luận văn kiểm toán rác thải khu vực ký túc xá lưu học sinh trường đại học nông nghiệp hà nội và đề xuất một số biện pháp quản lý rác thải sinh hoạt - Pdf 15

ĐỀ TÀI
“Kiểm toán rác thải khu vực ký túc xá lưu học sinh
trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội và đề xuất một
số biện pháp quản lý rác thải sinh hoạt”
Giảng viên hướng dẫn :
Sinh viên thực hiện :

PHẦN I MỞ ĐẦU 3
Tính cấp thiết của đề tài 3
Mục tiêu và yêu cầu nghiên cứu 3
PHẦN II. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
2.1. Chất thải sinh hoạt 4
2.2. Thực trạng rác thải sinh hoạt trên Thế giới và Việt Nam 7
2.3. Thực trạng quản lý và tái chế chất thải rắn (CTR) 8
2.4. Kiểm toán chất thải rắn 12
PHẦN III. ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 14
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 14
3.2 Nội dung nghiên cứu 14
3.3 Phương pháp nghiên cứu 14
PHẦN IV. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 16
4.1. VỊ TRÍ ĐỊA LÝ TỰ NHIÊN KHU VỰC NGHIÊN CỨU 16
4.2. Hiện trạng quản lý rác thải của ký túc xá lưu học sinh 18
4.3. Kết quả kiểm toán rác thải 19
4.4. Ngoại suy kết quả 21
4.5. Đánh giá công tác quản lý 23
4.6. Đề xuất một số biện pháp giảm thiểu rác thải 24
PHẦN V. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 28
PHẦN VI. TÀI LIỆU THAM KHẢO 29
PHẦN VII. PHỤ LỤC 29
PHẦN I MỞ ĐẦU
Tính cấp thiết của đề tài

2.1.1. Khái niệm.
Chất thải rắn là các chất rắn bị loại ra trong quá trình sống, sinh hoạt và sản
xuất của con người và cả động vật, trong đó chất thải rắn sinh hoạt chiếm tỉ lệ
cao nhất, chất lượng và số lượng rác thải tại từng quốc gia và từng khu vực trong
mỗi quốc gia là rất khác nhau tùythuộc vào trình độ phát triển kinh tế và khoa học
kỷ thuật. Bất kỳ một hoạt động sống nào của con người, tại nhà, trường học hay nơi
công sở đều sinh ra một lượng rác thải đáng kể.Trong đó có cả hai loại vô cơ lẫn
hữu cơ. Vì vậy có thể định nghĩa rác thải sinh hoạt là những thành phần tàn tích
hữu cơ và vô cơ phục vụ đời sống con người, chúng không còn được sử dụng và vứt trả
lại môi trường sống.
2.1.2. Nguồn phát sinh chất thải sinh hoạt
2.1.2. Nguồn phát sinh chất thải sinh hoạt
Các nguồn chủ yếu phát sinh chất thải rắn sinh hoạt bao gồm:
+ Từ các khu dân cư
+ Từ các trung tâm thương mại
+ Từ các viện nghiên cứu, cơ quan, trường học, các công trình công cộng
+ Từ các dịch vụ đô thị, sân bay
+ Từ các trạm xử lý nước thải và từ các ống thoát nước của thành phố
+ Từ các khu công nghiệp
Bảng 1: Các loại chất thải đặc trưng từ nguồn thải sinh hoạt
Nguồn thải Thành phần chât thải
Khu dân cư và thương mại Chất thải thực phẩm
Giâý
Carton
Nhựa
Vải
Cao su
Rác vườn
Gỗ
Các loại khác: tã lót, khăn vệ sinh,…

