nghiên cứu xác định sinh khối rừng tự nhiên trạng thái iib tại xã tân thịnh, huyện định hóa, tỉnh thái nguyên - Pdf 13


TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
KHOA LÂM HỌC
  
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
NGHIÊN CỨU XÁC ĐỊNH SINH KHỐI RỪNG TỰ NHIÊN TRẠNG THÁI
IIB TẠI XÃ TÂN THỊNH, HUYỆN ĐỊNH HÓA, TỈNH THÁI NGUYÊN
NGÀNH: LÂM HỌC
MÃ SỐ: 301
Giáo viên hướng dẫn: PGS. TS. Võ Đại Hải
Sinh viên thực hiện: Hoàng Văn Tuệ - 52
c
LH
Khóa học: 2007 – 2011
Hà Nội, 2011
LỜI CẢM ƠN
Khóa luận được hoàn thành tại trường Đại học Lâm nghiệp theo chương
trình đào tạo kỹ sư Lâm sinh khóa 52, giai đoạn 2007 - 2011.
Nhân dịp này, cho em gửi lời cảm ơn chân thành tới Ban giám hiệu trường
Đại học Lâm nghiệp, ban chủ nhiệm khoa lâm học, bộ môn lâm sinh cùng các
thầy cô trong nhà trường đã dạy bảo, dìu dắt và tạo những điều kiện thuận lợi
nhất cho em trong những năm tháng học tập tại trường.
Em xin chân thành cảm ơn Ban lãnh đạo Viện khoa học Lâm nghiệp Việt
Nam đã tạo điều kiện thuận lợi cho em trong quá trình thực tập tại Viện. Và
đặc biệt, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS.Võ Đại Hải đã tận
tình hướng dẫn, truyền đạt kiến thức, kinh nghiệm quý báu cho em trong quá
trình thực hiện khóa luận.
Em cũng xin gửi lời cảm ơn đến trung tâm Thông tin thư viện - trường Đại
học Lâm nghiệp đã giúp đỡ em rất nhiều trong việc thu thập các tài liệu
nghiên cứu có liên quan. Xin gửi lời cảm ơn đến tập thể cán bộ và các hộ gia
đình xã Tân Thịnh, đặc biệt là những người đã trực tiếp giúp đỡ em trong quá

2
trong khí quyển, do vậy nó có ảnh hưởng lớn đến khí hậu
từng quốc gia, lãnh thổ, từng vùng cũng như toàn cầu. Rừng có ảnh hưởng lớn
đến nhiệt độ Trái đất thông qua quá trình điều hoà các khí gây hiệu ứng nhà
kính đặc biệt là CO
2
. Diện tích rừng nước ta hiện nay là 12,61 triệu ha trong
đó có khoảng 10,28 triệu ha rừng tự nhiên, tuy diện tích rừng có tăng trong
những năm gần đây nhưng chất lượng của rừng tự nhiên cũng như rừng trồng
còn thấp. Việc định lượng khả năng hấp thụ carbon và giá trị thương mại
carbon của rừng là một phần quan trọng trong định lượng giá trị môi trường
của rừng, khả năng hấp thụ carbon của rừng phụ thuộc vào sinh khối của rừng.
Vì vậy, việc nghiên cứu sinh khối có ý nghĩa then chốt trong xác định lượng
carbon mà rừng đã tích lũy. Tuy nhiên, cho đến nay mới chỉ có một số nghiên
cứu về sinh khối, chủ yếu là đối tượng rừng trồng, trong khi đó phần lớn diện
tích rừng nước ta lại là rừng tự nhiên (10,28 triệu ha) với đặc điểm là rừng
mưa nhiệt đới ẩm thường xanh, cấu trúc lâm phần phức tạp lại chưa được
quan tâm để nghiên cứu nhiều. Việc nghiên cứu cơ bản về sinh khối rừng tự
nhiên làm cơ sở khoa học cho việc định lượng khả năng hấp thụ và giá trị
thương mại carbon của trạng thái rừng tự nhiên và định lượng giá trị môi
3
trường của rừng. Thời gian qua, một số ít các công trình cũng đã tiến hành
nghiên cứu về lượng giá các giá trị và dịch vụ môi trường của rừng, trong đó
tập trung nhiều vào giá trị phòng hộ và chống xói mòn, Vấn đề hiện nay là
làm thế nào để xác định và dự báo được khả năng hấp thụ CO
2
của các loại
rừng, các trạng thái rừng để từ đó đề xuất các phương thức quản lý rừng làm
cơ sở khuyến khích, xây dựng cơ chế chi trả dịch vụ môi trường. Do đó, cần
có thêm những nghiên cứu đánh giá về khả năng hấp thụ của từng kiểu thảm

