Nghiên cứu đặc điểm tái sinh tự nhiên dưới thảm thực vật trạng thái rừng IIB, tại xã cao kỳ và nông hạ, huyện chợ mới , tỉnh bắc kạn - Pdf 13

1
Phần 1
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Theo số liệu công bố của tổ chức IUCN, UNDP và WWF trung bình
mỗi năm trên thế giới mất đi khoảng 20 triệu ha rừng, trong đó rừng bị mất do
đốt phá làm nương rẫy chiếm 50%, cháy rừng 23% do khai thác từ 5-7% còn
lại là do các nguyên nhân khác (ww.vocw.edu.vn). Như vậy theo thống kê
trên ta thấy rằng tỷ lệ rừng bị mất đi do làm nương rẫy là lớn hơn 50%. Ở
Việt Nam cũng không nằm ngoại lệ đó. Nhất là ở nước ta rừng tập trung ở
khu vực vùng núi cao, nơi mà trình độ dân trí của người dân còn thấp sống
chủ yếu phụ thuộc vào nguồn tài nguyên rừng nhưng lại thiếu ý thức bảo vệ,
gìn giữ nguồn tài nguyên vô gia này. Đặc biệt với tập quán du canh, du cư,
người dân tùy ý đốt nương, làm rẫy. Sau một thời gian canh tác, khi năng suất
cây trồng giảm đi họ chuyển sang một mảnh đất khác, vài năm sau mới quay
lại mảnh đất cũ làm cho đất rừng bị thoái hóa.
Thời gian người dân bỏ mảnh đất cũ sang một mảnh đất khác canh tác
sẽ có hiện tượng tái sinh rừng.theo quan điểm sinh thái học,tái sinh rừng là tái
sinh cả một hệ sinh thái.Tái sinh rừng là quá trình phục hồi thành phần cơ bản
của rừng,biểu hiện đặc trưng của tái sinh rừng là sự xuất hiện một số cây con
của những loài cây gổ ở những nơi có hoàn cảnh rừng ,phần trống trong
rừng,rứng sau khi khai thác,trên đất rừng sau khi khai thác,trên đất rừng sau
nương rẫy.
Mất rừng dẫn đến hạn hán, lũ lụt. Hậu quả của nó là nghèo đói và bệnh
tật. Vì vậy, Phục hồi rừng là một trong những nội dung quan trọng nhất hiện
nay đối với ngành Lâm nghiệp Việt Nam cũng như của các nước nhiệt đới
khác khi mà độ che phủ của rừng đã bị suy giảm xuống dưới mức an toàn sinh
thái mà không đảm bảo được sự phát triển bền vững của đất nước.
Theo nghĩa thông thường, phục hồi rừng là quá trình tái lập lại rừng
trên những diện tích đã bị mất rừng. Đó là quá trình sinh địa phức tạp bao
gồm nhiều giai đoạn và kết thúc bằng sự xuất hiện một thảm cây gỗ bắt đầu

cao chất lượng của rừng phục hồi.
- Nghiên cứu các qui luật tái sinh tự nhiên và bổ sung thêm tư liệu về
tái sinh rừng.
2
3
1.4. Ý nghĩa của đề tài
1.4.1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu
Góp phần củng cố phương pháp nghiên cứu khoa học cho sinh viên,
giúp sinh viên vận dụng những kiến thức đã học trong trường vào công tác
nghiên cứu khoa học và thực tiễn sản xuất lâm nghiệp một cách có hiệu
quả.sau khi thực hiện đề tài này,sinh viên có khả năng lập kế hoạch nghiên
cứu hợp lí,tổng hợp,phân tích và đánh giá kết quả,cũng như viết một báo cáo
nghiên cứu,một phần việc quan trọng cho công việc trong tương lai.
1.4.2.Ý nghĩa thực tiễn
Phục hồi rừng để bảo vệ nguồn gen duy trì tính đa dạng sinh học và cân
bằng sinh thái trong vùng là hết sức cần thiết, do đó kết quả của nghiên cứu
này sẽ góp phần làm sáng tỏ đặc điểm tái sinh và khả năng phục hồi tự nhiên
thảm thực vật tại khu vực nghiên cứu.Như vậy vừa cải tạo được môi
trường,tăng mức độ đa dạng sinh học cho rừng,vừa giúp người dân có được
những khu rừng xanh tốt.
1.5. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài thực hiện nghiên cứu tại 2 xã Nông Hạ và Cao Kỳ huyện Chợ
Mới, đây là 2 xã có diện tích rừng và đất rừng khá lớn trong huyện.
3
4
Phần 2
TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1. Những nghiên cứu về tái sinh tự nhiên trên thế giới
Như chúng ta đã biết tái sinh rừng là một quá trình sinh học mang tính
đặc thù của hệ sinh thái rừng, biểu hiện của nó là sự xuất hiện của một thế hệ

