Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM
DƢƠNG THỊ VÂN ANH NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM CẤU TRÚC VÀ TÁI SINH TỰ NHIÊN
CỦA THẢM THỰC VẬT TẠI HAI XÃ ĐIỀM MẶC VÀ PHÚ ĐÌNH
HUYỆN ĐỊNH HOÁ TỈNH THÁI NGUYÊN
LUẬN VĂN THẠC SỸ SINH HỌC Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. LÊ ĐỒNG TẤN
THÁI NGUYÊN - 2010
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU…………………………………………………………………… 1
Chƣơng 1. TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4
1.1. Trên thế giới…………………………………………………………… 4
1.1.1. Nghiên cứu về cấu trúc rừng………………………………………… 4
1.1.1.1. Về cơ sở sinh thái của cấu trúc rừng…………………………………4
1.1.1.2. Về mô tả hình thái cấu trúc rừng…………………………………… 5
1.1.1.3. Nghiên cứu định lƣợng cấu trúc rừng……………………………… 6
1.1.2. Nghiên cứu về tái sinh rừng……………………………………………7
1.1.3. Nghiên cứu về thảm thực vật………………………………………….10
1.1.3.1. Các quan điểm về thảm thực vật……………………………………10
1.1.3.2. Phân loại thảm thực vật…………………………………………… 11
1.2. Những nghiên cứu ở Việt Nam……………………………………… 11
1.2.1. Nghiên cứu về cấu trúc rừng………………………………………….11
1.2.1.1. Về phân loại rừng………………………………………………… 12
1.2.1.2. Nghiên cứu định lƣợng cấu trúc rừng……………………………….13
1.2.1.3. Nghiên cứu phân chia tầng thứ trong rừng nhiệt đới……………… 14
1.2.2. Nghiên cứu về tái sinh rừng………………………………………… 15
4.2.2.5. Cấu trúc của thảm cỏ……………………………………………… 42
4.2.3. Phân bố N/D, N/H
VN
, H/D
1.3
………………………………………….42
4.3. Nghiên cứu đánh giá năng lực tái sinh tự nhiên trong các trạng thái thảm
thực vật………………………………………………………………………46
4.3.1. Nguồn gốc và chất lƣợng cây tái sinh……………………………… 46
4.3.2. Thành phần loài cây tái sinh………………………………………… 47
4.3.3. Phân bố số cây tái sinh theo cấp chiều cao……………………………48
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
4.3.4. Đánh giá năng lực tái sinh tự nhiên trong các trạng thái thảm thực
vật……………………………………………………………………………50
4.4. Đề xuất giải pháp phát triển và sử dụng hợp lý thảm thực vật………….51
4.4.1.Giải pháp phát triển………………………………………………… 51
4.4.1.1. Quản lí bảo vệ rừng……………………………… ……………… 51
4.4.1.2. Trồng rừng mới………………………………… …………………51
4.4.1.3. Khoanh nuôi xúc tiến tái sinh rừng kết hợp trồng bổ sung……… 52
4.2. Giải pháp khai thác và sử dụng…………………………………………52
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ………………………………………………….54
A. KẾT LUẬN………………………………………………………………54
B. ĐỀ NGHỊ…………………………………………………………………55
TÀI LIỆU THAM KHẢO…………………………………… ……………56
) 44
Bảng 4.9 : Tƣơng quan giữa mật độ và chiều cao vút ngọn (N/H
VN
) 45
Bảng 4.10: Nguồn gốc và chất lƣợng của cây tái sinh 46
Bảng 4.11: Mật độ cây tái sinh theo cấp chiều cao dƣới tán rừng 48
Hình 4.2: Đồ thị về sự phân bố cây tái sinh qua các cấp chiều cao 48
CÁC KÍ HIỆU VIẾT TẮT
OTC Ô tiêu chuẩn
ODB Ô dạng bản
RNS Rừng nguyên sinh
RTS Rừng thứ sinh
TTV Thản thực vật
TV Thực vật
1
MỞ ĐẦU
Rừng là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá đối với các quốc gia. Thực vật
nói chung và thực vật rừng nói riêng là loài sinh vật duy nhất trên trái đất có khả
năng quang hợp tạo nên sinh chất nuôi sống mình và nuôi sống các sinh vật
khác, góp phần quan trọng vào chu trình tuần hoàn vật chất và năng lƣợng. Thực
vật rừng là nguồn tài nguyên thiên nhiên có khả năng tái tạo cung cấp cho loài
ngƣời từ lƣơng thực, thực phẩm, các loài thuốc chữa bệnh, các vật liệu sử dụng
hàng ngày cho đến các nguyên liệu, nhiên liệu dùng trong công nghiệp. Quần thể
thực vật rừng tạo nên môi trƣờng sinh thái thích hợp là nơi cƣ trú cho nhiều loài
sinh vật, nó cũng góp phần cải tạo môi trƣờng không khí, đất, nƣớc và làm tăng
phòng hộ, rừng đặc dụng và 3 triệu ha rừng sản xuất) nhằm đƣa độ che phủ rừng
lên 43% (tƣơng đƣơng năm 1943) góp phần bảo đảm an ninh môi trƣờng, giảm
nhẹ thiên tai, tăng khả năng sinh thuỷ, bảo tồn nguồn gen và tính đa dạng sinh
học, vừa đảm bảo đáp ứng nhu cầu về sử dụng lâm sản cho nền kinh tế quốc dân,
phục vụ công nghiệp hoá nông nghiệp và nông thôn, vừa góp phần giải quyết
công ăn việc làm và đảm bảo đời sống cho cộng đồng dân cƣ sống ở các vùng
sâu vùng xa.
