Đánh giá thực trạng và đề xuất một số biện pháp quản lý và xử lý rác thải sinh hoạt tại xã Tân Thịnh, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang - Pdf 27

LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình học tập tại trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội,
ngoài sự nỗ lực của bản thân, tôi luôn nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của các
thầy cô giáo, gia đình và bạn bè.
Trước hết, tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong trường Đại
học Nông nghiệp Hà Nội, đặc biệt là các thầy cô giáo trong khoa Tài nguyên và
Môi trường đã tận tình chỉ dạy, truyền đạt những kiến thức, những kinh nghiệm
quý báu giúp cho tôi trang bị hành trang cho công việc sau này.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS. Nguyễn Thị Minh đã tận tình
hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài tốt nghiệp.
Tôi xin chân thành cảm ơn ban lãnh đạo Phòng Tài nguyên và Môi
trường huyện Lạng Giang – Bắc Giang, UBND xã Tân Thịnh cùng toàn thể
người dân trên địa bàn xã đã cung cấp số liệu và tạo mọi điều kiện cho tôi thực
hiện đề tài trong thời gian qua.
Cuối cùng tôi muốn gửi lời cảm ơn tới gia đình và bạn bè tôi, những
người luôn quan tâm, động viên, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và
thực hiện đề tài tốt nghiệp.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng năm 2012
Sinh viên thực hiện
Nguyễn Thị Thanh Hào
MỤC LỤC
i
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Thành phần rác thải sinh hoạt ở một số vùng tỉnh, thành phố Error:
Reference source not found
Bảng 2.2 Thành phần các cấu tử hữu cơ của rác đô thị Error: Reference source
not found
Bảng 2.3 Phát sinh chất thải rắn đô thị - sinh hoạt ở một số nước Châu Á Error:
Reference source not found
Bảng 2.4 Các phương pháp xử lý rác thải của một số nước ở Châu Á Error:

Hình 2.1 Các phương pháp xử lý chất thải Error: Reference source not found
Hình 4.1 Tỷ trọng các ngành năm 2005 và 2010 Error: Reference source not
found
Hình 4.2 Các hình thức xử lý rác thải của người dân xã Tân Thịnh 51
Hình 4.3 Hiệu quả của phương tiện truyền thanh 52
iii
BẢNG KÝ HIỆU CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT
CTR
CTRSH
Chất thải rắn
Chất thải rắn sinh hoạt
HĐND Hội đồng nhân dân
KHHGĐ
RTSH
Kế hoạch hóa gia đình
Rác thải sinh hoạt
TNMT Tài nguyên và môi trường
TM-DV Thương mại – dịch vụ
TP Thành phố
THCS Trung học cơ sở
THPT Trung học phổ thông
UBND Ủy ban nhân dân
VSMT Vệ sinh môi trường
3R Phân loại rác tại nguồn
iv
v
PHẦN I
ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Nền kinh tế Việt Nam đang có những bước chuyển mình mạnh mẽ. Quá

tại xã Tân Thịnh, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang”.
1.2 Mục đích – Yêu cầu
1.2.1 Mục đích
- Đánh giá thực trạng công tác quản lý và xử lý rác thải sinh hoạt tại xã Tân
Thịnh, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang.
- Đề xuất một số biện pháp quản lý và xử lý rác thải sinh hoạt nhằm góp
phần giảm thiểu ô nhiễm môi trường.
1.2.2 Yêu cầu
- Sử dụng phiếu điều tra nhằm thu thập ý kiến của các hộ gia đình về tình
hình quản lý và xử lý rác thải sinh hoạt tại địa phương.
- Điều tra thu thập số liệu có liên quan phải chính xác và có độ tin cậy cao.
- Đánh giá được đúng hiện trạng quản lý và xử lý rác thải sinh hoạt tại xã
Tân Thịnh, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang.
- Đề xuất được các biện pháp quản lý và xử lý rác thải phù hợp với điều
kiện của xã Tân Thịnh.
2
PHẦN II
TỔNG QUAN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1 Một số khái niệm
2.1.1 Khái niệm chất thải
Chất thải là vật chất ở thể rắn, lỏng, khí được thải ra từ sản xuất, kinh
doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc các hoạt động khác [10].
2.1.2 Rác thải sinh hoạt
Rác thải sinh hoạt (RTSH) hay chất thải rắn sinh hoạt (CTRSH) là những
chất thải rắn có liên quan đến các hoạt động của con người, nguồn tạo thành chủ
yếu từ các khu dân cư, các cơ quan, trường học, các trung tâm dịch vụ và thương
mại…[12].
2.1.3 Quản lý chất thải
Quản lý chất thải là hoạt động phân loại, thu gom, vận chuyển, giảm
thiểu, tái sử dụng, tái chế, xử lý, tiêu hủy và thải loại chất thải [10].