đáng chú ý là công trình nghiên cứu của P.W. Richards (1952), Bernard
Rollet (1974) tổng kết các kết quả nghiên cứu về phân bố số cây tái sinh tự
nhiên đã nhận xét: trong các ô có kích thước nhỏ (1 m x 1 m; 1 m x 1,5 m)
cây tái sinh tự nhiên có dạng phân bố cụm, một số ít có phân bố Poisson. Ở
Châu Phi trên cơ sở các số liệu thu thập Tayloer (1954), Barnard (1955) xác
định số lượng cây tái sinh trong rừng nhiệt đới thiếu hụt cần thiết phải bổ
sung bằng trồng rừng nhân tạo. Ngược lại, các tác giả nghiên cứu về tái sinh
tự nhiên rừng nhiệt đới Châu á như Budowski (1956), Bava (1954), Atinot
(1965) lại nhận định dưới tán rừng nhiệt đới nhìn chung có đủ số lượng cây
tái sinh có giá trị kinh tế, do vậy các biện pháp lâm sinh đề ra cần thiết để bảo
vệ và phát triển cây tái sinh có sẵn dưới tán rừng (dẫn theo Nguyễn Duy
Chuyên, 1995) [4].
Đối với rừng nhiệt đới thì các nhân tố sinh thái như nhân tố ánh sáng
(thông qua độ tàn che của rừng), độ ẩm của đất, kết cấu quần thụ, cây bụi,
thảm tươi là những nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình tái sinh rừng,
cho đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu, đề cập đến vấn đề này. Tác
giả G. N. Baur (1976) [2] cho rằng, sự thiếu hụt ánh sáng ảnh hưởng đến phát
triển của cây con còn đối với sự nảy mầm và phát triển của cây mầm ảnh
hưởng này thường không rõ ràng và thảm cỏ, cây bụi có ảnh hưởng đến sinh
trưởng của cây tái sinh. Ở những quần thụ kín tán, thảm cỏ và cây bụi kém
phát triển nhưng chúng vẫn có ảnh hưởng đến cây tái sinh. Nhìn chung ở rừng
nhiệt đới, tổ thành và mật độ cây tái sinh thường khá lớn nhưng số lượng loài
cây có giá trị kinh tế thường không nhiều và được chú ý hơn, còn các loài cây
có giá trị kinh tế thấp thường ít được nghiên cứu, đặc biệt là đối với tái sinh ở
các trạng thái rừng phục hồi sau nương rẫy.
Trong nghiên cứu tái sinh rừng người ta nhận thấy rằng tầng cỏ và cây
bụi qua thu nhận ánh sáng, độ ẩm và các nguyên tố dinh dưỡng khoáng của
tầng đất mặt đã ảnh hưởng xấu đến cây con tái sinh của các loài cây gỗ.
Những quần thụ kín tán, đất khô và nghèo dinh dưỡng khoáng do đó thảm cỏ
và cây bụi sinh trưởng kém nên ảnh hưởng của nó đến các cây gỗ tái sinh

