I HC THI NGUYấN
TRNG I HC NễNG LM
NGUYN TIN V
NGHIÊN CứU LƯợNG CARBON
TíCH LũY CủA RừNG VầU ĐắNG (INDOSASA
ANGUSTATA MC.CLURE) TạI X! TÂN THịNH,
HUYệN ĐịNH HóA, TỉNH THáI NGUYÊN KHểA LUN TT NGHIP I HC
H o to : CHNH QUY
Chuyờn ngnh : LM NGHIP
Khoa : LM NGHIP
Khúa hc : 2010 - 2014 THI NGUYấN, 2014 Thái Nguyên, 2014
i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của bản thân
tôi. Các số liệu và kết quả nghiên cứu là quá trình điều tra trên thực địa hoàn
toàn trung thực, chưa công bố trên các tài liệu, nếu có gì sai tôi xin chịu hoàn
toàn trách nhiệm!
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2014
XÁC NHẬN CỦA TẬP THỂ GVHD Người viết cam đoan
Nguyễn Tiến Vũ XÁC NHẬN CỦA GV CHẤM PHẢN BIỆN
(Ký, họ và tên) ii
LỜI CẢM ƠN
Phần 1. MỞ ĐẦU 1
1.1. Đặt vấn đề 1
1.2. Mục tiêu nghiên cứu 2
1.3. Mục đích nghiên cứu 3
1.4. Ý nghĩa của đề tài 3
Phần 2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
2.1. Tổng quan nghiên cứu 4
2.1.1. Những nghiên cứu trên thế giới 4
2.1.1.1. Nghiên cứu về sinh khối 4
2.1.1.2. Nghiên cứu về khả năng tích lũy Carbon 5
2.1.2. Ở Việt Nam 7
2.1.2.1. Nghiên cứu về sinh khối 7
2.1.2.2. Nghiên cứu về khả năng tích lũy Carbon 9
2.1.2.3. Nghiên cứu về cây Vầu đắng 10
2.1.3. Nhận xét, đánh giá chung 13
2.2. Tổng quan về khu vực nghiên cứu 14
2.2.1. Điều kiện tự nhiên khu vực nghiên cứu 14
2.2.1.1. Vị trí địa lý 14
2.2.1.2. Điều kiện khí hậu, thủy văn 14
2.2.1.3. Đặc điểm địa hình 15
2.2.1.4. Hiện trạng đất đai và tài nguyên rừng: 15
2.2.2. Tình hình dân cư kinh tế 15
2.2.2.1. Dân tộc, dân số và lao động 15
2.2.2.2. Giao thông và cơ sở hạ tầng 15
2.2.2.3. Văn hóa - giáo dục 16
2.2.2.4. Thu nhập và đời sống 16
iv
2.2.3. Nhận xét và đánh giá chung 18
4.3.2. Đặc điểm sinh khối khô của cây bụi thảm tươi và thảm mục 39
4.3.2.1. Đặc điểm sinh khối khô của cây bụi thảm tươi 39
4.3.2.2. Đặc điểm sinh khối tươi của vật rơi rụng 40
4.4. Lượng carbon tích lũy của rừng Vầu đắng thuần loài tại xã Tân
Thịnh, huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên 42
4.4.1. Lượng Carbon tích lũy trong lâm phần vầu đắng 42
4.4.2. Cấu trúc carbon tích lũy trong cây bụi, thảm tươi 45
4.4.3. Cấu trúc carbon tích lũy trong vật rơi rụng 46
Phần 5. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 48
5.1. Kết luận 48
5.2. Kiến nghị 50
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