thực vật tới không khí và phát triển thành định luật “tối thiểu”. Mitscherlich,
E.A. (1954) đã phát triển luật tối thiểu của Liebig, J. thành luật "năng suất".
- Riley, G.A (1944) [29], Steemann Nielsen, E (1954), Fleming, R.H.
(1957)[24] đã tổng kết quá trình nghiên cứu và phát triển sinh khối rừng trong
các công trình nghiên cứu của mình.
- Lieth, H. (1964) [27] đã thể hiện năng suất trên toàn thế giới bằng bản
đồ năng suất, đồng thời với sự ra đời của chương trình sinh học quốc tế “IBP”
5
(1964) và chương trình sinh quyển con người “MAB” (1971) đã tác động
mạnh mẽ tới việc nghiên cứu sinh khối. Những nghiên cứu trong giai đoạn
này tập trung vào các đối tượng đồng cỏ, savan, rừng rụng lá, rừng mưa
thường xanh.
-Duyiho cho biết thực vật ở biển hàng năm quang hợp đến 3x10
10
tấn
vật chất hữu cơ, còn trên mặt đất là 5,3x10
10
tấn. Riêng với hệ sinh thái rừng
nhiệt đới năng suất chất khô thuần từ 10-50 tấn/ha/năm, trung bình là 20
tấn/ha/năm, sinh khối chất khô từ 60-800 tấn/ha/năm, trung bình là 450
tấn/ha/năm (dẫn theo Lê Hồng Phúc 1994)[8].
- Theo Rodel D. Lasco (2002) [30], mặc dù rừng chỉ che phủ 21% diện
tích bề mặt trái đất, nhưng sinh khối thực vật của nó chiếm đến 75% so với tổng
sinh khối thực vật trên cạn và lượng tăng trưởng sinh khối hàng năm chiếm 37%.
Khi nghiên cứu về sinh khối, phương pháp xác định có ý nghĩa rất quan
trọng vì nó liên quan đến độ chính xác của kết quả nghiên cứu, đây cũng là
vấn đề được nhiều tác giả quan tâm. Tuỳ từng tác giả với những điều kiện
khác nhau mà sử dụng các phương pháp xác định sinh khối khác nhau, trong
đó có thể kể đến một số tác giả chính như sau:
- Canell, M.G.R (1982)[22] đã công bố công trình "Sinh khối và năng