Đất đá 1,6
Thành phần khác 5,4
Nguồn HOWADICO 06/2002
2.1.4. Phân loại rác thải sinh hoạt.
2.1.4. Phân loại rác thải sinh hoạt.
Ngày nay, việc ứng dụng khoa học kỹ thuật trong từng lĩnh vực thực tế đã góp phầngiảm
thiểu chi phí cho các công đoạn thừa trong các quá trình xử lý. Việc phân chia rác
thải rắn theo công nghệ quản lý xử lý là một bước tiến quan trọng, giúp hiệu quả
của quy trình xử lý tăng lên, giảm thiểu lượng ô nhiễm. Dưới đây là bảng phân loại
rác thải sinh hoạt.
Bảng 3: Phân loại rác thải sinh hoạt
Loại Nguồn gốc Ví dụ
1. Rác hữu cơ - Các vật liệu làm từ giấy
- Có nguồn gốc từ sợi
- Các chất thải ra từ đồ ăn thực
phẩm
- Các vật liệu và sản phẩm được
chế tạo từ gỗ, tre và rơm…
- Các túi giấy, các mảnh bìa, giấy
vệ sinh…
- Vải, len, bì tải, bì nilon…
- Các cọng rau, vỏ quả, thân cây,
lõi ngô…
- Đồ dùng bằng gỗ như bàn, ghế,
- Các vật liệu và sản phẩm được
chế tạo từ chất dẻo
- Các vật liệu và sản phẩm được
chế tạo từ da và cao su
- Các túi giấy, các mảnh bìa, giấy
vệ sinh…

Đá cuội, cát, đất, tóc…
2.2. Thực trạng rác thải sinh hoạt trên Thế giới và Việt Nam.
2.2.1. Trên thế giới
Nạn ô nhiễm môi trường có thể thấy ở mọi nơi trên thế giới, từ Mexico, Nga, Mỹ cho tới Trung
Quốc, Ấn Độ… Tình trạng ô nhiễm ở một vài thành phố tại những quốc gia này xuất phát từ nhiều lý do
khác nhau. Trong đó ý thức con người giữ một vai trò khá quan trọng, Mumbai một trong những thành
phố đông đúc nhất và bẩn thỉu nhất trên trái đất. Mỗi ngày, người dân ở nơi đây quẳng ra hàng tấn rác.
Bắc Kinh có dân số 17,6 triệu người, thải ra khoảng 18.400 tấn rác mỗi ngày, khoảng 90% rác thải được
đổ tại 13 bãi rác đặt rải rác quanh thành phố. Còn người dân Hoa Kỳ đã loại bỏ mỗi năm 16.000.000.000
tã, 1.600.000.000 bút, 2.000.000.000 lưỡi dao cạo, 220.000.000 lốp xe. Với một lượng rác thải như thế thì
không lâu trái đất của chúng ta sẽ chìm trong biển rác, chính vì thế những công nghệ xử lý rác hiện đại
nhất thế giới đã ra đời. Hiện tại Mỹ đã có những công nghệ tái chế và tái sử dụng khá hiện đại như: công
nghệ tái chế tivi analog, công nghệ CDW, công nghệ
tái chế vải bông…và còn rất nhiều công nghệ khá hiện đại của Anh, Trung Quốc và Nhật Bản.
2.2.2. Ở Việt Nam
Rác thải ở Việt Nam đang là một hiện trạng đáng lo ngại. Cùng với sự phát triển kinh tế, gia tăng
dân số cộng với sự lãng phí tài nguyên trong thói quen sinh hoạt của con người, rác thải có số lượng
ngày một tăng, thành phần ngày càng phức tạp và tiềm ẩn ngày càng nhiều nguy cơ độc hại với môi
trường và sức khoẻ con người. Là một nước đang phát triển, tốc độ tăng các rác thải sinh hoạt ở cả
thành thị và nông thôn, rác thải công nghiệp, y tế ở nước ta còn nhanh hơn các nước khác, từ năm 2003
đến 2008 tăng gấp 2 lần.
Rác thải sinh hoạt chiếm khối lượng khoảng 60% tổng lượng rác thải. Mức phát thải trung bình ở
đô thị VN là 21.500 tấn chất thải sinh hoạt/ngày (2008), dự báo đến 2020 là 59 nghìn tấn/ngày cao gấp 2 -
3 lần hiện nay. Theo Chi cục Bảo vệ môi trường Hà Nội, tổng lượng rác thải sinh hoạt đô thị của thành
phố vào khoảng 2.800 tấn/ ngày. Tình hình trong thời gian gần đây đã trở nên bức xúc, đặc biệt ở 3 thành
phố lớn là Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh và Đà Nẵng. Ví dụ tại Hà Nội, khối lượng rác thải sinh hoạt tăng
trung bình 15%/năm, vởi tổng lượng ước tính 5.000 tấn/ngày đêm, và dự đoán chỉ sang năm (2012) có thể
không còn chỗ để đổ rác. Thành phố Hồ Chí Minh mỗi ngày có trên 7.000 tấn rác thải sinh hoạt, mỗi năm
cần 235 tỷ đồng để xử lý.
Tổng lượng phát sinh rác thải sinh hoạt tại các đô thị loại III trở lên và một