vi
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Từ viết tắt Nghĩa đầy đủ của từ
CDM : Clean Development Mechanism
(Cơ chế phát triển sạch)
C : Carbon
Cs : công sự
D
1.3
: Đường kính ngang ngực bình quân
D
1.3
: Đường kính ngang ngực
H
Bảng 4.2. Bảng tổng hợp phân bố N/H 28
Bảng 4.3. Bảng quy luật phân bố tương quan H/D 29
Bảng 4.4. Đặc điểm sinh khối tươi lâm phần Vầu đắng trên ba cấp tuổi 30
Bảng 4.5. Đặc điểm sinh khối tươi cây bụi thảm tươi lâm phần vầu đắng 34
Bảng 4.6. Đặc điểm sinh khối tươi vật rơi rụng lâm phần vầu đắng 35
Bảng 4.7. Đặc điểm sinh khối khô lâm phần Vầu đắng trên ba cấp tuổi 36
Bảng 4.8. Đặc điểm sinh khối khô cây bụi, thảm tươi lâm phần vầu đắng 39
Bảng 4.9. Đặc điểm sinh khối khô vật rơi rụng lâm phần vầu đắng 41
Bảng 4.10. Lượng carbon tích lũy của lâm phần vầu đắng ở ba cấp tuổi 42
Bảng 4.11. Cấu trúc carbon tích lũy trong cây bụi, thảm tươi 45
Bảng 4.12. Cấu trúc carbon tích lũy trong vật rơi rụng 46
viii
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 4.1. Phân bố bình quân số cây Vầu đắng theo cấp đường kính 28
Hình 4.2. Phân bố bình quân số cây theo cấp chiều cao 29
Hình 4.3. Biểu đồ sinh khối tươi lâm phần vầu đắng theo 3 cấp tuổi 31
Hình 4.4. Tỉ lệ sinh khối tươi của các bộ phận lâm phần vầu đắng cấp tuổi 1 32
Hình 4.5. Tỉ lệ sinh khối tươi của các bộ phận lâm phần vầu đắng cấp tuổi 2 32
Hình 4.6. Tỉ lệ sinh khối tươi của các bộ phận lâm phần vầu đắng cấp tuổi 3 33
Hình 4.7. Đặc điểm sinh khối tươi cây bụi, thảm tươi lâm phần vầu đắng 34
Hình 4.8. Đặc điểm sinh khối tươi vật rơi rụng lâm phần vầu đắng 35
Hình 4.9. Biểu đồ sinh khối khô lâm phần vầu đắng theo 3 cấp tuổi 37
Hình 4.10. Biểu đồ đặc điểm sinh khối khô lâm phần vầu đắng cấp tuổi 1 38
Hình 4.11. Biểu đồ đặc điểm sinh khối khô lâm phần vầu đắng cấp tuổi 2 38
Hình 4.12. Biểu đồ đặc điểm sinh khối khô lâm phần vầu đắng cấp tuổi 3 39
Hình 4.13. Biểu đồ sinh khối khô cây bụi, thảm tươi lâm phần vầu đắng 40
Hình 4.14. Biểu đồ sinh khối khô vật rơi rụng lâm phần vầu đắng 41
Hình 4.15. Biểu đồ lượng carbon tích lũy của lâm phần vầu đắng ở ba cấp tuổi 43
khí hậu như: dịch bệnh đói nghèo, mất nơi ở, thiếu đất canh tác, sự suy
giảm đa dạng sinh học,…
Các nhà khoa học cho rằng nguyên nhân trực tiếp của sự biến đổi khí
hậu là do phát thải quá mức khí nhà kính, đặc biệt là CO
2.
