫu
chuẩn hệ sinh thái rừng quốc gia, nguồn gen sinh vật rừng, nghiên cứu khoa
học, bảo vệ di tích lịch sử, văn hóa, danh lam thắng cảnh, phục vụ nghỉ
ngơi, du lịch, kết hợp phòng hộ, góp phần bảo vệ môi trường.
Phân loại rừng theo Loeschau
toàn. Kiểu này được chia thành 1 số kiểu phụ.
+) Kiểu phụ IIIA1: Rừng đã bị khai thác kiệt quệ, tán rừng bị phá vỡ
từng mảng lớn. Tầng trên có thể còn sót lại 1 số cây tầng cao, to nhưng
phẩm chất xấu. Nhiều dây leo, bụi rậm, tre nứa xâm lấn. Tuỳ theo tình hình
tái sinh, kiểu phụ này được chia nhỏ thành:
*) IIIA1-1: Thiếu tái sinh (<1000 cây tái sinh mục đích có triển vọng/ ha).
*) IIIA1-2: Đủ cây tái sinh ( >1000 cây tái sinh mục đích có triển vọng/ ha).
+) Kiểu phụ IIIA2: Rừng đã khai thác quá mức nhưng đã có thời gian
phục hồi tốt. đặc trưng là đã hình thành tầng giữa vươn lên chiếm ưu thế
sinh thái với lớp cây đại bộ phận có đường kính 20-30cm. Rừng có 2 tầng
6
7
trở lên, tầng trên tán không liên tục, được hình thành chủ yếu từ những cây
của tầng giữa trước đây, rải rác còn những cây to, khoẻ vượt tán của tầng
rừng cũ để lại. Kiểu phụ này chia nhỏ thành:
*) IIIA2-1: Thiếu tái sinh ( < 1000 cây tái sinh mục đích có triển vọng).
*)IIIA2-2: Đủ tái sinh (> 1000 cây tái sinh mục đích có triển vọng).
IV/ Nhóm IV: Là nhóm rừng thứ sinh giàu phục hồi hoàn toàn và
rừng nguyên sinh.
2.1.2. Cở sở khoa học của biến động hiện trạng rừng
Như chúng ta đã biết rừng là một hiện tượng khách quan luôn biến
đổi theo thời gian dưới tác động của thiên nhiên và con người. Nếu được
tác động tốt rừng sẽ phát triển, ngược lại nếu gặp tác động xấu rừng sẽ suy
kiệt. Vì vậy sự biến động tài nguyên rừng chính là một đặc trưng hết sức cơ
bản xét ở trạng thái động của nó.
Trong Lâm nghiệp khi đánh giá tài nguyên rừng người ta thường sử dụng
hai nhóm chỉ tiêu đó là: Biến động về số lượng và biến động về chất lượng.
2.1.2.1. Biến động về số lượng
Biến động về số lượng phân chia ra các loại biến động như sau:
- Biến động về tổng diện tích rừng
Hệ thống thông tin địa lý (HTTTĐL) đầu tiên trên thế giới được xây
dựng vào đầu những năm 60 của thế kỷ XX tại Canada với tên gọi CGIS
(Canadian Geographic Infomational System) và được ứng dụng ở rất nhiều
lĩnh vực khác nhau trên toàn thế giới.Cùng với Canada hang loạt các
trường Đại học Mỹ cũng tiến hành nghiên cứu và xây dựng các HTTTĐL
của mình.Tuy nhiên rất nhiều trong số đó đã không tồn tại được lâu,từ đây
có khái niệm về GIS như sau :
Theo Ducker (1979) định nghĩa: “GIS là trường hợp đặc biệt của hệ
thống thông tin ở đó cơ sở dữ liệu bao gồm sự quan sát các đặc trưng phân
bố không gian, các hoạt động sự kiện có thể được xác định trong khoảng
không như điểm, đường, vùng”.[15]
Star và Estes (1990) định nghĩa: “ GIS là một hệ thống thông tin được
thiết kế để làm việc với các dữ liệu tham chiếu bởi các tọa độ không gian hay
địa lý. Nói cách khác, GIS là cả một hệ thống cơ sở dữ liệu với khả năng cụ
thể cho dữ liệu không gian tham khảo, cũng như một bộ hoạt động để làm
việc với các dữ liệu”.[16]
Burrough và McDonnell (1998) [ định nghĩa: “GIS là một bộ công cụ
mạnh mẽ để lưu trữ và lấy theo ý muốn, chuyển đổi và hiển thị dữ liệu không
gian từ thế giới thực cho một mục đích thiết lập cụ thể”.[12]
8
9
Clarker (2001) định nghĩa: “ GIS là một hệ thống tự động để chụp, lưu
trữ, thu hồi, phân tích, và hiển thị dữ liệu không gian”.[13]
Davis (2001) định nghĩa: “ GIS là công nghệ trên máy tính và phương
pháp luận thu thập, quản lý, phân tích, mô hình hóa và trình bày dữ liệu địa lý
cho một phạm vi rộng các ứng dụng”.[14]
Worboys and Duckham (2004) định nghĩa GIS như là “ Một hệ thống
thông tin dựa trên máy tính cho phép chụp, mô hình, lưu trữ, thu hồi, chia sẻ,
thao tác, phân tích và trình bày dữ liệu địa lý tham chiếu”.