Định Hoá là một huyện miền núi phía Tây Bắc tỉnh Thái Nguyên. Đây
cũng là căn cứ địa cách mạng của Đảng và Chính Phủ trong kháng chiến chống
thực dân Pháp. Mấy năm gần đây Định Hoá đƣợc đầu tƣ, bảo vệ, tôn tạo để xứng
đáng là một trong những khu di tích lịch sử quan trọng của đất nƣớc. Vấn đề đặt
ra là thực hiện nhƣ thế nào để phát huy hiệu quả và tiềm năng vốn có của chúng.
Thực tế cho thấy giá trị của rừng chính là cơ sở để phát triển kinh tế - xã hội, tạo
cảnh quan du lịch sinh thái nên công tác bảo vệ, nghiên cứu rừng càng đƣợc chú
trọng. Với những lí do nêu trên tôi đã chọn đề tài : “Nghiên cứu đặc điểm cấu
3
trúc và tái sinh tự nhiên của thảm thực vật tại hai xã Điềm Mặc và Phú
Đình huyện Định Hoá tỉnh Thái Nguyên”
4
Chương 1.
TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Cấu trúc rừng là sự sắp xếp tổ chức nội bộ của các thành phần sinh vật
trong hệ sinh thái rừng mà qua đó các loài có đặc điểm sinh thái khác nhau có
thể chung sống hài hoà và đạt tới sự ổn định tƣơng đối trong một giai đoạn phát
triển nhất định của tự nhiên. Cấu trúc rừng vừa là kết quả vừa là sự thể hiện quan
hệ đấu tranh và sự thích ứng lẫn nhau giữa các sinh vật rừng với môi trƣờng sinh
thái và giữa các sinh vật rừng với nhau.
1.1. Trên thế giới
xƣớng và sử dụng lần đầu tiên ở Guyan đến nay vẫn là phƣơng pháp có hiệu quả
để nghiên cứu cấu trúc tầng của rừng. Tuy nhiên phƣơng pháp này có nhƣợc
điểm là chỉ minh hoạ đƣợc cách sắp xếp theo hƣớng thẳng đứng của các loài cây
gỗ trong một diện tích có hạn. Cusen (1951) đã khắc phục bằng cách vẽ một số
giải kề bên nhau và đƣa lại một hình tƣợng về không gian ba chiều.
Phƣơng pháp biểu đồ trắc diện do Davis và Richards (1933-1934) đề xuất
trong khi phân loại và mô tả rừng nhiệt đới phức tạp về thành phần loài và cấu
trúc thảm thực vật theo chiều nằm ngang và thẳng đứng.
Richards P.W (1952) [39] đã phân biệt tổ thành thực vật của rừng mƣa
thành hai loại là rừng mƣa hỗn hợp có tổ thành loài cây phức tạp và rừng mƣa
đơn ƣu có tổ thành loài cây đơn giản. Trong những lập địa đặc biệt thì rừng mƣa
đơn ƣu chỉ bao gồm vài loài cây. Cũng theo tác giả này thì rừng mƣa thƣờng có
nhiều tầng (thƣờng có 3 tầng, trừ tầng cây bụi và tầng cây thân cỏ). Trong rừng
mƣa nhiệt đới, ngoài cây gỗ lớn, cây bụi và các loài cây thân cỏ còn có nhiều
loài cây leo đủ hình dáng và kích thƣớc, cùng nhiều thực vật phụ sinh trên thân
hoặc cành cây.