Với diện tích rừng
ngày càng bị thu hẹp cộng với quá trình khai thác rừng không hợp lý chính là
nguyên nhân để lượng carbon tích tụ ngày càng nhiều. Theo tiến sỹ
Christopher Field: “Lượng carbon tích trữ trong hệ sinh thái rừng thấp dẫn
đến CO
2
trong khí quyển tăng nhanh hơn và quá trình nóng lên toàn cầu diễn
ra cũng nhanh hơn” và theo tuyên bố của tổ chức Thống kê Nam cực (BAS)
cho biết vào năm 2006 có gần 10 tỷ tấn CO
2
trong khí quyển trái đất, tăng
35% so với năm 1990. 2
Vì vậy các nghiên cứu carbon trở thành vấn đề trọng tâm của khoa học
kể từ khi mức độ phát thải khí CO
2
ngày càng tăng lên. Trên thực tế lượng
CO
2
hấp thụ của rừng phụ thuộc vào nhiều yếu tố như sau: kiểu rừng, trạng
thái rừng, tuổi lâm phần, loài cây, giảm tác hại của hiệu ứng nhà kính đòi
hỏi phải có sự nghiên cứu, đánh giá, xác định sinh khối và trữ lượng carbon
trong từng kiểu rừng, loài cây làm cơ sở để lượng hóa kinh tế giá trị về môi
3
- Xác định mối tương quan giữa sinh khối và khả năng tích lũy carbon
của loài cây Vầu Đắng (Indosasa angustata Mc.Clure) tại xã Tân Thịnh,
huyện Định Hóa, tỉnh Thái nguyên.
1.3. Mục đích nghiên cứu
Xác định được lượng carbon tích lũy của rừng Vầu Đắng (Indosasa
angustata Mc.Clure) tại xã Tân Thịnh, huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên
nhằm xác định giá trị của rừng thông qua việc xác định lượng carbon tích lũy,
đồng thời làm cơ sở khoa học cho thu phí dịch vụ môi trương rừng.
1.4. Ý nghĩa của đề tài
- Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học
Qua quá trình thực hiện đề tài, sinh viên sẽ được thực hành việc nghiên
cứu khoa học, biết phương pháp phân bố thời gian hợp lý trong quá trình làm
việc. Đồng thời đây cũng là cơ sở để sinh viên có thể củng cố kiến thức đã
học trong nhà trương vào hoạt động thực tiễn nghiên cứu khoa học. Sau khi
hoàn thành đề tài sinh viên có thể học được các phương pháp, kỹ năng trong
lập kế hoạch, viết báo cáo, phân tích số liệu, Đây là những vấn đề rất cần
thiết cho công việc sau này.
- Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất
Đề tài góp phần xác định được sinh khối và lượng carbon tích lũy của
loài cây Vầu Đắng (Indosasa angustata Mc.Clure) tại xã Tân Thịnh, huyện
Định Hóa, tỉnh Thái nguyên. Đây là một phần nhỏ nhằm xác định được lượng
sinh khối và khả năng tích lũy carbon của rừng Vầu Đắng tại huyện Định
Hóa, tỉnh Thái Nguyên.
Những nghiên cứu trong giai đoạn này tập trung vào các đối tượng đồng
cỏ, savan, rừng rụng lá, rừng mưa thường xanh.
Dajoz (1971) đã tính toán năng suất sơ cấp của một số hệ sinh thái và
thu được kết quả như sau: Mía ở châu Phi: 67 tấn/ha/năm; Rừng nhiệt đới thứ
sinh ở Yangambi: 20 tấn/ha/năm; Savana cỏ Mỹ (Penisetum purpureum) châu 5
Phi: 30 tấn/ha/năm; Đồng cỏ tự nhiên ở Fustuca (Đức): 10,5 – 15,5 tấn/ha/năm;
Đồng cỏ tự nhiên Deschampia và Trifolium ở vùng ôn đới là 23,4 tấn/ha/năm;
Còn sinh khối (Biomass) của Savana cỏ cao Andrôpgon (cỏ Ghine): 5000 –
10000 kg/ha/năm; Rừng thứ sinh 40 - 50 tuổi ở Ghana: 362369 kg/ha/năm (
Dương Hữu Thời, 1992) [13].
2.1.1.2. Nghiên cứu về khả năng tích lũy Carbon
Trong vài thập kỷ trở lại đây vấn đề nóng lên của khí hậu toàn cầu đang
được quan tâm của toàn thế giới. Nó đang từng bước tác động tiêu cực đến sinh
vật và môi trường trên trái đất. Quá trình nóng lên của trái đất đã làm cho tất cả
các thành phần của môi trường bị biến đổi tiêu cực, nước biển dâng cao, hạn
hán, lũ lụt thường xuyên xảy ra. Sự biến đổi môi trường sống đang tác động rất
xấu đến đời sống con người và tất cả các sinh vật khác trên trái đất.