nghiên cứu bước đầu đã được Nguyễn Vạn Thường (1991) [15] tổng kết và
kết luận về tình hình tái sinh tự nhiên của một số khu rừng miền Bắc Việt
Nam, hiện tượng tái sinh dưới tán rừng của các loài cây gỗ đã tiếp diễn liên
tục, không mang tính chất chu kỳ. Sự phân bố số cây tái sinh không đồng đều,
số cây mạ có h < 20 cm chiếm ưu thế rõ rệt so với lớp cây ở các cấp kích
6
7
thước khác. Những loài cây gỗ mềm, ưa sáng, mọc nhanh có khuynh hướng
phát triển mạnh và chiếm ưu thế trong lớp cây tái sinh. Những loài cây gỗ
cứng sinh trưởng chậm chiếm tỷ lệ thấp và phân bố tản mạn, thậm chí còn
vắng bóng trong thế hệ sau trong rừng tự nhiên.
Trần Ngũ Phương (1970) [8] khi nghiên cứu về kiểu rừng nhiệt đới
mưa mùa lá rộng thường xanh đã có nhận xét: “Rừng tự nhiên dưới tác động
của con người khai thác hoặc làm nương rẫy lặp đi lặp lại nhiều lần thì kết
quả cuối cùng là sự hình thành đất trống, đồi núi trọc. Nếu chúng ta để thảm
thực vật hoang dã tự nó phát triển lại thì sau một thời gian dài trảng cây bụi,
trảng cỏ sẽ chuyển dần lên những dạng thực bì cao hơn thông qua quá trình
tái sinh tự nhiên và cuối cùng rừng khí hậu sẽ có thể phục hồi dưới dạng gần
giống rừng khí hậu ban đầu”.
Theo GS. Nguyễn Văn Trương (1983) [19] đã nghiên cứu mối quan
hệ giữa lớp cây tái sinh với tầng cây gỗ và quy luật đào thải tự nhiên dưới
tàn rừng.
Theo tác giả Phùng Ngọc Lan (1984) [6] khi bàn về vấn đề đảm bảo tái
sinh trong khai thác rừng đã nêu kết quả tra dặm hạt Lim xanh dưới tán rừng
ở lâm trường Hữu Lũng, Lạng Sơn. Ngay từ giai đoạn nảy mầm, bọ xít là
nhân tố gây ảnh hưởng đáng kể đến tỷ lệ nảy mầm.
Trong một công trình nghiên cứu về cấu trúc, tăng trưởng trữ lượng và
tái sinh tự nhiên rừng thường xanh lá rộng hỗn loài ở ba vùng kinh tế (Sông
Hiếu, Yên Bái và Lạng Sơn). Nguyễn Duy Chuyên (1988) [3] đã khái quát
đặc điểm phân bố của nhiều loài cây có giá trị kinh doanh và biểu diễn bằng

tái sinh tự nhiên có dạng phân bố Poisson, ở các loại rừng khác cây tái sinh có
phân bố cụm.
Theo tác giả Trần Xuân Thiệp (1995) [14] nghiên cứu về tái sinh tự
nhiên trong rừng chặt chọn ở Lâm trường Hương Sơn - Hà Tĩnh đã định
lượng các cây tái sinh tự nhiên trong các trạng thái rừng khác nhau. Theo tác
giả, rừng thứ sinh có số lượng cây tái sinh lớn hơn rừng nguyên sinh. Tác giả
còn thống kê các cây tái sinh theo 6 cấp chiều cao, cây tái sinh triển vọng có
chiều cao h > 1,5 m.
Khi nghiên cứu tái sinh tự nhiên sau khai thác chọn tại Lâm trường
Hương Sơn - Hà Tĩnh, Trần Cẩm Tú (1998) [12] cho rằng áp dụng phương
thức xúc tiến tái sinh tự nhiên có thể đảm bảo khôi phục vốn rừng, đáp ứng
mục tiêu sử dụng tài nguyên rừng bền vững. Tuy nhiên, các biện pháp kỹ
8
9
thuật tác động phải có tác dụng thúc đẩy cây tái sinh mục đích sinh trưởng và
phát triển tốt, khai thác rừng phải đồng nghĩa với tái sinh rừng và phải chú
trọng điều tiết tầng tán của rừng; đảm bảo cây tái sinh phân bố đều trên toàn
bộ diện tích rừng; trước khi khai thác, cần thực hiện các biện pháp mở tán
rừng, chặt gieo giống, phát dọn dây leo cây bụi và sau khai thác phải tiến
hành dọn vệ sinh rừng.
Theo tác giả Thái Văn Trừng (2000) [18] khi nghiên cứu về thảm thực
vật rừng Việt Nam, đã kết luận: ánh sáng là nhân tố sinh thái khống chế và
điều khiển quá trình tái sinh tự nhiên trong thảm thực vật rừng. Nếu các điều
kiện khác của môi trường như: đất rừng, nhiệt độ, độ ẩm dưới tán rừng chưa
thay đổi thì tổ hợp các loài cây tái sinh không có những biến đổi lớn và cũng
không diễn thế một cách tuần hoàn trong không gian và theo thời gian mà
diễn thế theo những phương thức tái sinh có qui luật nhân quả giữa sinh vật
và môi trường.
Trần Ngũ Phương (2000) [8] khi nghiên cứu các quy luật phát triển
rừng tự nhiên miền Bắc Việt Nam đã nhấn mạnh quá trình diễn thế thứ sinh