- Chất thải trực tiếp của động vật: Chủ yếu là phân, bao gồm phân người và
phân các động vật khác.
- Chất thải lỏng chủ yếu là bùn ga cống rãnh, là các chất thải ra từ các khu
vực sinh hoạt của dân cư.
- Tro và các chất dư thừa thải bỏ khác: Bao gồm các loại vật liệu sau đốt
cháy, các sản phẩm sau khi đun nấu bằng than, củi và các chất thải dễ cháy khác
trong gia đình, trong kho của các công sở, cơ quan, xí nghiệp và các loại xỉ than.
- Các chất thải rắn từ đường phố có thành phần chủ yếu là các lá cây, que
củi, nilon, vỏ bao gói…[12].
2.2.3 Thành phần
Khác với rác thải và phế thải công nghiệp, RTSH là một tập hợp không
đồng nhất. Tính không đồng nhất biểu hiện ngay ở sự không kiểm soát được của
các nguyên liệu ban đầu dùng cho sinh hoạt và thương mại. Sự không đồng nhất
này tạo ra một số đặc tính rất khác biệt trong các thành phần của RTSH [15].
4
Thành phần của rác thải rất khác nhau tùy thuộc từng địa phương, tính
chất tiêu dùng, điều kiện kinh tế và nhiều yếu tố khác.
 Thành phần cơ học
Bảng 2.1 Thành phần rác thải sinh hoạt ở một số tỉnh và thành phố
Thành phần ( % ) Hà Nội Hải Phòng TP.HCM
Lá cây, vỏ hoa quả, xác động vật 50,27 50,07 62,24
Giấy 2,72 2,82 0,59
Giẻ rách, củi, gỗ 6,27 2,72 4,25
Nhựa, nilon, cao su 0,71 2,02 0,46
Vỏ ốc, xương 1,06 3,69 0,50
Thủy tinh 0,31 0,72 0,02
Rác xây dựng 7,42 0,45 10,04
Kim loại 1,02 0,14 0,27
Tạp chất khó phân hủy 30,21 23,9 15,7
( Nguồn: Đặng Kim Cơ, 2004)

2.3.1 Tác hại của rác thải sinh hoạt đến môi trường
- Môi trường đất:
+ RTSH nằm rải rác khắp nơi không được thu gom đều được lưu giữ lại
trong đất, một số loại chất thải khó phân hủy như túi nilon, vỏ lon,
hydratcacbon… nằm lại trong đất làm ảnh hưởng tới môi trường đất: làm thay
đổi cơ cấu đất, đất trở nên khô cằn và vi sinh vật trong đất có thể bị chết.
+ Nhiều loại chất thải như xỉ than, vôi vữa… đổ xuống đất làm cho đất bị
đóng cứng, khả năng thấm nước và hút nước kém, đất bị thoái hóa [11].
- Môi trường nước:
+ Lượng rác thải rơi vãi nhiều, ứ đọng lâu ngày, khi gặp mưa rác rơi vãi
sẽ theo dòng nước chảy, các chất độc hòa tan trong nước qua cống rãnh ra ao hồ,
sông ngòi gây ô nhiễm nguồn nước mặt tiếp nhận.
+ Rác thải không thu gom hết ứ đọng trong các ao hồ là nguyên nhân gây
mất vệ sinh và ô nhiễm các thủy vực. Khi các thủy vực bị ô nhiễm có nguy cơ
ảnh hưởng đến các loài thủy sinh vật do hàm lượng oxy hòa tan trong nước
giảm, khả năng nhận ánh sáng của các tầng nước cũng giảm, ảnh hưởng tới khả
6
năng quang hợp của thực vật thủy sinh và làm giảm sinh khối của các thủy vực,
đe dọa đến các hoạt động sống của các sinh vật trong thủy vực [11].
- Môi trường không khí:
+ Tại các trạm/bãi trung chuyển rác xen kẽ khu vực dân cư là nguồn gây ô
nhiễm môi trường không khí do mùi hôi thối từ rác, bụi cuốn lên khi xúc rác, bụi
khói, tiếng ồn và các khí thải độc hại từ các xe thu gom và vận chuyển rác.
+ Tại các bãi chôn lấp chất thải rắn, vấn đề ảnh hưởng đến môi trường khí
là mùi hôi thối của một số khí như: CH
4
, H
2
S…và các khí độc hại khác từ các
chất thải nguy hại [11].