Das và Ramakrishan (1987) phân tích sinh khối rừng trồng ở Đông Bắc
ấn Độ đã đưa ra được nhiều kết luận có ý nghĩa thực tiễn cho ngành nghiên
cứu sinh khối.
Kurniatun và cộng sự (2001)[25] đã xây dựng một hệ thống các phương
pháp cho việc thu thập số liệu về sinh khối trên và dưới mặt đất rừng nhằm
phục vụ công tác nghiên cứu khả năng cố định carbon của rừng.
Phương pháp lấy mẫu rễ để xác định sinh khối được mô tả bởi
Shurrman và Geodewaaen (1971), Moore (1973) Gadow và Hui (1999),
Oliveira và cộng sự (2000), Voronoi (2001), Mc kenzie và cộng sự (2001).
Có nhiều phương pháp ước tính sinh khối cho cây bụi và cây tầng dưới
trong hệ sinh thái cây gỗ (Catchpole và Wheeler, 1992). Các phương pháp bao
7
gồm: (1) - Lấy mẫu toàn bộ; (2) - Phương pháp kẻ theo dòng; (3) - Phương
pháp mục trắc; (4) - Phương pháp lấy mẫu kép sử dụng tương quan.
Các nhà sinh thái rừng đã dành sự quan tâm đặc biệt đối với việc nghiên
cứu sự khác nhau về sinh khối rừng ở các vùng sinh thái. Tuy nhiên, việc xác
định đầy đủ sinh khối của hệ rễ trong đất rừng không dễ dàng, nên việc làm
sáng tỏ vấn đề trên đòi hỏi nhiều nỗ lực hơn nữa mới đưa ra được những dẫn
liệu mang tính thực tiễn và có sức thuyết phục cao. Hệ thống lại có ba cách
tiếp cận để xác định sinh khối rừng như sau:
* Tiếp cận thứ nhất: Dựa vào mối liên hệ giữa sinh khối rừng với kích
thước của cây hoặc từng bộ phận cây theo dạng hàm toán học nào đó. Hướng
tiếp cận này được sử dụng phổ biến ở Bắc Mỹ và Châu âu (Whittaker,
1966[31] ; Tritton và Hornbeck ,1982 ; Smith và Brand, 1983 ). Tuy nhiên, do
khó khăn trong việc thu thập rễ cây, nên hướng tiếp cận này chủ yếu dùng để
xác định sinh khối của bộ phận trên mặt đất (Grier và cộng sự, 1989; Reichel,
1991; Burtor V. Barner và cộng sự, 1998)[21]
* Tiếp cận thứ hai: Xác định sinh khối rừng bằng cách đo trực tiếp quá
trình sinh lý điều khiển cân bằng carbon trong hệ sinh thái. Cách này bao gồm
việc đo cường độ quang hợp và hô hấp cho từng thành phần trong hệ sinh thái

khác nhau. Vì vậy, đây là một hướng nghiên cứu mới cho các nhà khoa học
Lâm nghiệp trong giai đoạn này làm cơ sở cho việc tính toán chính xác và cụ
thể hơn lượng carbon được hấp thụ bởi từng loại rừng trồng.
1.2. Ở Việt Nam
Ở nước ta vấn đề này còn khá mới mẻ và cũng bắt đầu được nghiên cứu
trong vài năm gần đây, đã có một số công trình nghiên cứu về sinh khối rừng,
tuy nhiên số lượng các nghiên cứu còn ít, chưa mang tính hệ thống. Có thể kể
tới một số công trình nghiên cứu như sau:
- Ngô Đình Quế (1971)[11] xác định được sinh khối rừng Thông tại
Lâm Đồng (mật độ 2500 cây/ha, cấp đất II) là 330 tấn/ha.
- Ngô Đình Quế (2005) [12] đã nghiên cứu và xây dụng bảng đề xuất
tiêu chí, chỉ tiêu trồng rừng theo cơ chế phát triển sạch (CDM), nghiên cứu đó
đánh giá xác định được khả năng cố định carbon của một số loại rừng trồng
như Keo lai, Keo tai tượng, Keo lá tràm, Thông ba lá trong đó bước đầu đã
xác định được khả năng cố định carbon của Thông nhựa 5,13-127,43 tấn/ha
tùy theo tuổi và mật độ cây rừng.
9
- Nguyễn Hoàng Trí (1986)[17]với công trình “Sinh khối và năng suất
rừng Đước” đã áp dụng phương pháp “cây mẫu” nghiên cứu năng suất sinh
khối một số quần xã rừng Đước đôi (Rhizophora apiculata) ngập mặn ven
biển Minh Hải. Đây là đóng góp có ý nghĩa lớn về mặt lý luận và thực tiễn đối
với việc nghiên cứu sinh thái rừng ngập mặn ven biển nước ta.
- Hà Văn Tuế (1994)[18]cũng trên cơ sở phương pháp “cây mẫu” của
Newboul, D.J (1967) đã nghiên cứu năng suất, sinh khối một số quần xã rừng
trồng nguyên liệu giấy tại vùng trung du Vĩnh Phú.
- Công trình “Đánh giá sinh trưởng, tăng trưởng, sinh khối và năng
suất rừng Thông ba lá (Pinus Keysia Roileex Gordm) vùng Đà Lạt - Lâm
Đồng” của Lê Hồng Phúc (1996)[8] đã tìm ra quy luật tăng trưởng sinh khối,
cấu trúc thành phần tăng trưởng sinh khối thân cây. Tỷ lệ sinh khối tươi, khô
của các bộ phận thân, cành, lá, rễ, lượng rơi rụng, tổng sinh khối cá thể và