6
Kraft (1884), lần đầu tiên đƣa ra hệ thống phân cấp cây rừng, ông phân
chia cây rừng trong một lâm phần thành 5 cấp dựa vào khả năng sinh trƣởng,
kích thƣớc và chất lƣợng của cây rừng. Phân cấp của Kraft phản ánh đƣợc tình
hình phân hoá cây rừng, tiêu chuẩn phân cấp rõ ràng, đơn giản và dễ áp dụng
nhƣng chỉ phù hợp với rừng thuần loài đều tuổi.
Việc phân cấp cây rừng cho rừng hỗn loài nhiệt đới tự nhiên là một vấn đề
phức tạp, cho đến nay vẫn chƣa có tác giả nào đƣa ra phƣơng án phân cấp cây
rừng cho rừng nhiệt đới tự nhiên mà đƣợc chấp nhận rộng rãi. Sampion Gripfit
(1948), khi nghiên cứu rừng tự nhiên Ấn Độ và rừng ẩm nhiệt đới Tây Phi có
kiến nghị phân cấp cây rừng thành 5 cấp cũng dựa vào kích thƣớc chất lƣợng cây
rừng. Richards (1952) [39] phân rừng ở Nigeria thành 6 tầng dựa vào chiều cao
cây rừng.
Khác với xu hƣớng phân loại rừng theo cấu trúc và ngoại mạo chủ yếu mô
tả rừng ở trạng thái tĩnh. Trên cơ sở nghiên cứu rừng ở trạng thái động,
Melekhov đã nhấn mạnh sự biến đổi của rừng theo thời gian, đặc biệt là sự biến
đổi của tổ thành loài cây trong lâm phần qua các giai đoạn khác nhau trong quá
trình phát sinh và phát triển của rừng.
Tóm lại, trên thế giới các công trình nghiên cứu về đặc điểm cấu trúc rừng
nói chung và rừng nhiệt đới nói riêng rất phong phú, đa dạng, có nhiều công
trình nghiên cứu công phu và đã đem lại hiệu quả cao trong kinh doanh rừng.
1.1.2. Nghiên cứu về tái sinh rừng.
Tái sinh rừng là một quá trình sinh học mang tính đặc thù của hệ sinh thái
rừng, biểu hiện của nó là sự xuất hiện của một thế hệ cây con của những loài cây
gỗ ở những nơi có hoàn cảnh rừng. Dƣới tán rừng, chỗ trống trong rừng, đất
rừng sau khai thác, đất rừng sau nƣơng rẫy. Vai trò lịch sử của lớp cây con này là
8
thay thế thế hệ cây già cỗi. Vì vậy tái sinh rừng hiểu theo nghĩa hẹp là quá trình
phục hồi thành phần cơ bản của rừng chủ yếu là tầng cây gỗ.
Theo quan điểm của các nhà nghiên cứu thì hiệu quả tái sinh rừng đƣợc
xác định bởi mật độ, tổ thành loài cây, cấu trúc tuổi, chất lƣợng cây con, đặc
điểm phân bố. Sự tƣơng đồng hay khác biệt giữa tổ thành lớp cây tái sinh và tầng
cây gỗ lớn đã đƣợc nhiều nhà khoa học quan tâm Mibbre-ad, 1930; Richards,
1933, 1939; Schultz, 1960; Baur G.N, 1964; Rollet, 1969). Do tính chất phức tạp
về tổ thành loài cây, trong đó chỉ có một số loài có giá trị nên trong thực tiễn
ngƣời ta chỉ khảo sát những loài cây có ý nghĩa nhất định.
Quá trình tái sinh tự nhiên ở rừng nhiệt đới vô cùng phức tạp và còn ít
đƣợc nghiên cứu. Phần lớn tài liệu nghiên cứu về tái sinh của rừng mƣa thƣờng
chỉ tập trung vào một số loài cây có giá trị kinh tế dƣới điều kiện rừng đã ít nhiều
bị biến đổi. Vanstenis (1965) đã nghiên cứu hai đặc điểm tái sinh phổ biến của
rừng mƣa nhiệt đới là tái sinh phân tán liên tục của các loài cây chịu bóng và tái
sinh vệt của các loài cây ƣa sáng.