Trong GIS không quản lý các hình ảnh cụ thể mà nó quản lý một cơ
dãi.Hơn nữa với xu thế phát triển hiện nay, GIS không chỉ dừng lại ở một
quốc gia đơn lẻ mà ngày càng mang tính toàn cầu hóa.Đồng thời GIS gắn
với vị trí địa lý và các dữ liệu có liên quan , do đó có khả năng rất lớn trong
phân tích, quản lý các hệ sinh thái, phân bố, tái sinh loài….
2.3. Những nghiên cứu ở Việt Nam
Tại Việt Nam, mặc dù được biết đến khá sớm, nhưng mãi đến năm
2000, tức sau khi có được những kết quả về việc tổng kết chương trình GIS
Quốc gia ở Việt Nam, GIS mới thực sự được chú ý đến và bước đầu phát
triển.Từ đó, có những quan điểm về GIS như sau:
Bảo Huy (2009) Hệ thống thông tin địa lý (Geographic Information
System - GIS) là một nhánh của công nghệ thông tin và ngày càng được
phát triển rộng rãi. GIS ngày nay là công cụ trợ giúp quyết định trong nhiều
hoạt động kinh tế xã hội,quản lý môi trường của nhiều quốc gia trên thế
giới. GIS có khả năng trợ giúp các cơ quan Chính phủ, các nhà quản lý,
các nhà doanh nghiệp, các cá nhân….đánh giá được hiện trạng các quá
trình ,các hiện tượng tự nhiên, kinh tế - xã hội thông qua các chức năng thu
thập, quản lý, phân tích, truy vấn và tích hợp các thông tin được gắn với
một nền địa lý nhất quán và của các cơ sở dữ liệu đầu vào.[3]
Nguyễn Kim Lợi (2006), hệ thống thông tin địa lý (GIS) được định
nghĩa như là một hệ thống thông tin mà nó sử dụng dữ liệu đầu vào, các
thao tác phân tích, cơ sở dữ liệu đầu ra liên quan về mặt địa ly không gian
(Geographically or Geospatial), nhằm hỗ trợ việc thu nhận lưu trữ, quản lý,
xử lý, phân tích và hiển thị các thông tin không gian từ thế giới thực để giải
quyết các vấn đề tổng hợp thông tin cho các mục đích của con người đặt ra,
chẳng hạn như: Để hỗ trợ cho việc ra các quyết định cho việc quy hoạch và
quản lý sử dụng đất,tài nguyên thiên nhiên và môi trường, giao thông, dễ
10
11
dàng trong việc quy hoạch phát triển đô thị và những việc lưu trữ các dữ
liệu hành chính.[6]
11
12
nhiều thông tin về các đối tượng trên bề mặt tại các dải sóng khác nhau.
Nhiều đối tượng khó phân biệt trên ảnh quang học nhưng trên tổ hợp có thể
nhận biết được rất rõ ràng nhờ có các thông tin được tích hợp từ ảnh radar.