và dịch vụ môi trường của một số loại rừng chủ yếu ở Việt Nam. Đã góp phần
cho việc phục vụ xây dựng cơ sở cho các dự án trồng rừng CDM và sinh khối
thảm tươi cây bụi đã được nghiên cứu.
- Theo Nguyễn Tuấn Dũng [3], lâm phần Thông mã vĩ thuần loài trồng
tại Hà Tây ở tuổi 20 có tổng sinh khối khô là 173,4-266,2 tấn và rừng Keo lá
tràm trồng thuần loài 15 tuổi có tổng sinh khối khô là 132,2-223,4 tấn/ha.
Lượng carbon tích lũy của rừng Thông mã vĩ biến động từ 80,7-122 tấn/ha và
rừng Keo lá tràm là 62,5-103,1 tấn/ha.
- Nguyễn Tuấn Dũng (2005)[3] đã tiến hành Nghiên cứu sinh khối và
lượng carbon tích lũy của một số trạng thái rừng trồng tại Núi Luốt- Trường
Đại Học Lâm Nghiệp.
- Theo Hoàng Xuân Tý (2004)[19] nếu tăng trưởng rừng đạt 15m
3
/ha/năm, tổng sinh khối tươi và chất hữu cơ của rừng sẽ đạt xấp xỉ 10
tấn/ha/năm tương với 15 tấn CO
2
/ha/năm.
- Hoàng Văn Dưỡng (2000)[4], đã xác định quy luật quan hệ giữa các chỉ
tiêu sinh khối với các chỉ tiêu biểu thị kích thước của cây, quan hệ giữa sinh
khối tươi và sinh khối khô các bộ phận thân cây. Nghiên cứu đã lập ra được
biểu tra sinh khối và ứng dụng biểu để xác định sinh khối của cây cá thể và
lâm phần cho loài Keo.
11
- Đặng Trung Tấn (2001)[14] với công trình nghiên cứu "Sinh khối
rừng Đước",đã xác định được: tổng sinh khối rùng Đước ở Cà Mau là 327 m
3
/ha, tăng trưởng sinh khối bình quân hàng năm 9500 kg/ha.
- Phạm Quỳnh Anh, 2006) [1], “Nghiên cứu khả năng hấp thụ và giá
trị thương mại Carbon của rừng mỡ (Manglietia conifera Dandy) trồng thuần
loài đều tuổi tại Tuyên Quang,… Những nghiên cứu này bước đầu đã xác

