Nghiên cứu đặc điểm cấu trúc rừng trồng Keo Lai (Acacia mangium x Auriculiformis) tại xã Quy Kỳ, huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên. - Pdf 29


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

NGUYỄN ANH TÚC
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM CẤU TRÚC CỦA RỪNG TRỒNG
KEO LAI (Acacia mangium x Auriculiformis) TẠI XÃ QUY KỲ,
HUYỆN ĐỊNH HÓA, TỈNH THÁI NGUYÊN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên ngành : QLTNR
Khoa : Lâm nghiệp
Khóa Học : 2010 -2014


Khóa học : 2010 -2014

Gỉảng viên hướng dẫn: ThS. Nguyễn Công Hoan
Khoa Lâm nghiệp - Trường đại học Nông Lâm Thái Nguyên
Thái Nguyên, 2014
LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của bản thân
tôi, các số liệu và kết quả nghiên cứu trình bày trong khóa luận là quá trình
điều tra trên thực địa hoàn toàn trung thực, khách quan.

Thái Nguyên, ngày tháng năm 2014

Xác nhận giáo viên hướng dẫn Ths. Nguyễn Công Hoan

Người viết cam đoan Nguyễn Anh Túc
XÁC NHẬN CỦA GV CHẤM PHẢN BIỆN
(Ký, họ và tên)

LỜI CẢM ƠN


1.2. Mục đích nghiên cứu 3
1.3. Mục tiêu nghiên cứu 3
1.4. Ý nghĩa nghiên cứu của đề tài 3
PHẦN 2 - TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4
2.1. Đặc điểm phân loại và phân bố tự nhiên của cây Keo lai 4
2.1.1. Đặc điểm phân loại 4
2.1.2. Đặc điểm phân bố của cây Keo lai 4
2.2. Những nghiên cứu rừng trồng trên thế giới 5
2.2.1. Nghiên cứu về cấu trúc rừng 5
2.2.1.1. Những nghiên cứu về quy luật cấu trúc đường kính thân 5
2.2.1.2. Nghiên cứu quy luật tương quan giữa chiều cao với đường kính 6
2.2.2. Nghiên cứu tương quan giữa đường kính tán với đường kính thân 8
2.2.3. Những nghiên cứu về cải thiện giống và biện pháp kỹ thuật lâm sinh 8
2.3. Những nghiên cứu rừng trồng ở Việt Nam 9
2.3.1. Nghiên cứu về cấu trúc rừng 9
2.3.2. Nghiên cứu về quy luật cấu trúc đường kính thân cây rừng 10
2.3.3. Nghiên cứu tương quan giữa chiều cao với đường kính thân 12
2.3.4. Nghiên cứu tương quan giữa đường kính tán cây với đường kính thân 14
2.3.5. Những nghiên cứu về cải thiện giống và biện pháp kỹ thuật lâm sinh . 15
2.4. Tổng quan khu vưc nghiên cứu 18
2.4.1. Điều kiện tự nhiên khu vực nghiên cứu 18
2.4.2. Điều kiện kinh tế - xã hội 20
PHẦN 3- ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU 23
3.1. Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu 23
3.2. Nội dung nghiên cứu 23
3.3. Phương pháp nghiên cứu 23
3.3.1. Cơ sở lý luận 23
3.3.2. Phương pháp ngoại nghiệp 24
3.3.2.1. Phương pháp kế thừa tài liệu 24

vn
theo hàm Weibull 38
Bảng 4.4. Tương quan giữa chiều cao với đường kính thân 41
Bảng 4.5. Tương quan giữa đường kính tán với đường kính thân 42
Bảng 4.6. Tương quan giữa độ lệch của phân bố N/D
1,3
với các
nhân tố ảnh hưởng 43
Bảng 4.7. Số lượng cây chặt, cây chừa trong 18 ô tiêu chuẩn 44
Bảng 4.8. Cường độ tỉa thưa rừng Keo lai tại địa bàn nghiên cứu 45
DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 4.1. Phân bố N/D
1,3
có dạng lệch trái 36
Hình 4.2. Phân bố N/D
1.3
có dạng lệch phải 37
Hình 4.3. Phân bố N/D
1,3
có dạng lệch tiệm cận phân bố chuẩn 37
Hình 4.4. Phân bố N/Hvn theo hàm Weibull có dạng lệch trái 39
Hình 4.5. Phân bố N/Hvn theo hàm Weibull có dạng lệch phải 39
Hình 4.6. Phân bố N/Hvn theo hàm Weibull có dạng đối xứng 39
DANH MỤC CÁC TỪ, KÝ HIỆU VIẾT TẮT