Tổng số: 1.204
Theo Cơ quan Bảo vệ Môi trường (EPA)
Hiện nay, chất thải được tái chế bằng nhiều cách vừa biến thành năng lượng lẫn thu hồi nguyên
liệu và những thị trường thứ cấp đang xuất hiện ngày càng nhiều trên phạm vi toàn cầu. Trên thế giới, ước
tính sơ bộ khối lượng nguyên liệu thứ cấp được trao đổi là 135 triệu tấn. Các nguyên liệu thứ cấp hiện là
một trong những dòng nguyên liệu quan trọng nhất trên toàn thế giới.
Bảng 5: Loại hình thu gom và xử lý chất thải đô thị theo thu nhập của một số nước trên thế giới
Quốc gia
Các nước thu nhập
thấp
(Ấn Độ, Ai Cập, các
nước châu Phi)
Các nước thu nhập
trung bình (Achentina,
Đài Loan (TQ),
Singapo, Thái Lan
Các nước có thu nhập
cao
(Hoa Kỳ, 15 nước EU,
Hồng Kông)
GDP (USD/người/năm) <5.000 5.000 - 15.000 > 20.000
Tiêu thụ giấy/bìa trung
bình (kg/người/năm)
20 20 - 70 130 - 300
Chất thải đô thị
(kg/người/năm)
150 - 250 250- 550 350 - 750
Tỷ lệ thu gom % < 70 70- 95 > 95
Các quy định về chất
thải

1- 5
1- 5
20 - 65
15 - 40
7 - 15
1 - 5
1 - 5
20 - 40
15 - 50
10 - 15
5 - 8
5 - 8
Độ ẩm (%) 50 - 80 40 - 60 20 - 30
Nhiệt trị (kcal/kg) 800 - 1.100 1.100 - 1.300 1.500 - 2.700
Phương pháp xử lý
Điểm chứa chất thải bất
hợp pháp >50%
Tái chế không chính
thức 5%- 15%
Bãi chôn lấp >90%
Bắt đầu thu gom có
chọn lọc
Tái chế có tổ chức 5%
Thu gom có chọn lọc
Thiêu đốt
Tái chế >20%
Theo Cơ quan Bảo vệ Môi trường (EPA)
Biến chất thải thành năng lượng: là nhiệm vụ của họat động triển khai sử dụng tài nguyên tái tạo,
giảm các khí nhà kính và phát triển thị trường cácbon. Thiêu đốt chất thải có thu hồi năng lượng bao gồm
xử lý chất thải để sản xuất năng lượng cung cấp cho các nhà máy và nhà ở. Năng lượng sản xuất ra nhiều