Hiện tượng biến đổi khí hậu toàn cầu là không thể tránh khỏi. Hầu hết
các nhà khoa học môi trường cho rằng sự gia tăng đáng kể nồng độ các khí
nhà kính mà chủ yếu là khí CO
2
trong khí quyển là nguyên nhân gây ra hiện
tượng nóng lên toàn cầu. Hiện tượng này có thể sẽ làm nhiệt độ trái đất tăng
thêm nhanh chóng từ 1,4 – 5,8
0
C trong giai đoạn 1990 - 2100.
Thực vật sống mà chủ yếu là các hệ sinh thái rừng có khả năng giữ lại
sinh khối và các nhân tố đường kính, chiều cao, mật độ cây rừng. Năm 2002
Peteer Snowdon và cs đã xác định bốn bể chứa carbon sinh thái thực vật sống
trên mặt đất, cây bụi thảm tươi, trong rễ, đất, và đã đưa ra được phương pháp
thu thập mẫu cho mỗi bể chứa. Jenkins và cs vào năm 2004 đã lập được mối
tương quan giữa lượng carbon hấp thụ và đường kính ngang ngực cho các
loài cây khác nhau ở Bắc nước Mỹ, Đến năm 2007, Trung tâm Nông Lâm
kết hợp thế giới (ICRAF) đã phát triển phương pháp dự báo nhanh lượng
carbon lưu trữ thông qua việc giám sát thay đổi sự dụng đất bằng phân tích
ảnh viễn thám. (Vũ Tấn Phương và cs, 2008) [7].
Một nghiên cứu của Joyotee Smith và Sara J.Scherr (2002) đã định
lượng được lượng carbon lưu giữ trong các kiểu rừng nhiệt đới và trong các
loại hình sử dụng đất ở Brazil, Indonesia và Cameroon, bao gồm trong sinh
khối thực vật và dưới mặt đất từ 0 - 20 cm. Kết quả nghiên cứu cho thấy
lượng carbon lưu trữ trong thực vật giảm dần từ kiểu rừng nguyên sinh đến
rừng phục hồi sau nương rẫy và giảm mạnh đối với các loại đất nông nghiệp.
Trong khi đó phần dưới mặt đất lượng carbon ít biến động hơn, nhưng cũng
có xu hướng giảm dần từ rừng tự nhiên đến đất không có rừng [19].
Nghiên cứu lượng carbon lưu trữ trong rừng trồng nguyên liệu giấy,
Romain Piard (2005) đã tính lượng carbon lưu trữ dựa trên tổng sinh khối tươi
trên mặt đất, thông qua lượng sinh khối khô (không còn độ ẩm) bằng cách lấy
tổng sinh khối tươi nhân với hệ số 0,49, sau đó nhân sinh khối khô với hệ số
0,5 để xác định carbon lưu trữ trong cây. 7
Nghiên cứu sự biến động carbon của một số nhà khoa học đã cho
thấy rằng:
Công trình nghiên cứu tương đối toàn diện và hệ thống về lượng
carbon tích lũy của rừng được thực hiện bởi Ilic (2000) và Mc Kenzie
(2001). Theo Mc Kenzie (2001), carbon trong hệ sinh thái rừng thường tập
8
Khi nghiên cứu sinh khối rừng Đước, kết quả đã xác định được tổng
sinh khối khô rừng Đước ở Cà Mau là 327 m
3
/ha, tăng trưởng sinh khối bình
quân hàng năm là 9500 kg/ha, (Đặng Trung Tấn, 2001) [11].