D
1,3
: Đường kính tán ở độ cao 1,3m
Dt : Đường kính tán cây


1.1. Đặt vấn đề
Vốn được xem là "lá phổi" của trái đất, rừng có vai trò rất quan trọng
trong việc duy trì cân bằng sinh thái và sự đa dạng sinh học trên hành tinh
chúng ta. Bởi vậy bảo vệ rừng và nguồn tài nguyên rừng luôn trở thành một
yêu cầu, nhiệm vụ không thể trì hoãn đối với tất cả các quốc gia trên thế giới
trong đó có Việt Nam. Đó là một thách thức vô cùng to lớn đòi hỏi mỗi cá
nhân, tổ chức thuộc các cấp trong một quốc gia và trên thế giới nhận thức
được vai trò và nhiệm vụ của mình trong công tác phục hồi và phát triển rừng.
Rừng là tài nguyên quý giá và có khả nặng tự tái tạo được và mau phục
hồi. Rừng có vai trò to lớn đối với đời sống con người không chỉ ở Việt Nam
mà toàn thế giới như cung cấp nguồn gỗ, củi, điều hoà khí hậu, tạo ra oxy, điều
hoà nước, chống xói mòn, rửa trôi Rừng là nơi cư trú của động thực vật và
tàng trừ các nguồn gen quý hiếm. Mất rừng gây ra hậu quả nghiêm trọng, là
nguyên nhân gây ra hiện tượng xói mòn, rửa trôi, lũ lụt, hạn hán, mất diện tích
canh tác, mất đi sự đa dạng sinh học. Ở Việt Nam theo đến năm 2014 diện tích
rừng trồng tăng, song rừng trồng thường có cấu trúc không ổn định, vai trò bảo
vệ môi trường, phòng hộ kém. Hầu hết, rừng tự nhiên của Việt Nam đều bị tác
động, sự tác động theo hai hướng chính đó, là chặt chọn (chặt cây đáp ứng yêu
cầu sử dụng). Đây là lối khai thác tự do ở các vùng có đồng bào dân tộc thiểu
số sinh sống (lấy gỗ về làm nhà, làm củi ). Cách thứ hai là khai thác trắng
như: phá rừng làm nương rẫy, khai thác trồng cây công nghiệp, phá rừng tự
nhiên trồng rừng công nghiệp ). Trong hai cách này, cách thứ nhất rừng vẫn
còn tính chất đất rừng, kết cấu rừng bị phá vỡ, rừng nghèo kiệt về trữ lượng và
chất lượng, nhưng vẫn còn khả năng phục hồi. Với cách khai thác thứ hai, rừng
hoàn toàn bị mất trắng, khó có khả năng phục hồi.
Vai trò của rừng là rất to lớn, thế nhưng trong những năm vừa qua diện

2
tích rừng tự nhiên của chúng ta ngày càng giảm sút cả về số lượng và chất

những điều kiện trên và cây Keo lai còn đáp ứng được mục tiêu Kinh tế - Xã
hội trong khu vực.
Trước thực tiễn đó, tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu đặc
điểm cấu trúc rừng trồng Keo Lai (Acacia mangium x Auriculiformis) tại
xã Quy Kỳ, huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên” làm cơ sở khoa học cho
việc đề xuất một số biện pháp kỹ thuật nuôi dưỡng rừng.
1.2. Mục đích nghiên cứu
Xác định được một số đặc điểm cấu trúc rừng trồng Keo lai làm cơ sở
khoa học đề xuất kỹ thuật nuôi dưỡng rừng tại khu vực nghiên cứu.
1.3. Mục tiêu nghiên cứu
- Xác định được một số quy luật phân bố giữa mật độ và đường kính
thân cây, giữa mật độ và chiều cao vút ngọn.
- Xác định mật độ tối ưu cho các lâm phần Keo lai.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả chăm sóc và nuôi
dưỡng rừng Keo lai.
1.4. Ý nghĩa nghiên cứu của đề tài
∗ Ý nghĩa khoa học
Nghiên cứu đặc điểm cấu trúc rừng trồng keo. Trên cơ sở các quy luật cấu
trúc đã phát hiện, đề xuất một số giải pháp nhằm phục hồi rừng, nâng cao
năng suất, chất lượng rừng trồng keo thuần loài.
∗ Ý nghĩa thực tiễn
Trên cơ sở các quy luật cấu trúc đã phát hiện, đề xuất một số giải pháp nhằm
phục hồi rừng, nâng cao được năng suất và chất lượng rừng trồng Keo lai thuần
loài tại xã Quy Kỳ, huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên để cải thiện, nâng cao
đời sống người dân trong khu vực.