Đối với rừng nhiệt đới thì các nhân tố sinh thái nhƣ nhân tố ánh sáng
(thông qua độ tàn che của rừng), độ ẩm của đất, kết cấu quần thụ, cây bụi, thảm
tƣơi là những nhân tố ảnh hƣởng trực tiếp đến quá trình tái sinh rừng. Baur
(1962) [1] cho rằng sự thiếu hụt ánh sáng ảnh hƣởng đến phát triển của cây con,
đối với sự nảy mầm và phát triển của cây mầm, ảnh hƣởng này thƣờng không rõ
ràng. Độ khép tán của quần thụ ảnh hƣởng trực tiếp đến mật độ và sức sống của
cây con. Trong công trình nghiên cứu mối quan hệ qua lại giữa cây con và quần
thụ, V.G.Karpov (1969) đã chỉ ra đặc điểm phức tạp trong quan hệ cạnh tranh về
dinh dƣỡng khoáng của đất, ánh sáng, độ ẩm và tính chất không thuần nhất của
quan hệ qua lại giữa các thực vật tuỳ thuộc đặc tính sinh vật học, tuổi và điều
kiện sinh thái của quần thể thực vật Thảm cỏ và cây bụi tuy kém phát triển ở
những quần thụ kín tán nhƣng chúng vẫn có ảnh hƣởng đến cây tái sinh. Ngƣợc
10
lại, những lâm phần thƣa, rừng đã qua khai thác thì thảm cỏ có điều kiện phát
sinh mạnh mẽ. Trong điều kiện này chúng là nhân tố gây trở ngại rất lớn cho tái
sinh rừng (Xannikov, 1967; Vipper, 1973) .
Nhƣ vậy, qua những kết quả nghiên cứu tái sinh tự nhiên của thảm thực
vật rừng trên thế giới chỉ ra cho chúng ta thấy đƣợc các phƣơng pháp nghiên cứu
của một số tác giả cũng nhƣ những quy luật tái sinh ở một số nơi. Đồng thời các
tác giả đã chỉ ra đƣợc một số biện pháp lâm sinh phù hợp tác động và đó nhằm
thúc đẩy quá trình tái sinh theo chiều hƣớng có lợi.
1.1.3. Nghiên cứu về thảm thực vật
1.1.3.1. Các quan điểm về thảm thực vật.
Trên thế giới và ở Việt Nam có nhiều nhà nghiên cứu thực vật đã đƣa ra
những khái niệm về thảm thực vật. Theo J.Schmithusen (1959): Thảm thực vật là
lớp thực bì của trái đất và các bộ phận hợp thành khác nhau của nó.
Phần lớn các nhà khoa học ở Tây Âu và Bắc Mỹ (Negry, Curtis, Brown,
Ramenxki ) cho rằng cá thể loài cây là thực thể duy nhất trong thiên nhiên. Do
đó, thảm thực vật không đƣợc xem nhƣ những đơn vị riêng biệt, mà chúng thay
nhiệt đới và năm 1956 đƣợc Richard đề nghị áp dụng mở rộng cho các vùng
nhiệt đới khác. (Dẫn theo Thái Văn Trừng 1970 [48]).
UNESCO (1973) đã công bố một khung phân loại thảm thực vật trên thế
giới dựa trên nguyên tắc ngoại mạo, cấu trúc để có thể so sánh đƣợc các kết quả
nghiên cứu ở các vùng khác nhau và có thể thể hiện trên bản đồ có tỷ lệ
1:1.000.000.
1.2 Những nghiên cứu ở Việt Nam.
1.2.1. Nghiên cứu về cấu trúc rừng.
Nhiều công trình khoa học của nhiều tác giả tập trung vào các đặc điểm
cấu trúc của các kiểu rừng tự nhiên rừng trồng nhằm khắc phục việc kinh doanh
12
rừng lâu dài và ổn định. Những năm 70 trở lại đây lâm sinh học định lƣợng phát
triển mạnh mẽ, nhiều tác giả đi sâu vào mô phỏng các cấu trúc từ đơn giản đến
phức tạp bằng mô hình.