2.4.2 Các phương pháp xử lý rác thải sinh hoạt chủ yếu
- Phương pháp cơ học: Bao gồm tách kim loại, thuỷ tinh, nhựa ra khỏi chất
thải; sơ chế và đốt chất thải không có thu hồi nhiệt; lọc tạo rắn đối với các chất
thải bán lỏng.
- Phương pháp cơ - lý: Phân loại vật liệu, thuỷ phân, sử dụng chất thải như
nhiên liệu, đúc ép các chất thải, sử dụng làm vật liệu xây dựng.
- Phương pháp sinh học: chế biến ủ sinh học, mêtan hoá trong các bể thu
hồi sinh học [13].
Các phương pháp xử lý chất thải có thể khái quát theo sơ đồ hình 2.1
8
Thu gom chất thải
Vận chuyển chất thải
Xử lý chất thải
Thiêu đốt Ủ sinh học làm
Compost
Các phương
pháp khác
Tiêu hủy tại bãi
chôn lấp
Hình 2.1 Các phương pháp xử lý chất thải [13]
a. Phương pháp chôn lấp
Phương pháp này chi phí thấp và được áp dụng phổ biến ở các nước đang
phát triển. Việc chôn lấp được thực hiện bằng cách sử dụng xe chuyên dùng chở
rác tới các bãi rác đã xây dựng trước. Sau khi rác được đổ xuống, dùng xe ủi san
bằng, đầm nén trên bề mặt và đổ lên một lớp đất. Hàng ngày phun thuốc diệt
muỗi và rắc vôi bột… Theo thời gian, sự phân hủy vi sinh vật làm cho rác trở
lên tơi xốp và thể tích của các bãi rác giảm xuống. Việc đổ rác tiếp tục cho đến
khi bãi đầy thì chuyển sang bãi mới. Hiện nay, việc chôn lấp RTSH vẫn được sử
dụng ở các nước đang phát triển nhưng phải tuân thủ các quy định nghiêm ngặt
về bảo vệ môi trường. Việc chôn lấp chất thải có xu hướng giảm dần, tiến tới

thải thường chỉ áp dụng cho việc xử lý rác thải độc hại như rác thải bệnh viện
hoặc rác thải công nghiệp vì các phương pháp xử lý khác không thể xử lý triệt
để được (hình 2.2, phụ lục 1) [13].
c. Phương pháp ủ sinh học
Ủ sinh học (compost) là quá trình ổn định sinh hóa các chất hữu cơ để
hình thành các chất mùn, với thao tác sản xuất và kiểm soát một cách khoa học
tạo môi trường tối ưu đối với quá trình.
Quá trình ủ hữu cơ từ rác hữu cơ (sản xuất phân bón hữu cơ) là một
phương pháp truyền thống được áp dụng phổ biến ở các quốc gia đang phát triển
trong đó có Việt Nam. Quá trình ủ được coi như quá trình lên men yếm khí mùn
10
hoặc hoạt chất mùn. Sản phẩm thu hồi là hợp chất mùn không mùi, không chứa
vi sinh vật gây bệnh và hạt cỏ. Để đạt mức độ ổn định như lên men, việc ủ đòi
hỏi năng lượng để tăng cao nhiệt độ của đống ủ. Trong quá trình ủ, oxy sẽ được
hấp thụ hàng trăm lần và hơn nữa so với bể aeroten. Quá trình ủ áp dụng với
chất hữu cơ không độc hại, lúc đầu là khử nước, sau là xử lý cho đến khi nó
thành xốp và ẩm. Độ ẩm và nhiệt độ được kiểm tra thường xuyên và giữ cho vật
liệu ủ luôn ở trạng thái hiếu khí trong suốt thời gian ủ. Quá trình tự tạo ra nhiệt
riêng nhờ quá trình oxy hóa các chất thối rữa. Sản phẩm cuối cùng là CO
2
, nước
và các hợp chất hữu cơ bền vững như lignin, xenlulo, sợi…[12].
Công nghệ ủ có thể là ủ đống tĩnh thoáng khí cưỡng bức, ủ luống có đảo
định kỳ hoặc vừa thổi vừa đảo. Xử lý rác làm phân hữu cơ là biện pháp rất có
hiệu quả, sản phẩm phân hủy có thể kết hợp tốt với phân người và phân gia súc
cho ra chất hữu cơ có hàm lượng dinh dưỡng cao, tạo độ tơi xốp, rất tốt cho việc
cải tạo đất.
Phương pháp này thích hợp với loại chất thải rắn hữu cơ; trong chất thải
sinh hoạt chứa nhiều cacbonhyđrat như đường, xenllulo, lignin, mỡ và protein,
những chất này có thể phân huỷ đồng thời hoặc từng bước. Quá trình phân huỷ