trong nước đã đạt được một số kết quả nhất định góp phần làm phong phú
thêm những hiểu biết về sinh khối của các trangjm thái rừng tự nhiên ở nước
ta, làm cơ sở cho việc xác định khả năng hấp thụ tích lũy carbon và những giá
trị về kinh tế-môi trường mà rừng đem lại. Tuy nhiên, nghiên cứu sinh khối
cho từng loài cây trên các cấp đất khác nhau ở Việt Nam là một vấn đề ít được
quan tâm. Đây cũng là vấn đề nghiên cứu mà khoá luận thực hiện.13
Chương 2
MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, GIỚI HẠN, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG
PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Mục tiêu nghiên cứu
* Mục tiêu chung: Góp phần vào nghiên cứu cơ bản về sinh khối rừng tự
nhiên trạng thái IIB nhằm cung cấp cơ sở khoa học cho việc định lượng khả
năng hấp thụ và giá trị thương mại carbon của trạng thái rừng IIB để thực thi
chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng ở Việt Nam.
* Mục tiêu cụ thể:
- Xác định được sinh khối trạng thái rừng IIB tại xã Tân Thịnh, huyện
Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên.
- Đề xuất một số ứng dụng trong việc xác định sinh khối trạng thái rừng IIB.
2.2. Đối tượng nghiên cứu
Trạng thái rừng IIB tại xã Tân Thịnh, huyện Định Hóa, tỉnh Thái
Nguyên.
2.3. Giới hạn nghiên cứu
- Về nội dung:
Đề tài chỉ nghiên cứu xác định sinh khối của tầng cây cao, cây bụi thảm
tươi và vật rơi rụng trên mặt đất mà chưa có điều kiện xác định sinh khối cành
khô, thảm mục trong đất rừng.
- Về địa điểm: Giới hạn trong phạm vi diện tích rừng trạng thái IIB thuộc

Hình 2.1. Sơ đồ các bước tiến hành nghiên cứu của đề tài
16
Thu thập tài liệu, thông tin đã có
Khảo sát khu vực nghiên cứu,
lựa chọn địa điểm điều tra
Lập OTC sơ cấp, nghiên cứu một số đặc điểm rừng
IIb ở khu vực NC và xác định cây tiêu
Chặt hạ cây tiêu chuẩn
Lấy mẫu thân, cành, lá, rễ xác định
sinh khối tầng cây cao
Lấy mẫu xác định sinh khối cây
bụi, thảm tươi và vật rơi rụng
Sấy mẫu xác định sinh khối khô
Phân tích và xử lý số liệu
Lập OTC thứ cấp
Đề xuất hướng ứng dụng
2.5.2. Phương pháp nghiên cứu cụ thể
2.5.2.1. Phương pháp kế thừa số liệu, tài liệu
- Các tài liệu, công trình nghiên cứu đã công bố có liên quan tới việc xác
định sinh khối rừng.
- Tài liệu liên quan đến phương pháp xác định sinh khối rừng, đặc biệt
là rừng tự nhiên.
- Tài liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của khu vực nghiên cứu.
- Các thông tin, số liệu, bản đồ hiện trạng tài nguyên rừng tự nhiên của
huyện Định Hóa và của khu vực xã Tân Thịnh.
2.5.2.2. Phương pháp điều tra và bố trí ô tiêu chuẩn
-Điều tra sơ thám:
Tiến hành điều tra sơ thám để xác định đặc điểm địa hình, phân bố của
cây rừng trong khu vực nghiên cứu và chọn vị trí lập ô tiêu chuẩn (OTC). Sau
đó tiến hành mô tả đặc điểm nhận biết vị trí lập OTC.