Hơn nữa các tập dữ liệu kết hợp còn cho phép phân biệt giữa các đối tượng có
mật độ khác nhau trên bề mặt…”.[10]
Nguyễn Trường Sơn (2007) nghiên cứu sử dụng ảnh vệ tinh và công
nghệ GIS trong việc giám sát hiện trạng tài nguyên rừng thử nghiệm tại 1 khu
vực cụ thể thấy rằng: Phương pháp viễn thám kết hợp GIS mang ý nghĩa quan
trọng và có tính ưu việt hơn so với các phương pháp truyền thống khác trong
nghiên cứu lớp phủ rừng tại các khu vực miền núi như khả năng xác định
nhanh diện tích lớp phủ, giám sát và đánh giá biến động rừng trên phạm vi
rộng lớn. Đề tài bước đầu xây dựng được quy trình giám sát hiện trạng tài
nguyên rừng bằng công nghệ viễn thám kết hợp GIS thông qua việc lập báo
cáo nhanh về biến động diện tích rừng tại khu vực thử nghiệm.[9]
Phạm Ngọc Tùng (2009) Ứng dụng công nghệ GIS trong điều chế rừng
tại công ty Lâm Nghiệp Nam Tây Nguyên, tỉnh Đắk Nông.[11]
Nguyễn Văn Sinh (2009) nghiên cứu sự biến động lớp phủ thực vật
bằng ảnh vệ tinh đa thời gian và ảnh hưởng của tới sự đa dạng sinh học ở các
khu bảo tồn thiên nhiên Nam Bộ.[8]
Hội thảo ứng dụng GIS toàn quốc (2011) ước tính sinh khối bề mặt tán
rừng sử dụng ảnh vệ tinh ALOS AVNIR - 2 thấy rằng: “ Kết quả đạt được
bước đầu trong ước tính sinh khối trên bề mặt tán rừng sử dụng ảnh ALOS
AVNIR cho trường hợp vườn quốc gia Cát Tiên đã góp phần làm rõ cơ sở lý
thuyết từ các tính toán thực nghiệm trên ảnh, nhằm đề xuất giải pháp hiệu quả
trong giám sát phủ thực vật”.[2]
Hoàng Trọng Khánh (2007) ứng dụng công nghệ GIS trong điều chế
rừng thử nghiệm tại khu rừng tự nhiên huyện Tuy Đức, tỉnh Đăk Nông.
Trường Đại học Tây Nguyên cho thấy khả năng khai thác Mapinfo trong điều
tương đối là 50 - 300m, vùng sản xuất nương rẫy cao từ 50 - 300m với độ
dốc tương đối lớn, hiểm trở, giao thông đi lại khó khăn chủ yếu là đường
mòn, có hệ thống sông suối nước chảy dồi dào thuận lợi cho trồng trọt và
chăn nuôi. Vùng có thể quy hoạch phát triển sản xuất nông lâm nghiệp kết
hợp chăn nuôi đại gia súc. 9 thôn vùng thấp tương đối hoàn chỉnh về cơ
sở hạ tầng. Các vùng sâu xa trung tâm từ 5 - 13 km đường xá đi lại khó
khăn, nhận thức của người dân còn hạn chế khi tiếp xúc với khoa học kỹ
thuật vào cuộc sống.
2.4.1.3. Khí hậu thủy văn
Xã nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa với hai mùa rõ rệt trong năm.
Mùa đông lạnh trùng với mùa khô kéo dài từ tháng 11 năm trước đến tháng 3
năm sau. Mùa hè nóng trùng với mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 10. nhiệt độ
trung bình trong năm là 22
0
C, nhiệt độ cao nhất là 35 - 37
0
C, nóng nhất vào
tháng 6 - 7, tổng lượng mưa bình quân là 1248 mm/năm mưa tập trung vào
các tháng 6,7,8 với lượng mưa chiếm 78% tổng lượng mưa cả năm. Dộ ẩm
trung bình là 80 - 85% gây nhiều khó khăn cho sản xuất nông lâm nghiệp.
Bảng 2.1: Yếu tố khí tượng năm 2010 của xã Cao Kỳ
Tháng
Nhiệt độ
(
0
C)
Số giờ nắng
(H)
Lượng mưa
(mm)
rất lạnh, ẩm thấp.
Địa bàn xã xen kẽ giữa các khu dân cư là đồi núi, khe, suối, hệ thống
sông Cầu chảy dọc qua xã nên cũng gây ảnh hưởng đến lượng nước tưới tiêu
cho sản xuất vào mùa khô. Còn vào mùa mưa với tốc độ tương đối cao, dòng
chảy lớn gây lũ lụt, ngập úng các cây hoa màu và đây cũng là vấn đề gây bức
xúc mà chính quyền và nhân dân trong xã quan tâm.
2.4.2. Đặc điểm dân sinh, kinh tế, xã hội
2.4.2.1. Dân số, lao động
Tổng số hộ trong toàn xã Cao Kỳ là 710 hộ với 2982 nhân khẩu trong
đó (nam: 1502, nữ: 1478).