khử mùi cũng như ozone diệt vi sinh vật độc hại.
- Băng tải sẽ chuyển rác tới máy xé bông để phá vỡ mọi loại bao gói.
- Rác tiếp tục đi qua hệ thống phun tuyển từ (hút sắt thép và kim loại khác)
rồi lọt xuống sàng lồng. Sàng lồng có nhiệm vụ tách chất thải mềm, dễ phân
hủy, chuyển rác vô cơ (kể cả bao nhựa) tới máy vò và rác hữu cơ tới máy cắt.
Trong quá trình vận chuyển này, một chủng vi sinh vật ASC đặc biệt được phun
vào rác hữu cơ nhằm khử mùi hôi, làm chúng phân hủy nhanh và diệt một số tác
nhân độc hại.
- Rác hữu cơ được đưa vào buồng ủ trong thời gian 7-10 ngày. Buồng ủ có
chứa một chủng vi sinh khác làm rác phân huỷ nhanh cũng như tiếp tục khử vi
khuẩn.
12
- Rác biến thành phân khi được đưa ra khỏi buồng ủ, tới hệ thống nghiền và
sàng. Phân trên sàng được bổ sung một chủng vi sinh đặc biệt nhằm cải tạo đất
và bón cho nhiều loại cây trồng, thay thế trên 50% phân hoá học. Phân dưới
sàng tiếp tục được đưa vào buồng ủ trong thời gian 7-10 ngày.
Do lượng rác vô cơ khá lớn nên các nhà khoa học tiếp tục phát triển hệ
thống xử lý phế thải trơ và dẻo tạo ra một dây chuyền xử lý rác khép kín. Phế
thải trơ và dẻo đi qua hệ thống sấy khô và tách lọc bụi tro gạch. Sản phẩm thu
được ở giai đoạn này là phế thải dẻo sạch. Chúng tiếp tục đi qua tổ hợp băm cắt,
phối trộn, sơ chế, gia nhiệt bảo tồn rồi qua hệ thống thiết bị định hình áp lực cao.
Thành phẩm cuối cùng là ống cống panel, cọc gia cố nền móng, ván sàn, cốp
pha
Cứ 1 tấn rác đưa vào nhà máy, thành phẩm sẽ là 300-350 kg seraphin
(chất thải vô cơ không huỷ được) và 250-300 kg phân hữu cơ vi sinh. Loại phân
này hiện đã được bán trên thị trường với giá 500 đồng/kg.
Như vậy, qua các công đoạn tách lọc - tái chế, công nghệ seraphin làm
cho rác thải sinh hoạt được chế biến gần 100% trở thành phân bón hữu cơ vi
sinh, vật liệu xây dựng, vật liệu sản xuất đồ dân dụng và vật liệu cho công
nghiệp. Các sản phẩm này đã được cơ quan chức năng, trong đó có Tổng cục