+ Giấy và bìa cứng được thu hồi từ chất thải đô thị và công nghiệp
2.3.2. Ở Việt Nam
a. Tình hình quản lý.
Quản lý chất thải rắn bao gồm các hoạt động: phòng ngừa và giảm thiểu phát sinh CTR; phân loại
tại nguồn; thu gom, vận chuyển; tăng cường tái sử dụng, tái chế; xử lý và tiêu huỷ.
Công tác quản lý chất thải rắn ở Việt Nam hiện nay còn chưa tiếp cận được với phương thức
quản lý tổng hợp trên quy mô lớn, chưa áp dụng đồng bộ các giải pháp giảm thiểu, tái sử dụng, tái chế
(3R) để giảm tỷ lệ chất thải phải chôn lấp. Hoạt động giảm thiểu phát sinh CTR, một trong những giải
pháp quan trọng và hiệu quả nhất trong quản lý chất thải, còn chưa được chú trọng. Chưa có các hoạt
động giảm thiểu CTR sinh hoạt. Ở quy mô công nghiệp, số cơ sở áp dụng sản xuất còn rất ít, khoảng
300/400.000 doanh nghiệp. Hoạt động phân loại tại nguồn chưa được áp dụng rộng rãi, chỉ mới được thí
điểm trên qui mô nhỏ ở một số thành phố lớn như Hà Nội, TP Hồ Chí Minh. Tỷ lệ thu gom chất thải ở các
vùng đô thị trung bình đạt khoảng 80-82%, thấp nhất là đô thị loại IV (65%), ở Hà Nội cao hơn (90%); ở
các điểm dân cư nông thôn ~ 40-55%. Khoảng 60% khu vực ở nông thôn chưa có dịch vụ thu gom chất
thải, chủ yêu dựa vào tư nhân hoặc cộng đồng địa phương. Tỷ lệ thu gom, vận chuyển CTR tuy đã tăng
dần song vẫn còn ở mức thấp, chủ yếu phục vụ cho các khu vực đô thị, chưa vươn tới các khu vực nông
thôn. Xã hội hóa công tác thu gom, vận chuyển CTR tuy đã được phát triển nhưng chưa rộng và chưa
sâu, chủ yếu được hình thành ở các đô thị lớn. Năng lực trang thiết bị thu gom, vận chuyển còn thiếu và
yếu, dẫn tới tình trạng tại một số đô thị đã thực hiện phân loại CTR tại nguồn nhưng khi thu gom, vận
chuyển lại đem đổ chung làm giảm hiệu quả của việc phân loại. Tái sử dụng và tái chế chất thải mới chỉ
được thực hiện một cách phi chính thức, ở qui mô tiểu thủ công nghiệp, phát triển một cách tự phát,
không đồng bộ, thiếu định hướng và chủ yếu là do khu vực tư nhân kiểm soát. Công nghệ xử lý CTR chủ
yếu vẫn là chôn lấp ở các bãi lộ thiên không đạt tiêu chuẩn môi trường với 82/98 bãi chôn lấp trên toàn
quốc không hợp vệ sinh. Các lò đốt rác chủ yếu dành cho ngành y tế và chỉ đáp ứng được 50% tổng
lượng chất thải y tế nguy hại. Việc phục hồi môi trường đối với các cơ sở xử lý CTR còn nhiều hạn chế.
Tình trạng đổ chất thải không đúng nơi quy định còn xảy ra, gây ô nhiễm môi trường ảnh hưởng đến sức
khoẻ của cộng đồng.
Đối phó với vấn đề ô nhiễm môi trường, cụ thể hơn là vấn đề chất thải rắn phát sinh từ các đô thị, nhà
nước đã ban hành những chiến lược, chính sách mang tầm cỡ quốc gia về quản lý chất thải rắn, như luật
bảo vệ môi trường, nghị định số 59/2007/NĐ-CP ngày 09/04/2007 của chỉnh phủ về quản lý chất thải