đường quốc lộ 3 chạy trên địa bàn song song với sông Cầu, nối từ Thị trấn
Chợ Mới qua xã Nông Hạ, Cao Kỳ đến Thị xã Bắc Kạn, tạo điều kiện thuận
lợi cho việc phát triển kinh tế, giao lưu hang hóa, và đi lại của người dân.
2.3.1.2. Địa hình
Địa hình xã không bằng phẳng phần lớn là núi cao, xen kẽ những cánh
đồng nhỏ hẹp được tạo thành do phù sa của sông, suối đặc biệt có con sông
Cầu chảy qua, nên việc phát triển kinh tế nông nghiệp rất thuận lợi, với độ
dốc tương đối lớn, hiểm trở, thảm thực vật chủ yến là rừng tự nhiên tái sinh,
giao thông đi lại khó khăn, chủ yếu là đường mòn.
2.3.1.3. Địa chất và thổ nhưỡng
Đất feralit có màu đỏ nâu, đỏ vàng có địa tầng sâu 40cm chứa nhiều
Fe, Al có phản ứng chua. Với loại đất này thích hợp cho việc trồng cây lâm
nghiệp, cây ăn quả, cây công nghiệp.
Hầu hết các loại đất trên địa bàn xã có độ dầy từ trung bình đến khá,
thành phần cơ giới từ trung bình đến nặng. Các chất dinh dưỡng như đạm, lân,
Kali, Can xi, Magie trong đất có hàm lượng thấp không đủ cung cấp cho quá
trình sinh trưởng, phát triển của cây trồng. Do đa phần đất đai nằm trên độ
10
11
dốc lớn, độ che phủ của thảm thực vật thấp nên cần chú trọng các biện pháp
bảo vệ đất, bảo vệ rừng, hạn chế rửa trôi, xói mòn làm nghèo dinh dưỡng đất.
Độ dốc trung bình 25 độ. Nhìn chung địa hình của xã phức tạp gây
nhiều khó khăn cho phát triển kinh tế xã hội.
2.3.1.4. Khí hậu thuỷ văn
* Khí hậu: Theo trung tâm dự báo khí tượng thủy văn tỉnh Bắc Kạn, xã
Cao Kỳ và xã Nông Hạ mang đặc điểm chung của khí hậu nhiệt đới gió mùa
miền núi vùng cao phía Bắc, được chia thành 2 mùa rõ rệt: Mùa mưa từ tháng
5 tới tháng 10 thời tiết nắng nóng, mưa nhiều. Mùa khô từ tháng 11 tới tháng
4 năm sau thời tiết hanh khô, lạnh và ít mưa, nhiệt độ trung bình trong năm là
22