Kết quả nghiên cứu Nguyễn Tuấn Dũng (2005), khi tiến hành nghiên
cứu sinh khối lâm phần Thông mã vĩ và lâm phần Keo lá tràm trồng thuần
loài tại Hà Tây đã cho thấy: Thông mã vĩ ở tuổi 20 có tổng sinh khối khô là
173,4 - 266,2 tấn và rừng Keo lá tràm trồng thuần loài 15 tuổi có tổng sinh
khối khô là 132,2 – 223,4 tấn/ha [2].
Công trình nghiên cứu của tác giả Nguyễn Ngọc Lung, Nguyễn Tường
Vân (2004) [6] đã sử dụng biểu quá trình sinh trưởng và biểu sinh khối
(Biomass) để tính toán sinh khối cho một số loại rừng.
Khi nghiên cứu khả năng hấp thụ CO
2
rừng trồng Keo tai tượng
(Acacia mangium) tại Tuyên Quang đã cho thấy sinh khối tươi trong các bộ
phận lâm phần Keo tai tượng có tỷ lệ khá ổn định, sinh khối tươi tầng cây cao
chiếm tỷ trọng lớn nhất từ 75 – 79 %; sinh khối cây bụi thảm tươi chiếm tỷ
trọng 17 - 20 %; sinh khối vật rơi rụng chiếm tỷ trọng 4 – 5 %, (Nguyễn Duy
Kiên, 2007) [5].
Kết quả thực hiện đề tài “Nghiên cứu sinh khối và khả năng cố định
carbon của rừng Mỡ (Manglietia conifera Dandy) trồng tại Tuyên Quang và
Phú Thọ” cho thấy, cấu trúc sinh khối cây cá thể Mỡ gồm 4 phần thân, cành,
lá và rễ, trong đó sinh khối tươi lần lượt là 60 %, 8 %, 7 % và 24 %; tổng sinh
khối tươi của một ha rừng trồng Mỡ dao động trong khoảng từ 53,4 - 309
tấn/ha, trong đó: 86 % là sinh khối tầng cây gỗ, 6 % là sinh khối cây bụi thảm
tươi và 8 % là sinh khối của vật rơi rụng (Lý Thu Quỳnh, 2007) [9].
Thông Ba lá chỉ ra rằng năng suất rừng tự nhiên cũng như rừng trồng có thể
cho 200 m
3
/ha trong luân kỳ 15 năm với lượng tăng trưởng đạt 10m
3
/ha/năm.
Nghiên cứu khả năng hấp thụ carbon của một số loại rừng trồng keo
(keo tai tượng, keo lá tràm,…). Rừng keo lai 3 - 12 tuổi (mật độ 800 - 1350
cây/ha) có lượng hấp thụ tương ứng là 60 – 407,37 tấn/ha. Rừng keo lá tràm
có khả năng hấp thụ 66,2 – 292,39 tấn/ha tương ứng với các tuổi từ 5 - 2 tuổi
(mật độ 1033 - 1517 cây/ha). Đối với rừng Thông nhựa tuổi 5 - 21 tuổi có khả
năng hấp thụ 18,18 – 467,69 tấn/ha. Rừng trồng bạch đàn Urophylla 3 - 12
tuổi với mật độ trung bình từ 1200 - 1800 cây/ha. Các nghiên cứu trên chỉ
dừng lại ở đối tượng rừng trồng thuần loài và tập trung vào một số loài cây
nhất định (Ngô Đình Quế và cs, 2006) [8].
Đến năm 2009 Bảo Huy đã sử dụng phương pháp chặt hạ để đo đếm
sinh khối và thiết lập mô hình toán cho ước tính sinh khối và trữ lượng carbon
của rừng lá rộng thường xanh theo các trạng thái: non, nghèo, trung bình và 10
giàu ở Tây Nguyên. Đây là nghiên cứu về rừng tự nhiên đầu tiên tại Việt Nam.
Tuy nhiên nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở việc xác lập các mô hình tính toán
sinh khối và trữ lượng carbon phần trên mặt đất. Các bể chứa carbon khác
như trong đất, thảm mục và cây chết, tầng thảm tươi cây bụi không được đề
cập trong nghiên cứu (Bảo Huy, 2009) [4].