1.2.1.1. Về phân loại rừng.
Theo tác giả Trần Ngũ Phƣơng (1963) [30] đã đề cập tới một hệ thống
phân loại, trong đó rất chú ý tới việc nghiên cứu quy luật diễn thế tái sinh.
Dựa trên quan điểm sinh thái phát sinh quần thể, tác giả Thái Văn Trừng
(1978) [48] đã phân chia thảm thực vật rừng Việt Nam thành 14 kiểu. Đây là
công trình tổng quát đáp ứng đƣợc yêu cầu về quy luật sinh thái.
Tác giả Vũ Biệt Linh (1984) [19], khi bàn về vấn đề rừng theo hệ thống
phân loại kinh doanh đã xác định cần phân chia rừng, đất rừng theo mục đích,
nội dung, phƣơng thức, biện pháp kinh doanh nhằm tổ chức định hƣớng tác
nghiệp kinh doanh theo các đối tƣợng khác nhau để đạt đƣợc hiệu quả cần thiết.
Tác giả Vũ Đình Phƣơng (1985 – 1988) [31], [32], [33] đã đƣa ra phƣơng
pháp phân chia rừng dựa vào 5 nhân tố: Nhóm sinh thái tự nhiên, các giai đoạn
phát triển và suy thoái của rừng, khả năng tái tạo rừng bằng con đƣờng tái sinh tự
nhiên, đặc điểm về địa hình, thổ nhƣỡng với một bảng mã hiệu dùng để tra trong
quá trình phân chia.
Nhìn chung các nghiên cứu định lƣợng cấu trúc đã đƣợc nhiều nhà lâm
sinh học trong nƣớc quan tâm ở các mức độ khác nhau nhƣng đều nhằm một
mục đích là xây dựng các cơ sở khoa học cho các giải pháp lâm sinh hợp lí. Các
nghiên cứu không dừng lại ở mức độ mô tả chung chung mà đã đi sâu vào phân
tích các quy luật kết cấu và theo xu hƣớng chung của thế giới. Đó là khái quát
hoá, mô phỏng các quy luật bằng toán học, đồng thời các giải pháp lâm sinh
đƣợc xây dựng trên cơ sở các chỉ tiêu định lƣợng.
14
1.2.1.3. Nghiên cứu phân chia tầng thứ trong rừng nhiệt đới.
Việc nghiên cứu này ở Việt Nam còn rất ít, nhất là ở xu hƣớng định lƣợng
hoá. Có thể điểm qua một số công trình của các tác giả sau đây:
Thái Văn Trừng (1978) [48] đã đƣa ra mô hình cấu trúc tầng nhƣ sau:
Tầng vƣợt tán (A
1
), tầng ƣu thế sinh thái (A
2
), tầng dƣới tán (A
3
), tầng cây bụi
(B) và tầng cỏ quyết (C). Ông đã vận dụng và cải tiến bổ sung phƣơng pháp biểu
đồ mặt cắt đứng của Davis – Richards để nghiên cứu cấu trúc rừng Việt Nam.
Tuy nhiên, việc chỉ ra độ cao giới hạn cho các tầng vẫn mang tính chất định tính.
Nguyễn Văn Trƣơng (1973, 1983, 1984) khi nghiên cứu cấu trúc rừng hỗn
loài cũng đã nghiên cứu sự phân tầng theo hƣớng định lƣợng, nhƣng ở đây tác
giả đã sử dụng phƣơng pháp phân tầng theo chiều cao một cách cơ giới mà điều
này không thể chỉ rõ kiểu phân tầng ở rừng nhiệt đới Việt Nam.
Vũ Đình Phƣơng (1988) [34] xuất phát từ các kết quả của các tác giả đi
Phạm Đình Tam (1987) [40], nghiên cứu tình hình tái sinh dƣới các lỗ
trống ở rừng thứ sinh vùng Hƣơng Sơn (Hà Tĩnh) đã có nhận xét: Số lƣợng cây
tái sinh xuất hiện khá nhiều dƣới các lỗ trống khác nhau, lỗ trống càng lớn cây
tái sinh càng nhiều và hơn hẳn những nơi kín tán.
Lê Đồng Tấn (2000) [42] nghiên cứu quá trình phục hồi tự nhiên một số
quần xã thực vật sau nƣơng rẫy ở Sơn La có kết luận: Mật độ cây tái sinh ở các
vị trí địa hình và các cấp độ dốc khác nhau là khác nhau.