Cao Kỳ là nơi tập trung sinh sống của nhiều đồng bào dân tộc và được
thống kê dưới bảng sau:
Bảng 2.2: Thành phần dân tộc trên địa bàn xã Cao Kỳ
Dân tộc Tày Dao Kinh Hoa
Tỷ lệ 43.70% 45.00% 7.90% 1.30%
(Nguồn: Báo cáo của UBND xã Cao Kỳ)
Qua bảng 2.2. cho thấy:
Trong các dân tộc thì dân tộc Tày chiếm tỷ lệ cao nhất, dân tộc Hoa
chiếm tỷ lệ thấp nhất.
15
16
Tổng số hộ nghèo năm 2011 là 133 hộ chiếm 19.19%, hộ cận nghèo là
134 hộ chiếm 19.33%.
Thu nhập bình quân của ngươi dân trong xã là 11 triệu đồng/ người/ năm.
2.4.2.2. Giao thông
Trên địa bàn xã Cao Kỳ có hệ thống đường liên tỉnh chạy và liên xã
chạy qua. Trong xã có đường giao thông cho xe cơ giới( từ xe máy trở lên ) từ
trung tâm xã đến tất cả các thôn và có cầu treo giúp người dân trong xã đi lại
và lưu thông hàng hóa thuận tiện hơn. Tuy nhiên, đường giao thông đến các
thôn bản và vào các khu rừng chưa được hoàn thiện gây khó khăn cho người
2.4.2.7. Thương mại- Dich vụ
Trong xã chủ yếu kinh doanh hàng tạp hóa, phân bón, thuốc trừ sâu,
thức ăn gia súc, thuốc thú y, sửa chữa xe máy….với quy mô nhỏ lẻ. Người
dân vẫn phải đi mua sắm xa. Tuy nhiên ngành dịch vụ cũng đóp góp một phần
không nhỏ vào phát triển nền kinh tế của xã.
2.4.2.8. Thực trạng phát triển các ngành kinh tế.
Trồng trọt:
Xã Cao Kỳ là một trong những xã miền núi, chủ yếu là sản xuất nông
nghiệp với diện tương đối lớn và năng suất khá cao.
Diên tích, năng suất, sản lượng được thống kê ở bảng 2.3:
Bảng 2.3 Diện tích, sản lượng một số cây trồng chính tại xã Cao Kỳ
Năm
Cây trồng
2009 2010 2011 Đơn vị
1.Lúa nước
Diện tích 172.08 176 161.4 ha
NSBQ 54 52.5 52 tạ/ ha
Sản lượng 928.8 924 839.28 Tấn
2.Cây ngô
Diện tích 229.83 250 192 ha
NSBQ 32 32 36 tạ/ ha
Sản lượng 736 800 691.2 Tấn
3. Lúa nương
Diện tích 3 6 16 ha
NSBQ 20 15 20 tạ/ ha
Sản lượng 6 9 32 Tấn
4. Cây mía bầu
Diện tích 25.89 26.7 33 ha
5.Cây chuối tây
Diện tích 33 41.2 43.1 ha
Bảng 2.5: Diện tích nuôi trồng thủy sản xã Cao Kỳ
Năm 2009 2010 2011 Đơn vị
Diện tích 6 5.2 5.2 ha
(Nguồn: Báo cáo của UBND xã Cao Kỳ)
Đặc điểm tài nguyên rừng
Trong những năm gần đây, tài nguyên rừng trong xã đang ngày càng
được khôi phục lại, làm tăng độ che phủ, với diện tích rừng hiện có, kết hợp
với kế hoạch trồng rừng mới rừng đang dần dần phục hồi và phát triển,
18
19
chương trình trồng rừng 661 và 147 đang được thực hiện tốt, bảo đảm công
tác tuần tra ngăn chặn khai thác trái phép cây rừng, công tác tuyên truyền luật
bảo vệ rừng được đẩy mạnh, trong năm không có vụ cháy rừng nào sảy ra.
Tình hình khai thác củi tươi trên địa bàn vẫn diễn ra thường xuyên.
Đặc điểm tài nguyên đất
Đất đai ở xã Cao Kỳ chia thành hai loại chính
- Đất ruộng : Là do tích tụ phù xa của sông Cầu và các suối, đất có tầng
phù xa dày, có màu sám đen, có hàm lượng đạm, lân, kali ở mức trung bình, loại
đất này phù hợp cho các loài cây lương thực và các loại cây hoa màu.