2.1.2.3. Nghiên cứu về cây Vầu đắng
* Phân loại:
Vầu đắng có tên khoa học là Indosasa sinica C.D. Chu & C.S. Chao
thuộc họ Hòa Thảo Poace Barnh, phân họ Tre Bambusoideae và thuộc chi
ẩm không khí trung bình 85 – 95 %, độ cao phân bố 50 m – 120 m so với mặt
nước biển, vầu mọc trên các loại đất có đá mẹ là phiến thạch, phiến philit, phiến
mica, thành phần cơ giới trung bình nhưng đất ẩm.
Theo Trần Xuân Thiệp (1994) Vầu đắng ưa đất hình thành từ các loại
đá phiến, phong hóa tương đối kém; thành phần cơ giới là các loại đất thịt có
đá lẫn; tầng đất thường sâu 50 – 80 cm, có màu vàng, pH (Kcl) từ 3,2 – 4,6;
C/N 8,3 – 9,9; mùn tổng số (%) 0,7 – 4,4; đạm tổng số 0,08 – 0,32.
Vầu đắng có thể mọc hỗn giao hoặc thuần loài, những loài cây gỗ lớn
thường mọc hỗn giao với Vầu đắng thường thuộc họ Đậu (Fabaceae), họ Re
(Laureceae), Thầu Dầu (Euphorbiaceae).
Vầu đắng có thể bị khuy hàng loạt, đã gặp Vầu đắng bị khuy trên diện
rộng vào thập kỷ 70 của thế kỷ XX ở các tỉnh Hà Giang và Tuyên Quang. Sau
khi khuy cây ra hạt và chết. Chu kỳ khuy của vầu theo người dân là khoảng
50 năm, cũng gặp Vầu đắng ra hoa lẻ tẻ trong rừng nhưng không lan rộng.
Cây sinh trưởng chủ yếu bằng hệ thống thân ngầm dưới mặt đất 20 - 30
cm. Đôi khi gặp thân ngầm trồi lên mặt đất. Mùa sinh trưởng từ tháng 12 đến
tháng 5 năm sau, mầm măng phát triển dưới mặt đất từ tháng 12 đến tháng 1
năm sau; nhú khỏi mặt đất từ tháng 2 đến tháng 5 (đầu mùa mưa). Thường chỉ
50 % sống và phát triển thành cây trưởng thành. Số còn lại bị chết khi còn ở
độ cao dưới 1 m. Vì vậy, có thể khai thác 50 % số măng nhú khỏi mặt đất
trong rừng Vầu mà không ảnh hưởng tới rừng.
* Giá trị sử dụng:
Thân khí sinh của Vầu đắng thường được sử dụng trong xây dựng,
bên cạnh đó còn được sử dụng để làm nguyên liệu giấy, sản xuất đũa, tăm
suất khẩu,… 12
Măng Vầu đắng được sử dụng làm thực phẩm. Thu hoạch khi măng
mới nhú lên khỏi mặt đất là có chất lượng tốt nhất. Theo Nguyễn Danh Minh
13
2.1.3. Nhận xét, đánh giá chung
Điểm qua các công trình nghiên cứu trên thế giới và trong nước về các
vấn đề có liên quan có thể rút ra một số nhận xét sau đây:
- Hiện nay các nước trên thế giới đang đặt mối quan tâm rất lớn tới
CDM và REDD. Đây là cơ hội cho những người dân sống bằng nghề rừng có
thể tiếp cận được nguồn đầu tư tài chính, cũng như cơ hội để phát triển nguồn
nhân lực thông qua việc chuyển giao công nghệ, giúp người dân xây dựng
môi trường sống an toàn, bền vững, góp phần xóa đói, giảm nghèo, đặc biệt ở
những nước đang phát triển. Các công trình nghiên cứu sinh khối và khả năng
hấp thụ carbon của thực vật được thế giới quan tâm nghiên cứu từ rất sớm và
đã đạt được nhiều thành công nổi bật như: xác định được sinh khối cho nhiều
loại rừng khác nhau, xây dựng được cơ sở khoa học cũng như thực tiễn trong
việc nghiên cứu sinh khối của rừng, xây dựng được nhiều phương pháp tiên
tiến trong nghiên cứu sinh khối.