tháng không có mưa hoặc chỉ là mưa phùn, mưa mù.
Mùa ít mưa (từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau) có thể chia thành 2 thời
kỳ: Đầu mùa (thường từ tháng 4 đến tháng 1 năm sau) do ảnh hưởng các khối
khí lục địa lạnh, khô nên rất ít mưa, có khi cả tháng hanh khô, với thời tiết
trong xanh, ngày nắng úa, đêm lạnh, gây hạn hán và hay có sương muối. Thời
kỳ cuối mùa khô, do độ ẩm không khí cao, mây mù, mưa phùn, gây cảm giác
rất lạnh, ẩm thấp.
Địa bàn xã xen kẽ giữa các khu dân cư là đồi, núi, khe, suối và hệ
thống sông Cầu chảy dọc qua xã nên cũng gây ảnh hưởng đến lượng nước
tưới tiêu cho sản xuất vào mùa khô. Còn vào mùa mưa với độ dốc tương đối
cao, dòng chảy lớn gây lũ lụt ngập úng các cây hoa màu và đây cũng là vấn
đề bức xúc mà chính quyền và nhân dân trong xã đang quan tâm. Ngoài ra
sông Cầu còn là nơi nông dân khai thác cát, sỏi làm nguyên vật liệu xây
dựng, góp phần làm tăng thu nhập và giải quyết việc làm lúc nông nhàn.
2.3.3. Thực trạng phát triển các ngành kinh tế
* Kinh tế nông nghiệp

Kinh tế nông nghiệp xã Cao kỳ
- Trồng trọt
Xã Cao Kỳ là một trong những xã miền núi, chủ yếu là sản xuất nông
nghiệp với diện tương đối lớn và năng suất khá cao.
Diện tích, năng suất, sản lượng được thống kê ở bảng 2.2.
12
13
Bảng 2.2: Diện tích, sản lượng một số cây trồng chính tại xã Cao Kỳ
Năm
Cây trồng
2009 2010 2011 Đơn vị
1.Lúa nước
Diện tích 172.08 176 161.4 ha

Vật nuôi
Trâu 472 658 626 Con
Bò 636 644 602 Con
Lợn 2902 2895 3320 Con
Dê 85 326 145 Con
Gia cầm 16842 16300 18623 Con
(Nguồn: Báo cáo của UBND xã Cao Kỳ)
Qua bảng số liệu trên ta thấy: Số lượng gia cầm được nuôi nhiều nhất,
dê được nuôi ít nhất. Hình thức chăn thả chủ yếu đối với gia cầm, lợn được
nuôi ngay trong chuồng. Riêng đối với trâu, bò, dê thì được các hộ thả rông
trên rừng. Đây là một trong những nguyên nhân ảnh hưởng đến sự sinh
trưởng của cây tái sinh trong rừng tự nhiên.
- Lâm nghiệp:Hoạt động sản xuất lâm ngiệp tập trung vào trồng rừng
và khai thác lâm sản với quy mô nhỏ và lẻ. Từ năm 2000 đến nay, xã đã tiếp
nhận một số dự án trồng rừng, chủ yếu là trồng cây nguyên liệu giấy như là
mỡ, keo. Ngoài ra còn có một số loại cây khác (cây Gió trầm, măng Bát độ,
cây chè và cây ăn quả). Những năn gần đây được Nhà nước giao đất, giao
rừng tới từng hộ gia đình, nhân dân đã tích cực trồng mới, khoanh nuôi phục
hồi rừng sản xuất.
* Kinh tế nông nghiệp xã Nông Hạ
- Trồng trọt: Sản xuất nông nghiệp của xã chủ yếu là cây lúa là cây
trồng chính, hàng năm diện tích gieo trồng lúa đều đạt chỉ tiêu kế hoạch đề
ra. Năng suất các vụ lúa trong năm bình quân năm 2003 đạt 43,5 tạ/ha, năm
2004 năng suất của vụ lúa trong năm đạt 44 tạ/ha, năm 2005 năng suất vụ
lúa bình quân đạt 44 tạ/ha.
Ngoài cây lúa của xã ra cây ngô, cây chất bột và cây công nghiệp ngắn
ngày cũng là thế mạnh của xã, cụ thể theo thống kê năm 2005 của xã cho
thấy cây ngô vụ mùa và cây ngô vụ xuân năng suất bình quân từ 30 - 32
ta/ha. Sản lượng đạt từ 165 - 333,2 tấn. Cây chất bột như: Cây sắn, cây khoai
lang, cây khoai tàu, năng suất bình quân đạt 40 - 100 tạ/ha. Sản lượng đạt