- Đất đồi : là đất feralit màu vàng, thành phần cơ giới thịt nhẹ đến trung
bình, nghèo dinh dưỡng và ở nơi có độ dốc tương đối lớn, loại đất này thích
hợp cho các loại cây công nghiệp lâu năm và trồng rừng.
- Tình hình sử dụng đất đai của xã : do địa hình núi dốc, đất đai chia cắt
phức tạp hình thành các tiểu khí hậu khác nhau về điều kiện tự nhiên và môi
trường tập quán sản xuất, do đó quá trình sản xuất nông lâm nghiệp gặp nhiều
khó khăn và hạn chế.
19
20
Phần 3
ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
cáo kinh tế xã hội.
20
21
- Thu thập các kết quả điều tra và thống kê rừng tại chi cục kiểm lâm
tỉnh Bắc Kạn. Các kết quả trồng rừng giai đoạn 2006 - 2011. Kết quả thực
hiện các chính sách kinh tế xã hội.
3.3.1.2. Tiến hành số hóa bản đồ hiện trạng 2006 và thống kê diện tích
- Scan bản đồ hiện trạng 2006
- Tiến hành định vị bản đồ bằng phần mềm Mapinfo: Mở chương trình
Mapinfo/ File/ Open Table (trong bảng này File of type ta chọn Raster
Image)/ nhấn Register / Đăng ký tọa độ ít nhất 4 điểm theo tọa độ cho trước,
sau khi nạp xong tọa độ kiểm tra sai số tại cột error (pixel ),/Ok (Hình 3.1 ).
Hình 3.1: Quá trình định vị ảnh
21
22
- Tách lớp, số hóa các lớp bằng phần mềm Mapinfo: Lệnh: Map/ Layer
control hoặc vào biểu tượng layer control trên thanh công cụ Main, hộp thoại
hiện ra như hình 3.2/ Tích vào ô Edit able của lớp Cosmetic Layer, chọn Ok/
Hộp công cụ Drawing sẽ hiện sáng các biểu tượng chọn để vẽ các đối tượng
điểm, đối tượng đường, đối tượng vùng. Chọn công cụ thích hợp để số hóa
đối tượng/ Lưu lại ( Map/ Save Cosmetic Object. Nếu lớp đã được tạo rồi ta
dùng lệnh File/ Save Table ).
Hình 3.2: Màn hình layer control
- Tạo cơ sở dữ liệu: Lệnh Table/ Maintenance/ Table Structure/ Hộp
thoại hiện ra (Hình 3.3 )/ Nếu muốn thêm các trường dữ liệu khác ta chỉ việc
nhấm vào Add Field, muốn xóa trường dữ liệu đã có ta chọn trường dữ liệu đó
và nhấn vào Remove Field/ Ok.
22
23
Hình 3.3: Màn hình tạo cơ sở dữ liệu
Bước 1. Kết nối máy GPS đã có dữ liệu với máy tính bằng cáp (USB),
sử dụng phần mềm Mapsource để chuyền dữ liệu.
Khởi động Mapsource, màn hình hiện ra như sau:
Hình3.4: Màn hình Mapsource
Transfer\Receive From Device….: (hoặc nhấp vào biểu tượng
trên thanh Menu
24
25
Tại hộp thoại Receive From Device, tích dấu vào WayPoints, Tracks,
và nhấn vào Receive
Nếu máy tải xong sẽ báo:
Ta nhấn OK
Hình 3.5: Quá trình đưa dứ liệu từ GPS vào
máy tính
Nếu quá trình chuyển tải dữ liệu hoàn thành, chọn mục
Tracks hoặc mục Waypoint trên màn hình chính của
Mapsource ta thấy danh sách các điểm lộ trình hay
tracks.
Chọn File/ Save as để lưu lại file
Chọn đường dẫn để lưu lại khung Save in, và cài đặt tên tệp tin lưu trữ
trong khung File name, Save as type ta chọn DXF (*.dxf) dữ liệu phần mềm
Autocad để kết xuất dữ liệu sang phần mềm Mapinfo và nhấn Save
Chuyển dữ liệu .*dxf vao trong Mapinfo để khoanh vẽ vào bản đồ số như sau :
- Mở Mapinfo/ vào Tool/ Ta sử dụng công cụ Universal Translator/ đổi
đuôi từ .*dxf sang đuôi .Tab như hình sau :
25