5
2.2. Những nghiên cứu rừng trồng trên thế giới
2.2.1. Nghiên cứu về cấu trúc rừng
Quy luật cấu trúc rừng là quy luật sắp xếp tổ hợp của các thành phần
cấu tạo nên quần thể thực vật rừng theo không gian và thời gian. Nó là cơ sở
khoa học chủ yếu để xây dựng các phương pháp thống kê dự đoán trữ lượng,
sản lượng và đề xuất các biện pháp lâm sinh phù hợp.
Trên thế giới, việc nghiên cứu cấu trúc rừng đã được tiến hành từ lâu
nhằm xác định cơ sở khoa học cho việc đề xuất các biện pháp kỹ thuật tác
động vào rừng, góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế và môi trường của rừng.
Ngay từ những năm đầu thế kỷ XX đã có nhiều nghiên cứu về cấu trúc
rừng, những nghiên cứu trước đây chủ yếu mang tính định tính, mô tả thì nay
đã đi sâu vào nghiên cứu định lượng chính xác. Việc nghiên cứu quy luật cấu
trúc là để tìm ra dạng tối ưu theo quan điểm kinh tế, nghĩa là các kiểu cấu trúc
cho năng suất gỗ cao nhất, chất lượng phù hợp nhất, với nhu cầu sử dụng gỗ
và bảo vệ môi trường. Trên cơ sở quy luật cấu trúc, các nhà lâm sinh học có
thể xây dựng phương pháp khai thác hợp lý như: chặt trắng, chặt chọn, chặt
dần. Các phương pháp kinh doanh rừng đều tuổi hay nhiều thế hệ tuổi [17].
Quy luật cấu trúc bao gồm nhiều quy luật tồn tại khách quan trong lâm
phần nhưng quan trọng nhất là các quy luật: Cấu trúc đường kính, cấu trúc
chiều cao lâm phần, quan hệ giữa đường kính tán (D
t
) và đường kính ngang
ngực (D
1,3
)
Odum E. P (1971) [29] đã hoàn chỉnh học thuyết về hệ sinh thái trên cơ
sở thuật ngữ hệ sinh thái (ecosystem) của Tansley A. P (1935) [33]. Khái
niệm hệ sinh thái được làm sáng tỏ là cơ sở để nghiên cứu các nhân tố cấu

độ lâm phần.
2.2.1.2. Nghiên cứu quy luật tương quan giữa chiều cao với đường kính
Khi sắp xếp cây rừng cùng một lúc theo hai đại lượng đường kính ngang
ngực và chiều cao thân cây sẽ được quy luật phân bố hai chiều và có thể định
lượng thành quy luật tương quan giữa chiều cao với đường kính thân cây.
Tương quan giữa chiều cao với đường kính thân cây rừng là một trong
những quy luật cơ bản và quan trọng trong hệ thống các quy luật cấu trúc lâm
phần và được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu. Viêc nghiên cứu tìm hiểu và