được khuyến khích tuân thủ theo các Quy chế về Thực hành quản lý môi trường tốt nhất (BPEM), được
chính quyền Ôxtrâylia thiết kế riêng cho mỗi ngành. Ví dụ, đối với ngành khai thác mỏ đã được Cục Bảo
vệ môi trường Úc ban hành quy chế năm 1995, trong đó bao gồm quy định về KTCT và nộp báo cáo kiểm
toán hàng năm.
Tại Canada, theo quy định Ontario 102/94 của Bộ Môi trường và Năng lượng, các cơ sở sản xuất bắt
buộc thực hiện KTCT. Quy định này nêu rõ, các cơ sở giáo dục, bệnh viện, nhà nghỉ, khách sạn, cơ sở sản
xuất, các tòa nhà công sở, nhà hàng và các cơ sở kinh doanh phải thực hiện chương trình giảm thiểu chất
thải, bao gồm 4 bước trong đó có thực hiện KTCT. Thời gian một báo cáo KTCT phải được lưu trữ dưới
dạng file ít nhất 5 năm và phải chỉ ra được loại vật liệu hoặc sản phẩm nào được doanh nghiệp sử dụng là
vật liệu hoặc sản phẩm tái chế. Bên cạnh đó, Canada rất chú trọng tới việc xem xét quy trình sản xuất của
doanh nghiệp như là một thông tin đầu vào để thực hiện kiểm toán, từ đó đề xuất các khâu giảm thiểu chất
thải cũng như nguyên liệu sản xuất.
Ở Singapo, KTCT được cụ thể hóa như là một chiến lược tối thiểu hóa phát sinh chất thải, bao gồm 8
bước: Cam kết của lãnh đạo; Lựa chọn nhóm/bộ phận làm việc về tối thiểu hóa phát sinh chất thải; Thực
hiện kiểm toán chất thải; Xác định chi phí của việc giảm phát sinh chất thải; Phát triển, xây dựng các
phương án giảm thiểu chất thải; Đánh giá khả năng tiết kiệm và sắp xếp ưu tiên các lựa chọn/giải pháp;
Xây dựng kế hoạch giảm thiểu chất thải; Thực thi và cải tiến kế hoạch.
Ở Trung Quốc, Nhật Bản, Ba Lan và nhiều nước khác, các hoạt động KTCT được lồng ghép trong các
công cụ kiểm soát và giảm thiểu ô nhiễm như sản xuất sạch hơn, KTMT, đánh giá vòng đời sản phẩm.
Mục tiêu chính của các công cụ này là nhằm hướng đến việc giảm thiểu phát sinh, kiểm soát ô nhiễm do
chất thải gây ra.
2.4.3. Kiểm toán chất thải rắn ở Việt Nam
Ở Việt Nam hiện nay việc áp dụng KTCT trong các cơ sở sản xuất cũng mới dừng ở một vài dự
án thí điểm như "Kiểm soát ô nhiễm môi trường" của UNDP năm 1995 ở một số nhà máy tại Việt Trì và
Biên Hòa; đề tài "Điều tra, đánh giá đề xuất việc KTCT công nghiệp tại 5 khu công nghiệp, khu chế xuất"
của Cục Bảo vệ môi trường năm 2005; đề tài "Nghiên cứu áp dụng KTCT trong công nghiệp quốc phòng"
của Trung tâm Khoa học, Kỳ thuật và Công nghệ Quân sự (Bộ Quốc phòng) năm 2004; đề tài "KTCT tại
các làng nghề tái chế kim loại và đề xuất một số biện pháp giảm thiểu ô nhiễm" của Viện Khoa học Công
nghệ Môi trường -Đại học Bách khoa Hà Nội năm 2005; Nghiên cứu và áp dụng thí điểm về KTCT cho
Nhà máy giầy Thượng Đình, Hà Nội và Công ty TNHH Thuộc da Đông Hải do Tổng cục Môi trường