Tấn
134
44,03
590
148
42,97
636
147,75
43
635,32
3. Cây ngô
Diện tích
Năng suất
Sản lượng
Ha
Tạ/ha
Tấn
165
24,85
410
184
25,6
471
158,5
31,4
498,2
4. Cây sắn
Diện tích
Năng suất
Sản lượng

chuyển dịch cơ cấu cây trồng vật nuôi, máy móc phục vụ cho công tác làm
đất. Nên việc chăn nuôi sản xuất chuyển dịch sang sản xuất hàng hóa. Tổng
số trâu năm 2005 là 370 con, đàn bò có 1300 con, đàn lợn có 1479 con, số gia
cầm là 9876 con. Trong những năm tới xã sẽ phát triển rộng đàn trâu, bò, lợn,
gà và gia cầm.
- Lâm nghiệp; Hoạt động sản xuất lâm ngiệp tập trung vào trồng rừng
và khai thác lâm sản với quy mô nhỏ và lẻ. Từ năm 2000 đến nay, xã đã tiếp
15
16
nhận một số dự án trồng rừng, chủ yếu là trồng cây nguyên liệu giấy như là
mỡ, keo. Ngoài ra còn có một số loại cây khác (cây Gió trầm, măng Bát độ,
cây chè và cây ăn quả). Những năn gần đây được Nhà nước giao đất, giao
rừng tới từng hộ gia đình, nhân dân đã tích cực trồng mới, khoanh nuôi phục
hồi rừng sản xuất.
- Tài nguyên rừng: Khu vực nghiên cứu có tổng diện tích đất rừng là
10552,4 ha, trong đó 8359,38 ha đất có rừng, 5571,48 ha rừng tự nhiên,
1084,9 ha rừng trồng và 2193,02 ha diện tích đất chưa có rừng quy hoạch cho
lâm nghiệp. Hiện nay tài nguyên rừng đã bị khai thác cạn kiệt, động vật quý
hiếm gần như không còn. Với diện tích rừng hiện có, kết hợp với kế hoạch
trồng rừng mới, rừng đang dần dần hồi phục và phát triển, do đó lâm nghiệp
là ngành kinh tế quan trọng của xã trong những năm tới.
- Tài nguyên động vật, tài nguyên thực vật
Do sự khai thac rừng quá mức, trái phép, tài nguyên động vật rừng,
thực vật rừng ở cả hai xã đã suy giảm mạnh, gần như là không còn động vật,
thực vật quý hiếm, các loài động, thực vật khác hiện nay cũng đang bị săn
bắnvà khai thác rất nhiều, ngoài ra việc khai thác rừng và chuyển đổi mục
đích sử dụng đất cũng làm cho các loài động vật mất đi nơi sống, nguồn thức
ăn do đó kéo theo sự suy giảm về số lượng các loài, cá thể trong loài, dẫn đến
số lượng còn rất ít, suy giảm tính đa dạng sinh hoc. Rừng nghèo cả về số
lượng và chất lượng.