7
nắm vững quy luật này là sự cần thiết đối với công tác điều tra, kinh doanh và
nuôi dưỡng rừng. Bởi lẽ, chiều cao cũng là một trong những nhân tố cấu
thành thể tích thân cây và trữ lượng lâm phần, nó không thể thiếu được trong
công tác lập các biểu chuyên dụng phục vụ điều tra và kinh doanh rừng.
Tovstolese, D. I (1930), lấy cấp đất làm cơ sở nghiên cứu quan hệ H/D.
Mỗi cấp đất tác giả xác lập một đường cong chiều cao bình quân ứng với mỗi
cỡ đường kính để có dãy tương quan cho loài và cấp chiều cao. Sau đó dùng
phương pháp biểu đồ để nắn dãy tương quan cho loài và cấp chiều cao. Sau
đó dùng phương pháp biểu đồ để nắn dãy tương quan theo dạng đường thẳng
của Gehrhardt và Kopetxki:
Hg = a + b.g (2.1)
Krauter, G (1958) và Tiourin, A.V (1931) (dẫn theo tài liệu [3]), nghiên
cứu tương quan giữa chiều cao với đường kính ngang ngực dựa trên cơ sở cấp
đất và cấp tuổi. Kết quả cho thấy, khi dãy phân hóa thành các cấp chiều cao
thì mối quan hệ này không cần xét đến cấp đất hay cấp tuổi, cũng không cần
xét đến tác động của hoàn cảnh và tuổi đến sinh trưởng của cây rừng và của
lâm phần, vì những nhân tố này đã được phản ánh trong kích thước của cây,
nghĩa là đường kính và chiều cao trong quan hệ đã bao hàm tác động của
hoàn cảnh và tuổi.
Đối với những lâm phần thuần loài đều tuổi, cho dù có tìm được

năng suất, chất lượng gỗ và các sản phẩm mong muốn khác từ rừng. Trên thế
giới đã có rất nhiều nước đi sâu nghiên cứu về vấn đề này điển hình là các
nước: Công Gô, Brazin, Swaziland, Malayxia, Zimbabwe
Mật độ trồng rừng ban đầu cũng là một trong những biện pháp kỹ thuật
lâm sinh quan trọng có ảnh hưởng đến năng suất rừng trồng. Đối với mỗi
dạng lập địa, mỗi loài cây trồng, mỗi mục đích kinh doanh rừng đều có cách
sắp xếp, bố trí mật độ khác nhau. Mật độ trồng rừng cây keo lai bằng các
dòng vô tính chọn lọc được quy định 1.110 cây/ ha (cư ly hàng 3m, cự ly cây
3m) đối với nơi đất tốt và 1.660 cây/ha (cự ly hàng 3m, cự ly cây 2m) đối với
nơi đất xấu. Tuỳ theo điều kiện lập địa cụ thể nơi trồng và điều kiện đầu tư,
kinh doanh để xác định mật độ. Hàng cây bố trí theo đường đồng mức hoặc
theo hướng Đông - Tây.
Keo lai chịu đựng và sinh trưởng kém ở những nới có sương muối hoặc
giá lạnh, nhiệt độ dưới 6
0
C. Những vùng có gió mạnh và bão nên trồng hạn

9
chế. Nhiệt độ tối ưu cho sự sinh trưởng phát triển của keo từ 21 - 27
0
C, lượng
mưa 1400 mm - 2400 mm, phân bố ở độ cao dưới 700m so với mực nước
biển, độ dốc dưới 15 - 20
0
C, ít có gió mạnh.
Tóm lại, trên thế giới đã có những công trình nghiên cứu về rừng trồng
Keo lai, nhiều tác giả cho rằng sự thành công trong kinh doanh rừng trồng
Keo lai phụ thuộc vào nhiều yếu tố trong đó yếu tố cơ bản là điều kiện sinh
thái, chất lượng lập địa, chất lượng cây giống và các biện pháp kỹ thuật tác
động trong chu kỳ kinh doanh rừng trồng Keo lai.

giả

quan

tâm

nghiên

cứu.

Sở



như

vậy

vì cấu

trúc





sở

cho


Khanh

(1996)
[9]
,

Bảo

Huy

(1993) [8]

đã

căn

cứ

vào

tổ

thành

loài

cây

mục




Sáu

(1996) [21] dựa

vào

hệ

thống

phân

loại

của

Thái

Văn Trừng

kết

hợp

với

hệ



thái
.
Giống lai tự nhiên giữa Keo tai tượng với Keo lá tràm đã được phát
hiện ở cả rừng tự nhiên lẫn rừng trồng và đều có một số đặc tính vượt trội so
với bố mẹ, sinh trưởng nhanh, cành nhánh nhỏ, thân đơn trục với đoạn thân
dưới cành lớn (Lê Đình Khả, 2006) [14].
Nghiên cứu về hình thái cây Keo lai có thể kể đến các công trình
nghiên cứu của Rufelds (1988) [30]; Gan, E và Sim Boom Liang (1991) [28]
các tác giả đã chỉ ra rằng: Keo lai xuất hiện lá giả (Phyllode) sớm hơn Keo tai
tượng nhưng muộn hơn Keo lá tràm. Ở cây con lá giả đầu tiên của Keo lá
tràm thường xuất hiện ở lá thứ 4 -5, Keo tai tượng thường xuất hiện ở lá thứ
8 - 9 còn ở Keo lai thì thường xuất hiện ở lá thứ 5 - 6. Bên cạnh đó là sự phát