Thu thập thông tin thứ cấp: tìm hiểu thông tin chung về KTX, về công tác quản lý rác thải.
Thu thập thông tin sơ cấp
+ Khảo sát thực địa: Quan sát, đưa ra nhận định về thực trạng phát sinh, thu gom, vận chuyển xử lý rác
thải tại địa bàn nghiên cứu.
+ Điều tra phỏng vấn: Xây dựng phiếu điều tra gồm 14 câu hỏi, phát cho sinh viên ở 3 phòng ở với số
lượng 2 phiếu/ phòng. Ngoài ra, trong quá trình thực hiện kiểm toán có phỏng vấn trực tiếp các bạn sinh
viên.
Tìm hiểu chi phí thu gom, xử lý rác thải và giá cả của một số loại rác có thể tái chế, tái sử dụng.
3.3.2 Phương pháp chuyên gia
Trao đổi với giáo viên hướng dẫn để được giải đáp những vấn đề phát sinh trong quá trình thực hiện kiểm
toán.
3.3.3 Phương pháp lấy mẫu :
Lấy mẫu ở tất cả 3 phòng ở, 1 phòng bếp:
+ Mỗi phòng ở có 1 thùng rác.
+ Phòng bếp có 1 thùng rác lớn
Đặt túi thu gom rác phát sinh hàng ngày, sau mỗi ngày đến thu gom rác và đặt túi mới.
+ Ngày 25/09/2011 đến ký túc xá
15h30 họp mở đầu, phân công nhiệm vụ cho mỗi kiểm toán viên.
16h bắt đầu đặt túi thu gom rác, mỗi phòng ở 1túi nilon vừa, phòng bếp 1 túi nilon lớn .
+ Các ngày tiếp theo (26/09- 02/10) đúng 16h đến thu túi rác, đem đi phân loại và xác định khối lượng
rác, tiếp tục đặt túi mới, thực hiện trong vòng một tuần.
3.3.4 Phương pháp phân tích
Phân loại rác thải sinh hoạt theo bảng tiêu chuẩn phân loại rác đã chuẩn bị trước khi tiến hành kiểm toán
(có bảng kèm theo).
Cách phân loại rác:
+ Thu rác ở các thùng rác ở phòng ở và phòng bếp
+ Do lượng rác ở các phòng ở là rất ít, rấ khó có thể định lượng được. Do đó chúng tôi gộp chung rác
phòng ở và phòng bếp. Đổ rác ra bạt lớn, tiến hành phân loại theo bảng tiêu chuẩn phân loại rác.
Sau khi phân loại tiến hành xác định khối lượng mỗi loại rác thải bằng cân 5 kg và ghi vào trong biểu mẫu
( có bảng kèm theo).

C) và giảm dần đến tháng 12. Điều kiện nhiệt độ này gây ảnh hưởng
lượng bốc hơi nước và độ ẩm, VSV trong không khí. Từ đó tạo điều kiện lây lan (nếu có) các dịch bệnh
trong kí túc như cúm, zona thần kinh…
Tổng số giờ nắng trong năm tương đối cao (1213,8 giờ) làm tăng sinh khối của thực vật thủy sinh, đó là
nguồn cung cấp khá nhiều oxy trong nước, nhưng cũng đồng thời xác của chúng làm hàm lượng chất hữu
cơ trong nước gia tăng cùng với quá trình phân hủy làm tính chất nước thải bị xấu đi.
Bảng 4.1. Số liệu khí tượng của trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội năm 2009
Tháng
Nhiệt độ (
0
C)
Lượng mưa (mm)
Số giờ nắng
(giờ)
Max Min TB
1 19.9 12.4 15.6 2.5 108.5
2 25.9 19.6 22.1 7.5 84.9
3 23.3 18.8 20.7 34 61.3
4 27.8 22.0 24.3 45.5 99.7
5 30.5 24.3 26.8 270 130.5
6 33.9 26.4 29.4 60.5 96.5
7 33.4 26.8 29.6 146 113.2
8 33.7 26.5 29.2 70.5 130.5
9 33.4 25.7 28.8 130.5 161.9
10 30.6 23.4 26.3 20 88.0
11 27.4 19.8 22.9 0 77.4
12 23.6 16.7 19.3 1 61.4
TB 28.6 21.9 24.6 65.7 101.2
Tổng 343.4 262.4 295.0 788 1213.8
Nguồn: trạm khí tượng HUA-JICA