x 5 ô thứ cấp/ÔTC = 15 ô thứ cấp.
- Tổng số ô dạng bản: 3 ÔTC

x 5 ô thứ cấp/ÔTC x 1 ODB/ô thứ cấp =
15 ô dạng bản.
Sơ đồ bố trí thí nghiệm được thể hiện qua hình sau:
Hình 2.2: Sơ đồ bố trí ÔTC, ô thứ cấp và các ô dạng bản
2.5.2.3. Phương pháp thu thập số liệu
a. Điều tra ÔTC
- Điều tra toàn diện tầng cây cao trong ÔTC bằng cách dùng sơn đánh
số thứ tự từ 1 đến n toàn bộ số cây điều tra trên ô, xác định tên cây từng cá thể
theo tên phổ thông và tên địa phương, với những loài không nhận định được,
lấy tiêu bản để giám định. Sau đó tiến hành đo đếm các chỉ tiêu sinh trưởng:
+ Đường kính ngang ngực (D
1.3
, cm) được đo bằng thước kẹp kính tại vị
trí 1.3 m tất cả các cây có đường kính từ 6 cm trở lên (độ chính xác đến mm).
+ Chiều cao vút ngọn (H
vn
, m) được đo bằng thước đo cao blumer, đo
tất cả các cây có đường kính từ 6 cm trở lên.
+ Đường kính tán (Dt) được đo bằng thước dây.
18
5m
m
5 m
40 m
25 m
+ Đánh giá chất lượng cây thông qua các chỉ tiêu hình thái theo 3 cấp:

quân, tình hình sinh trưởng, độ che phủ trung bình.
Số liệu thu thập được ghi vào biểu 2.2.

19
Biểu 2.2: Biểu điều tra cây bụi, thảm tươi
OTC:………… ; Diện tích OTC:………; Trạng thái:…… …
Ngày điều tra:……………… ; Người điều tra:………………
Độ dốc:…………; Hướng phơi:………… ; Độ tàn che:…………
Địa điểm lập OTC:……………………………
TT Ô dạng bản Loài cây chủ yếu
H
tb
(m)
Độ che phủ
(%)
1
2
3
4
5
b. Xác định sinh khối
* Xác định sinh khối tầng cây cao
- Xác định cây tiêu chuẩn:
Dựa vào số liệu điều tra toàn bộ các cây tầng cây cao trong OTC, tiến
hành các bước xử lý nội nghiệp để chia tổ, ghép nhóm thành các cấp đường
kính gồm: 6 - 10cm; 10 - 14cm; 14 - 18cm; 18 - 22cm và lớn hơn 22cm.
Tại mỗi cấp đường kính tiến hành tính toán đường kính bình quân
theo cấp kính theo phương pháp bình quân cộng. Dựa vào đường kính bình
quân ở từng cấp kính tiến hành lựa ra 3 cây tiêu chuẩn có đường kính gần sát
nhấn với đường kính bình quân.

t
m
m
W
i
i
i
×
(kg khô /cây) (2.2)
Trong đó:
Wk
i
là sinh khối khô bộ phận i cây cá thể
Wt
i
là sinh khối tươi bộ phận i của cây cá thể.
mk
i
là khối lượng mẫu khô của bộ phận i sau khi sấy
mt
i
là khối lượng mẫu tươi bộ phận i của cây cá thể.
+ Sinh khối tươi của cây cá thể được tính theo công thức:
m
tươi
= ∑W
ti
(kg tươi/cây) (2.3)
+ Sinh khối khô cây cá thể được tính theo công thức:
m

0
C, rồi đem cân và tính
21
sinh khối khô tương tự như đối với tầng cây cao. Xác định sinh khối tươi, khô
từng bộ phận cho cây bụi thảm tươi tương tự như đối với tầng cây cao.
- Sinh khối các bộ phận cây bụi thảm tươi trong 1 ha được tính theo
công thức:
W
CBTT_i
= (
25
10000×
i
m
)/1000 (tấn/ha) (2.6)
Trong đó: W
CBTT_i
là sinh khối (tươi, khô) bộ phận i (thảm tươi, thân +
cành, lá, rễ) của cây bụi thảm tươi trong 1 ha; m
i
là khối lượng tươi, khô bộ
phận tương ứng của cây bụi thảm tươi tính trung bình cho 5 ô thứ cấp.
* Xác định sinh khối vật rơi rụng:
Trong các ô dạng bản diện tích 1m
2
của ÔTC, thu gom toàn bộ vật rơi
rụng và phân chia thành 2 bộ phận cành rơi rụng và lá + hoa + quả, rơi
rụng. Tiến hành cân tại chỗ được sinh khối tươi vật rơi rụng. Tại mỗi ô dạng
bản, lấy 1 mẫu cành rơi rụng và 1 mẫu lá rơi rụng với 0,5kg mỗi loại đem sấy
khô ở nhiệt độ 80 - 105