10
hiện về tính chất trung gian giữa Keo tai tượng và Keo lá tràm ở các bộ phận
sinh sản (Bowen, 1981) [25].
2.3.2. Nghiên cứu về quy luật cấu trúc đường kính thân cây rừng
Từ các nghiên cứu định lượng cấu trúc N/D đề cập ở trên cho thấy:
- Các nghiên cứu về phân bố số cây theo đường kính và ứng dụng của nó
thường dựa vào dãy tần số lý thuyết.
- Các hàm toán học được sử dụng để mô phỏng rất đa dạng và phong phú.
- Xu hướng chung là tìm toán học thích hợp, xác định các tham số của
phân bố N/D bằng các hàm tương quan trực tiếp hoặc gián tiếp theo tuổi, thiết
lập một quá trình ngẫu nhiên (phân bố N/D được xem như một quá trình ngẫu
nhiên). Ngoài ra, mô tả biến đổi phân bố N/D như một quá trình xác định trên
cơ sở quan niệm động thái phân bố N/D là kết quả của quá trình sinh trưởng
và quá trình tỉa thưa.
Theo Nguyễn Ngọc Lung (1999) [16] khi nghiên cứu về phân bố đường
kính của rừng Thông ba lá ở Việt Nam đã nhận xét: Việc dùng hàm này hay

định các nhân tố điều tra cơ bản như: Các loại đường kính bình quân, tổng tiết
diện ngang, trữ lượng, mật độ hiện tại và là cơ sở để dự đoán một số nhân tố
điều tra cơ bản lâm phần ở thời điểm điều tra nào đó. Để xác định phân bố
N/D, cần chọn phạm vi cỡ kính thích hợp, từ đó xác định liệt số phân bố số
cây theo cỡ kính cho từng lâm phần nghiên cứu.
Với lâm phần thuần loại có đường kính bình quân nhỏ hơn 20cm, nên
chọn cỡ đường kính là 2cm, còn với những lâm phần có đường kính bình
quân lớn hơn 20cm, thì nên chọn cỡ kính là 4cm. Ở nước ta, theo kinh nghiệm
khi điều tra rừng trồng, cỡ đường kính nên chọn là 2cm, với những lâm phần
có biến động lớn về đường kính thì dùng 4cm.
Phạm Ngọc Giao (1996) [3] khi nghiên cứu phân bố đường kính rừng
Thông đuôi ngựa khu Đông Bắc đã xác định cỡ kính là 2cm. Theo Hoàng Văn
Dưỡng (2001) [2], để xác định cỡ kính hợp lý thì phải thỏa mãn 3 yêu cầu.
- Không làm biến dạng quy luật phân bố N/D vốn có của lâm phần.
- Không mắc sai số hệ thống khi tính toán tổng diện ngang và sai số đó
phải nằm trong giới hạn sai số cho phép.

12
- Thuận lợi cho quá trình đo, ghi chép và tính toán.
Như vậy xu hướng mô hình hoá quy luật N/D, nhìn chung các tác giả ở
nước ta thường dùng một trong hai phương pháp, đó là phương pháp biểu đồ
và phương pháp giải tích toán học. Phương pháp biểu đồ được dùng để phát
hiện quy luật, còn phương pháp giải tích toán học dùng để định lượng quy
luật. Tuy nhiên, việc dùng hàm này hay hàm khác để biểu thị dãy phân bố
thực nghiệm N/D còn phụ thuộc vào kinh nghiệm của từng tác giả và bản chất
quy luật đo đạc được.
Thời gian gần đây khi mô phỏng quy luật cấu trúc đường kính lâm
phần nói chung và cho đối tượng rừng trồng thuần loài đều tuổi ở nước ta nói
riêng, nhiều tác giả đã chọn phân bố Weibull để mô tả và xây dựng mô hình
cấu trúc đường kính cho lâm phần thuần loài, đều tuổi thuộc các đối tượng

h = h = a+bd
1,3
+clogd
1,3

(2.5)
h = a + blogd
1,3
(2.6)
Logh = a + blogd
1,3
(2.7)
Tác giả đã kết luận phương trình (2.7) thích hợp nhất với đối tượng