Từ bảng thu mẫu các loại rác phát sinh mỗi ngày ta tính toán xác định tổng khối lượng rác mỗi loại trong
một ngày:
Bảng 4.1. Tổng hợp khối lượng rác phát sinh trong 1 tuần của tầng 1 KTX lưu học sinh (đơn vị: kg)
Bảng 4.2. Thành phần % về khối lượng các nhóm rác thải
Nhóm Khối lượng rác trong 7 ngày(kg) % về khối lượng (%)
Nhóm tái sử dụng và tái chế (A) 2.96 12.3
Nhóm compose (B) 21.01 87.2
Nhóm CTNH (C) 0.12 0.5
Tổng 24.09 100
Hình 1. Biểu đồ thể hiện thành phần % về khối lượng các nhóm rác thải
Thứ Loại rác
Thứ 2 Thứ 3 Thứ 4 Thứ 5 Thứ 6 Thứ 7 CN Tổng
Nhóm A. Rác thải có thể tái sử dụng, tái chế
Khăn giấy (A1.1) 0.01 0.08 0.3 0.1 0.49
Bìa (A2) 0.06 0.04 0.1 0.05 0.25
Nhựa dẻo (A3.1) 0.52 0.4 0.1 0.2 1.22
Kim loại Sắt (A4.1) 0.02 0.04 0.05 0.03 0.14
Nhôm (A4.2) 0.2 0.2
Nilon (A5) 0.05 0.16 0.2 0.09 0.06 0.1 0.66
Nhóm B. Nhóm vật liệu compose:
Thức ăn thừa (B1) 1.23 2.46 5.72 1.58 2.4 2.5 4.3 20.19
Gỗ (B2) 0.5 0.02 0.3 0.82
Nhóm C. Chất thải nguy hại
Bóng đèn 0.02 0.1 0.12
TỔNG 1.39 2.78 7.39 2.19 2.51 2.8 5.03 24.09
Từ biểu đồ ta thấy:
+ Khối lượng nhóm compose là lớn nhất, chiếm tới 87,2%. Thành phần chủ yếu là thức ăn thừa, vỏ hoa
quả, rau củ. Theo tìm hiểu, nhóm vật liệu compose ở KTX lưu học sinh chiếm tỉ lệ phần trăm lớn hơn các
KTX khác do KTX lưu học sinh cho phép sinh viên được nấu ăn tại phòng bếp chung, còn các KTX khác
do không được nấu ăn nên lượng rác thải nhóm compose chiếm tỉ lệ phân trăm thấp hơn. Đây là loại rác

là tổng khối lượng rác thải phát sinh trong 7 ngày của tầng 1.
6 là số người ở tầng 1.
7 là số ngày trong tuần
+ Khối lượng rác thải trung bình của toàn KTX trong 1 ngày theo đầu người:
R
KTX/ngày =
R
N/ngày.
72 (kg)
Với 72 là số người ở trong toàn KTX.
+ Khối lượng rác thải trung bình của KTX trong 1 năm học:
R
KTX/ năm
=R
KTX/ ngày .
290 (kg)
Với 290 là số ngày trong 1 năm học (đã trừ các dịp nghỉ lễ, nghỉ hè).
Tính cho từng loại rác thải:
+ Khối lượng rác thải loại i trung bình trong 1 ngày của 1 người :
R
i
N/ngày
= TR
i
/ (6.7) (kg)
Với R
i
N/ngày
là khối lượng rác thải loại i trung bình trong 1 ngày của 1 người
TR