Các số liệu thu thập được xử lý trên các phần mềm thống kê toán học
Excel 5.0 và SPSS 13.0.
2.5.3.1. Phương pháp nghiên cứu một số đặc điểm trạng thái rừng IIB
a. Xác định mật độ lâm phần:
22
- Xác định mật độ lâm phần theo công thức:
N = n*10 (cây/ha) (2.9)
Trong đó:
+ N là mật độ của lâm phần
+ n là mật độ cây có trong OTC
b. Xác định công thức tổ thành
- Công thức tổ thành được viết theo hai cách đó là theo số cây và chỉ số
quan trọng. Công thức tổ thành theo số cây được xác định theo các bước sau:
Bước 1: xác định số cây trung bình của một loài.


X

=
m
N
(2.10)
Trong đó:


X
: là số cây trung bình của 1 loài.
N : là tổng số cây điều tra trong OTC
m : số loài điều tra trong OTC
Loài tham gia công thức tổ thành phải thỏa mãn có số cây N ≥

23
G
i
% là tỷ lệ % tiết diện ngang của loài so với tổng tiết diện ngang của lâm phần.
Theo Daniel M, những loài cây nào có IV% > 5% thì loài đó mới thực
sự có ý nghĩa về mặt sinh thái trong lâm phần và được tham gia vào công thức
tổ thành. Nếu IV% < 5% thì loài đó không được tham gia vào công thức tổ
thành.
c. Mô phỏng các quy luật phân bố số cây theo đường kính và chiều cao.
Căn cứ vào phân bố thực nghiệm, tiến hành mô hình hóa quy luật cấu trúc cho
phân bố lý thuyết theo các hàm phân bố như:
• Phân bố Weibull
Phân bố Weibull là phân bố xác suất của biến ngẫu nhiên liên tục với
miền giá trị (0

+

). Hàm mật độ có dạng:
P
x
(x) =

λα
ex
x
α
λα
.1
.
−−

Tuỳ theo độ lệch của phân bố thực nghiệm mà chọn giá trị của tham số
α
cho phù hợp, sau đó ước lượng tham số
λ
theo công thức:
λ
=

=

n
i
ii
axf
n
1
)(
α
(2.15)
Trong đó: X
i
là trị số giữa tổ
a: là trị số quan sát bé nhất
• Phân bố khoảng cách
Phân bố khoảng cách là phân bố xác suất của biến ngẫu nhiên đứt
quãng. Hàm toán học có dạng:
24
F
x
(x) =

α
= 1 -


).(
)(
0
ii
xf
fn
(2.18)
Trong đó: f
0
là tần số ứng với cỡ đường kính đầu tiên
n: là tổng số cây của các cỡ kính
Khi 1-
γ
=
α
thì phân bố khoảng cách trở về dạng phân bố hình học
Fx = (1-
α
)
x
α
với x

0 (2.19)
Nếu gọi D
i

β
đặc trưng cho độ lõm của
đồ thị,
β
càng lớn thì đồ thị càng lõm và ngược lại
* Kiểm tra giả thuyết về luật phân bố:
Cho giả thuyết H
0
: F
x
(x) = F
0
(x), trong đó F
0
(x) là một hàm phân bố hoàn
toàn xác định. Để kiểm tra giả thuyết H
0
, người ta dùng tiêu chuẩn phù hợp khi
bình phương của Pearson:



=
flt
flt)(ft
χ
2
2
(2.22)
Trong đó: ft là trị số thực nghiệm


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status