- Đối với Việt Nam, vấn đề nghiên cứu sinh khối của rừng được nghiên
cứu khá muộn so với thế giới, tuy nhiên đây là lĩnh vực đã được sự quan tâm
rất lớn của toàn xã hội và bước đầu cũng đã đạt được những kết quả đáng
khích lệ, đặc biệt là đối với một số loài cây trồng rừng phổ biến ở nước ta
như: Thông nhựa, Thông đuôi ngựa, Mỡ, Keo các loại, Bạch đàn,…góp phần
quan trọng trong việc định lượng giá trị môi trường rừng ở nước ta. Tuy
nhiên, hầu hết các công trình nghiên cứu sinh khối ở nước ta mới chỉ tập trung
chủ yếu vào nghiên cứu cho đối tượng là rừng trồng, đối tượng rừng tự nhiên
đặc biệt là rừng Vầu đắng vẫn chưa được quan tâm nghiên cứu đúng mức.
Hiện nay, đối tượng rừng Vầu đắng chiếm một tỷ trọng khá lớn so với tổng
diện tích rừng tự nhiên ỏ các tỉnh vùng núi phía bắc của nước ta, do vậy, việc
nghiên cứu sinh khối cho đối tượng rừng này là rất cần thiết trong tiến trình
lượng hóa các giá trị môi trường rừng, chi trả dịch vụ môi trường rừng và
* Khí hậu: Tân Thịnh là một xã miền núi khí hậu mang đặc thù của
vùng nhiệt đới gió mùa, hàng năm được chia thành hai mùa rõ rệt.
- Mùa hanh khô: Từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau, mùa này thời tiết
lạnh ít mưa, thường có gió mùa đông bắc hanh khô dễ xảy ra cháy rừng.
- Mùa mưa: Từ tháng 4 đến tháng 9, thời tiết nóng nực, nhiệt độ cao,
lượng mưa lớn, khí hậu ẩm ướt thích hợp cho công tác trồng và phát triển rừng.
- Nhiệt độ trung bình trong năm là 22,8
0
C.
- Lượng mưa trung bình năm là 1.700 – 2.210 mm, lượng mưa cao nhất
vào tháng 8 và thấp nhất vào tháng 1.
- Độ ẩm trung bình năm là 85 %, độ ẩm cao nhất vào tháng 6, 7, 8; Độ
ẩm thấp nhất vào tháng 11, 12 hàng năm. 15
* Thủy lợi: Tân Thịnh có con sông Chu chảy qua danh giới 2 xã Tân
Thịnh và Tân Dương và hệ thống thủy lợi của xã chủ yếu là các hồ, ao và các
khe suối nhỏ là nguồn nước chính phục vụ công tác sản xuất nông nghiệp,
sinh hoạt và công tác PCCCR. Tuy nhiên về mùa khô thường ít nước và lượng
nước xa các khu rừng dễ cháy nên việc sử dụng nguồn nước này vào công tác
PCCCR là rất khó thực hiện được.
2.2.1.3. Đặc điểm địa hình
Tân Thịnh có trục đường 264 đi qua xã với chiều dài khoảng 4 km và
hơn 30 km đường liên thôn, liên xóm. Trong năm 2013 thực hiện công tác diễn
tập, tu sửa đường, nạo vét kênh, UBND xã đã chỉ đạo cho cán bộ giao thông
thủy lợi kiểm tra, huy động nhân dân nạo vét, sửa hai bên rãnh dọc đường.
Qua tổng kết công tác diễn tập ZT-13 toàn xã đã tu sửa, phát quang
được 53.810 km và nạo vét rãnh dọc được 8.615 m