13
nghiên cứu trên.
Nguyễn Ngọc Lung (1999) [16], khi nghiên cứu tương quan H/D cho
loài Thông ba lá đã thử nghiệm 8 dạng phương trình kết quả cho thấy cả 8
dạng phương trình đều phù hợp về mặt thống kê. Tuy nhiên dạng
H = a(1-e
-bD
)
m
của Drakin (1940) được chọn do có hệ so tương quan
cao nhất. Phương trình chung đã lập cho cả đối tượng nghiên cứu là:
H= 38,88.(1 - e
-0,043D)1,509
(2.8)
R = 0,9567
Với Thông đuôi ngựa khu vực Đông Bắc, kết quả nghiên cứu bước đầu

Hoàng Văn Dưỡng (2011) [2] đã thử nghiệm bốn phương trình tương
quan H/D cho loài KLT ở một số tỉnh miền Trung như sau:

14
h = a + b.d
1.3
(2.16)
h = a + b.logd
1.3
(2.17)
logh = a + b.d
1.3
(2.18)
logh = a + b.logd
1.3
(2.19)
Qua thử nghiệm, tác giả đã lựa chọn phương trình phù hợp nhất cho đối
tượng qua nghiên cứu là phương trình:
h = a b.logd
1.3
(2.20)
Với hệ số xác định biến động từ chặt đến rất chặt ( R:0,82 - 0,97).
Ngoài ra còn rất nhiều tác giả khác, trong quả trình nghiên cứu cấu trúc,
sinh trưởng và sản lượng rừng cũng đề cập tới quy luật tương quan H/D.
Tóm lại. Nghiên cứu quy luật tương quan giữa chiều cao với đường kính
thân cây theo hướng thăm dò để tìm dạng phương trình thích hợp đã được đề cập
ở hầu hết các công trình nghiên cứu cấu trúc, sản lượng rừng cũng như các công
trình lập biểu chuyên dụng phục vụ công tác điều tra, kinh doanh rừng của các
tác giả trong và ngoài nước. Những kết quả nghiên cứu trên đây của các tác giả
không chỉ có ý nghĩa về mặt lý luận mà còn có ý nghĩa thực tiễn, đây sẽ là cơ sở

của mình.
2.3.5. Những nghiên cứu về cải thiện giống và biện pháp kỹ thuật lâm sinh
Khi nghiên cứu sự thoái hóa và phân ly của cây Keo lai, Lê Đình Khả
(1997) [10] đã khẳng định: Không nên dùng hạt của cây Keo lai để gây trồng
rừng mới. Keo lai đời F
1
có hình thái trung gian giữa hai loài bố mẹ và tương
đối đồng nhất, đến đời F
2
Keo lai có biểu hiện thoái hóa và phân ly khá rõ rệt,
cây lai F
2
sinh trưởng kém hơn cây lai F
1
và có biến động lớn về sinh trưởng.
Do đó, để phát triển giống Keo lai vào sản xuất thì phải dùng phương pháp
nhân giống bằng hom hoặc nuôi cấy mô từ những dòng Keo lai tốt nhất đã
được công nhận là giống Quốc gia và giống tiến bộ kỹ thuật.
Trồng rừng thâm canh là vấn đề trước đây có rất ít người quan tâm,
song do nguồn gỗ rừng tự nhiên không còn đáp ứng được nhu cầu về gỗ ngày
càng tăng của xã hội. Bên cạnh đó, diện tích đất qui hoạch cho lâm nghiệp nói
chung ngày càng giảm do phải cắt chuyển sang sử dụng vào mục đích khác
như mở rộng đất nông nghiệp, đất thổ cư, đường Hơn nữa, đất qui hoạch
cho trồng rừng hầu hết là đất nghèo và xấu, vì thế trồng rừng thâm canh đã trở
thành xu thế tất yếu trong sản xuất lâm nghiệp hiện nay, nhất là trồng rừng
nguyên liệu phục vụ công nghiệp chế biến bột giấy và ván nhân tạo.

16
Vào những năm 1980, bên cạnh các nước có lịch sử phát triển rừng
theo hướng thâm canh như: Đức, Ý, Thụy Điển, thì ở Việt Nam vấn đề này


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status