Tỷ lệ chất thải sinh hoạt trong dòng chất thải rắn đô thị rất khác nhau giữa
các nước. Theo ước tính, tỷ lệ này chiếm tới 60-70% ở Trung Quốc (Gao et
al.2002); chiếm 78% ở Hồng Kông; 48% ở Philippin và 37% ở Nhật Bản và
chiếm 80% ở Việt Nam. Theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới, các nước có thu
nhập cao chỉ có khoảng 25-35% chất thải sinh hoạt trong toàn bộ dòng chất thải
rắn đô thị [16].
Theo Ngân hàng Thế giới, các khu vực đô thị của châu Á mỗi ngày phát
sinh khoảng 760.000 tấn chất thải rắn đô thị. Đến năm 2025, con số này sẽ tăng
tới 1,8 triệu tấn/ngày (World Bank, 1999) [16].
14
Bảng 2.3 Phát sinh chất thải rắn đô thị - sinh hoạt ở một số nước Châu Á
Quốc gia Năm
Dân số
(triệu
người)
GDP/
người
(USD)
Lượng
phát sinh
CTRĐT
(nghìn
tấn/năm)
Tỷ lệ
phát sinh
MSW/ng
ười/ngày
Lượng
RTSH
(nghìn

15
2.5.2 Quản lý và xử lý rác thải sinh hoạt trên thế giới
Việc quản lý và xử lý RTSH đang là một thách thức lớn đối với nhiều
nước trên thế giới không chỉ vì chi phí cho hoạt động này rất lớn mà còn vì lợi
ích to lớn đối với sức khỏe cộng đồng. Cùng với quá trình nâng cao mức sống,
lượng rác thải tạo ra ngày càng nhiều, vấn đề quản lý và xử lý RTSH ở các nước
trên thế giới đang ngày càng được quan tâm hơn. Đặc biệt tại các nước phát
triển, công việc này được tiến hành một cách rất chặt chẽ, từ ý thức thải bỏ rác
thải của người dân, quá trình phân loại tại nguồn, thu gom và tập kết rác thải cho
tới các trang thiết bị thu gom, vận chuyển theo từng loại rác.
 Nhật Bản - tái chế rác thải
Nhật Bản đã thực hiện rất tốt việc phân loại tại nguồn - điều mà các nước
phát triển đã làm từ hàng chục năm qua. Các hộ gia đình được yêu cầu phân chia
rác thành 3 loại: Rác hữu cơ dễ phân hủy, rác không cháy được nhưng có thể tái
chế và loại rác khó tái chế. Các loại rác này được yêu cầu đựng riêng trong
những túi có màu sắc khác nhau. Nếu gia đình nào không chịu phân loại, để lẫn
lộn vào một túi thì công ty vệ sinh sẽ gửi giấy báo phạt tiền đến nhà ngay ngày
hôm sau. Đối với các loại rác thải cồng kềnh như tivi, tủ lạnh, máy giặt, vật liệu
xây dựng… thì phải đăng ký trước và đúng ngày quy định sẽ có xe của Công ty
vệ sinh môi trường đến chuyên chở, không được tùy tiện vứt trên hè phố.
Việc tái chế rác ở Nhật Bản cũng rất công phu: 70% rác nhà bếp được tái
chế thành phân bón hữu cơ góp phần cải tạo đất, giảm bớt nhu cầu sản xuất và
nhập khẩu phân bón. Với bao bì và nhựa, Nhật Bản phải sử dụng 10% lượng dầu
thô nhập khẩu để chế tạo ra 12 triệu tấn nhựa công nghiệp, chiếm 10% hàng
nhựa trên thế giới. Riêng phế thải xây dựng, người ta phải thu gom vật liệu và bê
tông phế thải từ các công trường xây dựng chuyển đến nhà máy chuyên tái chế
thành cát và sắt thép. Chi phí cho việc xử lý rác hàng năm tính theo đầu người
khoảng 300 nghìn yên (khoảng 2.500 USD). Với cách thu gom, xử lý rác như
vậy đem lại nhiều lợi ích: Tiết kiệm được chi phí xử lý, giảm lượng rác thải ra
16