Kg/ năm 11976
Bảng 4.4. Ước tính khối lượng trung bình của từng loại rác thải phát sinh từ KTX
Loại rác TB/ người/ ngày TBKTX/ ngày TBKTX/ năm
Nhóm A. Rác thải có thể tái sử dụng, tái chế
Giấy vụn bẩn (A1.1) 0.011667 0.84 243.6
Bìa (A2) 0.005952 0.43 124.7
Nhựa dẻo (A3.1) 0.029048 2.1 609
Kim loại Sắt (A4.1) 0.003333 0.24 69.6
Nhôm (A4.2) 0.004762 0.34 98.6
Nilon (A5) 0.015714 1.13 327.7
Nhóm B. Nhóm vật liệu compose:
Thức ăn thừa (B1) 0.480714 34.61 10036.9
Gỗ (B2) 0.019524 1.41 408.9
Nhóm C. Chất thải nguy hại
Bóng đèn 0.002857 0.21 60.9
Khối lượng rác trung bình phát sinh của ký túc xá tương đối lớn khoảng 41,3kg/ngày, 11.976 kg/năm.
Loại rác chủ yếu là nhóm vật liệu phân compose (khoảng 10445 kg/năm) phát sinh từ các phòng bếp.
4.5. Đánh giá công tác quản lý
4.5.1. Chi phí cho xử lý rác thải ở KTX lưu học sinh
Hiện nay, toàn bộ lượng rác thải sinh hoạt phát sinh từ khu KTX được công ty môi trường đô thị thu gom
và đem đi chôn tại bãi rác Nam Sơn. Đến một thời hạn nhất định thì khả năng chứa của bãi rác tối đa,
chúng ta phải xây dựng bãi chôn lấp mới, theo ban quản lý bãi rác Nam Sơn thì đến năm 2012 sẽ phải
đóng cửa bãi rác này. Do đó việc chôn lấp toàn bộ rác không phải là biện pháp hiệu quả về mặt kinh tế.
Theo tìm hiểu thì chi phí cho việc vận chuyển và chôn lấp toàn bộ lương rác thải của KTX lưu học sinh
bao gồm:
Chi phí chôn lấp rác hợp vệ sinh không tính đến thu hồi vốn đầu tư theo mặt bằng giá cuối năm 2010 là
115.000 - 142.000 đồng/tấn; chi phí chôn lấp rác có tính đến thu hồi vốn đầu tư là 219.000 – 286.000
đồng/tấn, từ khối lượng rác thải trung bình phát sinh của toàn KTX có thể tính được chi phí phải trả cho
việc chôn lấp rác:
M

4
, CO
2
, NO
X
, SO
X

Đồng thời, phát sinh một lượng rất lớn nước rò rỉ từ bãi rác có hàm lượng ô nhiễm cao, có khả năng gây
ảnh hưởng xấu cho môi trường
Nếu không áp dụng các biện pháp giảm thiểu thì lượng rác sau khi phân hủy hoàn toàn sẽ phát thải ra môi
trường một lượng lớn các chất gây ảnh hưởng tới môi trường.
4.6. Đề xuất một số biện pháp giảm thiểu rác thải
4.6.1. Biện pháp quản lý
Tiến hành phân loại rác ngay tại phòng ở và phòng chức năng ở KTX: cần phân loại rác thải thành 3
nhóm:
Nhóm 1: rác có thể tái chế, tái sử dụng như: giấy, bìa, nhựa, túi nilon, kim loại, thủy tinh…
Nhóm 2: vật liệu ủ phân compose là các chất hữu cơ dễ phân hủy như: thức ăn thừa, hoa, rau củ quả
Nhóm 3: rác thải nguy hại như: ngòi bút bi, mực, bóng đèn huỳnh quang hỏng
Xây dựng chương trình truyền thông về môi trường trên phương tiện truyền thanh của trường; tổ chức
biên soạn có bài bản các chương trình phát thanh về lĩnh vực môi trường với nội dung phong phú, dễ
hiểu, gắn với đời sống nhằm thu hút sự quan tâm, chú ý của cán bộ và sinh viên trong trường đồng thời
giúp thấy được tác hại và lợi ích của việc thu gom rác.
Phổ biến giáo dục pháp luật về BVMT và hướng dẫn các hoạt động BVMT đến sinh viên thông qua nội
dung, hình thức, phương pháp phù hợp với thực tiễn để nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cộng đồng:
Lồng ghép các kiến thức môi trường vào chương trình học.
Đẩy mạnh công tác tuyên truyền trong nhà trường, phát động trồng cây, lao động dọn dẹp vệ sinh tập
thể
Bên cạnh đó việc tái chế,tái sử dụng và quay vòng chất thải có thể nói là một phương pháp tốt để giảm
nhu cầu chôn lấp,thiêu đốt….Với rất nhiều chất thải sinh hoạt có thể tái chế, tái sử dụng như kim loại,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status