Trần Xuân Thiệp (1996) [46] căn cứ vào số lƣợng cây tái sinh đã xây
dựng bảng đánh giá tái sinh cho các trạng thái rừng (Theo hệ thống phân loại của
Loschau) theo 3 cấp: tốt, trung bình, xấu. Về phân bố theo cấp chiều cao đều có
sự tƣơng đồng ở các trạng thái rừng, phân bố giảm theo hàm Meyer từ cấp 1 – 5
(< 3m).
16
Đỗ Hữu Thƣ, Trần Đình Lý và cộng sự (1994) [47] khi nghiên cứu năng
lực tái sinh tự nhiên thảm thực vật rừng trong các trạng thái thực bì ở Việt Nam
đã nhân xét: Về số lƣợng và chất lƣợng của lớp tái sinh tự nhiên, tốc độ sinh
trƣởng và những thay đổi của lớp tái sinh tự nhiên trong các giai đoạn đầu của
quá trình phục hồi thảm thực vật rừng thì các dạng thực bì ở trạng thái I
B
, I
C
, II
A
,
II
B
đều có thể xếp vào đối tƣợng có khả năng khoanh nuôi phục hồi rừng.
Nhiều tác giả cũng có những nghiên cứu về đặc điểm lớp tái sinh tự nhiên
trong các trạng thái thực bì khác nhau ở một số vùng sinh thái đồi núi nƣớc ta
thành nghèo kiệt, tuy còn có thể khai thác lấy gỗ trụ mỏ, củi.
+Loại hình IV: gồm những rừng già nguyên sinh chƣa bị khai phá.
Hệ thống phân loại rừng này đã đƣợc áp dụng rộng rãi ở nƣớc ta trong
việc điều tra tái sinh rừng cũng nhƣ điều tra tài nguyên rừng theo mỗi trạng thái
phục vụ cho công tác quy hoạch, thiết kế kinh doanh rừng.
Trần Ngũ Phƣơng (1970) [30], đã xây dựng bảng phân loại rừng miền Bắc
Việt Nam. Bảng phân loại này đã chú ý đến việc nghiên cứu các quy luật diễn
thế thứ sinh, diễn biến độ phì, những biến đổi của các tính chất vật lý, hoá học
của đất qua các giai đoạn phát triển của rừng. Bảng phân loại này cụ thể, đơn
giản bƣớc đầu đã đƣợc vận dụng theo quy trình tu bổ rừng ở nƣớc ta. Tuy nhiên,
điểm hạn chế của bảng phân loại này mới chỉ là một bảng thống kê tên các kiểu
quần hệ và xã hợp, ƣu hợp thực vật đƣợc điều tra mà không làm nổi bật đƣợc
mối quan hệ giữa thảm thực vật và các điều kiện môi trƣờng.
Thái Văn Trừng (1970) [48], trên quan điểm sinh thái phát sinh đã xây
dựng bảng phân loại rừng Việt Nam. Trong hệ thống này, ông đã phân chia sắp
xếp các kiểu thảm thực vật Việt Nam vào một khung hợp lý, trong đó sắp xếp
trƣớc sau những nhóm nhân tố sinh thái phát sinh. Đồng thời trong mỗi nhóm
nhân tố lại sắp xếp những biến trạng theo một trật tự giảm dần từ kiểu tốt nhất
18
đến kiểu xấu nhất. Đây là công trình tổng quát có giá trị về lý luận cũng nhƣ về
thực tiễn, đáp ứng đƣợc quy hoạch sinh thái, đƣợc nhiều nhà khoa học đánh giá
cao. Tuy nhiên, theo tác giả thì bảng phân loại này thuộc loại đặc biệt hay mang
tính chất địa phƣơng của một vùng hay của một nƣớc.
Phan Kế Lộc (1985) [20] đã áp dụng khung phân loại thực vật thế giới
UNESCO (1973) để xây dựng bảng phân loại thảm thực vật Việt Nam và có thể
thể hiện trên bản đồ có tỷ lệ 1:2.000.000. Bảng phân loại này gồm có 5 lớp quần
hệ: Rừng rậm, rừng thƣa, cây bụi, cây bụi lùn và trảng cỏ.
Nguyễn Nghĩa Thìn (1997) [45] đã áp dụng khung phân loại thực vật thế
giới UNESCO (1973) để xây dựng bảng phân loại thảm thực vật Việt Nam.