thời cũng là một nhà máy xử lý rác đúng nghĩa. Mỗi ngày số lượng rác phát sinh
trong thành phố lên tới nhiều chục nghìn tấn. Chi phí xử lý mỗi tấn rác tại đây
lên tới 54-65 USD, chưa kể chi phí vận chuyển do nhà máy xử lý đặt rất xa
trung tâm. Nước Mỹ có quy định rõ ràng nghiêm ngặt về vấn đề hôm nào thì chở
loại rác nào và yêu cầu đối với rác ra sao. Nhà nào, dù ở trong hay ngoài thành
phố, đều phải có 3 thùng rác, dùng 3 loại túi ni lông lớn có màu khác nhau để
phân loại: Loại có thể thu hồi, báo chí - bìa hộp và loại rác sinh hoạt ít giá trị tái
sử dụng. Các loại túi này đều có tiêu chuẩn về kích thước, độ dầy, bên ngoài túi
có in trọng lượng lớn nhất mà túi có thể chịu được. Có những loại rác không thể
đựng vào túi như tủ lạnh cũ, máy phát điện, ti vi cũ, giường đệm, xa lông v.v
thì gia chủ phải báo trước cho cơ quan vệ sinh môi trường và phải tuân theo sự
bố trí của họ. Để phân tán rác, quy định mỗi bên phố thu rác trong một ngày
riêng, hôm nay thu bên nhà số chẵn, mai thu bên nhà số lẻ; có lúc chỉ thu túi rác
màu này hoặc màu kia, có lúc chỉ thu thùng carton hoặc giấy đã cuộn gói lại.
Nhờ có kế hoạch phân định rõ thời gian thu rác và loại rác sẽ thu mà rác
không bị tập trung quá nhiều, số lượng rác thu mỗi ngày tương đối ổn định, dễ
bố trí xe rác.
Tại New York, giấy báo cũ không được bán lấy tiền, thậm chí còn phải
nộp tiền xử lý. Nhưng các phế phẩm khác thì có thể được bán, như vỏ lon hộp
nhôm, chai lọ thủy tinh và nhựa. Trên các loại vật dụng này đều có in sẵn giá
tiền, như trên vỏ lon có chữ “5 xu”, nghĩa là đem vỏ lon dùng rồi đem bán sẽ
được trả 5 xu. Các siêu thị lớn đều có nơi thu mua các thứ phế phẩm đó. Lon thu
mua được đưa vào máy xay thành bột, nhằm thu nhỏ không gian đựng chúng,
sau đó máy in ra biên lai số tiền trả cho người nộp phế phẩm. Có thể dùng biên
lai này để mua hàng thay tiền hoặc đổi lấy tiền mặt.
18
Cơ quan vệ sinh môi trường sử dụng các loại xe chế biến xử lý rác rất
hiện đại, trông như một cỗ xe tăng hoặc xe bọc thép khổng lồ kiên cố, có công
suất cực lớn. Đồ phế thải dù lớn và cứng đến đâu, như bộ xa lông, tủ lạnh to,
máy phát điện, ghế xoay bằng thép v.v đưa vào xe này đều có thể ép bẹp gí rồi

Bangladet 95 - - 5
Hongkong 92 8 - -
Ấn Độ 70 - 20 10
Indonexia 80 5 10 5
Nhật Bản 22 74 0,1 3,9
Hàn Quốc 90 - - 10
Malayxia 70 5 10 15
Philippin 85 - 10 5
Srilanka 90 - - 10
(Nguồn: Trích dẫn theo Viện khoa học thủy lợi, 2006)
2.6 Tình hình quản lý và xử lý rác thải sinh hoạt tại Việt Nam
2.6.1 Phát sinh rác thải sinh hoạt tại Việt Nam
Các đô thị là nguồn phát sinh chính của CTRSH. Các khu đô thị tuy có
dân số chỉ chiếm 24% dân số của cả nước nhưng lại phát sinh đến hơn 6 triệu
tấn chất thải mỗi năm (tương ứng với 50% tổng lượng CTRSH của cả nước).
Ước tính mỗi người dân đô thị ở Việt Nam trung bình phát thải khoảng trên 2/3
kg chất thải mỗi ngày, gấp đôi lượng thải bình quân đầu người ở vùng nông
thôn. Thống kê cho thấy: Năm 2004, lượng CTR đô thị bình quân khoảng 0,9-
1,2 kg/người/ngày ở các đô thị lớn và dao động từ 0,5-0,65 kg/người/ngày ở các
đô thị nhỏ. Đến năm 2008, con số này đã tăng lên 1,45 kg/người/ngày ở khu vực
đô thị và 0,4 kg/người/ngày tại khu vực nông thôn [2].
Tổng lượng CTRSH ở các đô thị phát sinh trên toàn quốc năm 2008
khoảng 35.100 tấn/ngày, CTRSH ở khu vực nông thôn khoảng 24.900 tấn/ngày
(Trung tâm nghiên cứu và quy hoạch môi trường đô thị - nông thôn, Bộ Xây
dựng, 2010). Tại hầu hết các đô thị, khối lượng CTRSH chiếm 60-70% tổng
20


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status