chay có nhiều tiến bộ. Phong trào đền ơn đáp nghĩa được quan tâm, thực hiện
chế độ chính sách đầy đủ đúng quy định. Làm tốt công tác tuyên truyền trên
hệ thống loa truyền thanh, vận động nhân dân chấp hành nguyên đường lối
của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Phong trào xây dựng “ Nếp sống văn
minh, gia đình văn hóa” ở xã Nông Hạ cho đến nay 2 đơn vị đạt “ Làng văn
hóa cấp tỉnh”, 2 đơn vị đạt “làng văn hóa cấp huyện”, có 6 đơn vị đạt “ Khu
dân cư tiên tiến”. Năm 2011, Cao Kỳ có tổng số gia đinh văn hóa đạt 483 hộ,
làng văn hóa đạt 3 làng, đơn vị văn hóa đạt 4 đơn vị.
17
18
- Thương mại, dịch vụ: Trong địa bàn hai xã chủ yếu kinh doanh hàng
tạp hóa, phân bón, thuốc trừ sâu, thức ăn gia súc, thuốc thú y, sửa chữa xe
máy….với quy mô nhỏ lẻ. Người dân vẫn phải đi mua sắm xa. Tuy nhiên
ngành dịch vụ cũng đóp góp một phần không nhỏ vào phát triển nền kinh tế
của xã.
- Thành phần dân tộc, dân số, lao động
Thành phần dân tộc, dân số và lao động của hai xã thể hiện trong bảng 2.5:
Bảng 2.5: Thành phần dân tộc dân số và lao động
xã Cao Kỳ và xã Nông Hạ
Hạng mục Cao Kỳ Nông Hạ
Dân số (Người)
Lao động (Người)
- 2982(Tính đến năm 2011)
- 1900 người, chiếm 63,69 %
dân số, trong đó lao động
ngành nông lâm nghiệp
khoảng 1715 người, chiếm
90,26 % tổng số lao động.
- 3676 (Tính đến năm 2010)
- 2289 lao động, chiếm 62,3%

thả gia súc, gia cầm.
19
20
Phần 3
ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu là trạng thái thảm thực vật IIB tái sinh phục hồi
tự nhiên.
- Phạm vi nghiên cứu đề tài nghiên cứu một số nội dung:Tổ thành,mật
độ, tầng cây cao và một số đặc điểm tái sinh của các loài cây gỗ dưới tán rừng
thông qua các chỉ tiêu: Tổ thành,mật độ,chất lượng nguồn gốc,tỷ lệ cây triển
vọng,phân bố cây tái sinh theo chiều cao. Nghiên cứu ảnh hưởng của các nhân
tố sinh thái(độ tàn che của tầng cây cao,độ che phủ của cây bụi,thảm tươi,tác
động của con người) đên tái sinh tự nhiên của các trạng thái rừng phục hồi
Đề tài được tiến hành từ ngày.02 tháng. 01 năm 2012 đến ngày 09
tháng 06 năm 2012.
3.2. Nội dung nghiên cứu
3.2.1. Nghiên cứu đặc điểm cấu trúc tầng cây gỗ của trạng thái rừng IIB
- Cấu trúc tổ thành sinh thái, mật độ tầng cây gỗ.
3.2.2. Nghiên cứu đặc điểm cấu trúc cây tái sinh
- Đặc điểm cấu trúc tổ thành, mật độ cây tái sinh.
- Chất lượng và nguồn gốc cây tái sinh và tỷ lệ cây tái sinh triển vọng.
- Đánh giá chỉ số đa dạng sinh học.
3.2.3. Nghiên cứu quy luật phân bố cây tái sinh
- Phân bố số cây theo cấp chiều cao.
- Phân bố loài cây theo cấp chiều cao.
3.2.4. Ảnh hưởng của một số nhân tố đến tái sinh tự nhiên
- Ảnh hưởng của yếu tố đất đến tái sinh rừng.
- Ảnh hưởng của yếu tố địa hình đến tái sinh rừng.
20

2
(25 m x 20 m), hình dạng
OTC phụ thuộc vào địa hình.
21
22
- Đối với đất có rừng tự nhiên trên núi đất: diện tích OTC: 2500 m
2
(50
m x 50 m), hình dạng OTC phụ thuộc vào địa hình.
- Phân bố: OTC đặt ngẫu nhiên, đại diện cho từng nhóm thực vật khác
nhau, đại diện cho địa hình, độ dốc, điều kiện thổ nhưỡng khác nhau.
- Thu thập số liệu:

Trong mỗi trạng thái TTV, lập 3 ô tiêu chuẩn
theo phương pháp điển hình. Trong mỗi ô, thống kê các chỉ tiêu tầng cây
gỗ như sau:
+ Đo đường kính với những cây gỗ có D1.3 < 6cm bằng thước kẹp kính
hoặc thước đo chu vi sau đó quy đổi ra đường kính.
+ Đo chiều cao Hvn và Hdc bằng thước sào đo cao chia vạch đến 0,1m.
+ Đo đường kính tán Dt theo hướng ĐT - NB sau đó lấy giá trị trung bình.
* Đối với ô thứ cấp: Trong OTC, lập 5 ô thứ cấp 25m
2
(5 x 5m) trong
đó 4 ô ở 4 góc và 1 ở giữa. Điều tra thống kê toàn bộ những cây tái sinh có
D1.3< 6cm vào phiếu điều tra theo các chỉ tiêu:
- Tên loài cây tái sinh, loài nào chưa rõ thì thu thập tiêu bản để giám định.
- Đo chiều cao cây tái sinh bằng thước sào.
- Chất lượng cây tái sinh:
+ Cây tốt: là cây có thân thẳng, không cụt ngọn, sinh trưởng phát triển
tốt, không sâu bệnh.

- Số lượng : 1 phẫu diện cho 1 OTC (Cứ một OTC được lập ta tiến
hành đào 1 phẫu diện)
- Chọn địa điểm đào phẫu diện : Đại diện cho OTC, nằm trong ô thứ
cấp, đánh dấu lên bản đồ địa hình.
- Quy định đào phẫu diện : Quy cách: dài 120-150cm, rộng 70-90cm,
sâu: 120-150cm. (Nếu tầng đất mỏng, gặp tầng cứng rắn độ sâu cần đạt 80-
100cm). Khi đào phẫu diện cần lưu ý:
+ Mặt phẫu diện để mô tả cần hướng về nơi ánh sáng mặt trời
+ Phía mặt mô tả sau khi đào đúng quy cách cần được làm phẳng, xén
cho thẳng góc (Phần mô tả phẫu diện theo phụ lục 01).
+ Khi đào phẫu diện lớp đất mặt để riêng sang hai bên, không dẫm đạp
mặt phía trên làm mất trạng thái tự nhiên của đất
- Đo đếm lượng hạt giống có trong tầng thảm mục: Xác định bằng cách
thu gom toàn bộ lớp thảm mục, sau đó dùng sàng để tách lọc và phân loại hạt
giống. Lượng hạt giống trong đất được tính bằng g/m
2
.
3.3.2.3. Phương pháp phân tích và xử lý số liệu
a. Tổ thành tầng cây gỗ
Tổ thành là chỉ tiêu biểu thị tỉ lệ mỗi loài hay nhóm loài tham gia tạo
thành rừng, tuỳ thuộc vào số lượng loài có mặt trong lâm phần mà phân chia
lâm phần thành rừng thuần loài hay hỗn loài, các lâm phần rừng có tổ thành
loài khác nhau thì chức năng phòng hộ, bảo vệ môi trường sinh thái và tính đa
dạng sinh học cũng khác nhau.
23
24
Để đánh giá đặc điểm cấu trúc tổ thành sinh thái của quần hợp cây gỗ,
chúng tôi sử dụng chỉ số mức độ quan trọng (Importance Value Index = IVI),
tính theo công thức:


là số cá thể của loài thứ i; s là số loài trong quần hợp
• D
i
là độ ưu thế tương đối của loài thứ i:

1
(%) 100
s
i
Gi
Di x
Gi
=
=

(3.3)
Trong đó: G
i
là tiết diện thân của loài thứ i; s là số loài trong quần hợp

2
2
1
( )
2
s
i
i
i
D

=

(3.5)
Trong đó:
- n là số cây trung bình theo loài,
- m là tổng số loài điều tra được,
- n
i
là số lượng cá thể loài i.
*Hệ số tổ thành:
10
N
n
K
i
i
×=
(3.6)
Trong đó:
- K
i
: Hệ số tổ thành loài thứ i,
- n
i
: Số lượng cá thể loài i,
- N: Tổng số cá thể điều tra.
d. Đánh giá chỉ số đa dạng sinh học cây tái sinh
Từ trước đến nay khi nghiên cứu các quần xã sinh vật, các tác giả đã đề
xuất ra rất nhiều chỉ số đa dạng: chỉ số Shannon (Magurran, 1988), chỉ số
Berger-Parker (Magurran, 1988), chỉ số Brillouin (Brillouin, 1962), chỉ số


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status