PHẦN I MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Nền kinh tế Việt Nam đang có những bước chuyển mình mạnh mẽ.
Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đang diễn ra hết sức khẩn trương,
bộ mặt xã hội đã có nhiều chuyển biến tích cực. Cho đến nay, nó không chỉ
phát triển ở các thành phố, khu đô thị lớn của nước ta mà đang mở rộng ra
các huyện lân cận.
Cùng với sự phát triển kinh tế, đời sống của người dân được cải thiện
đáng kể. Mức sống của người dân càng cao thì nhu cầu tiêu dùng các sản
phẩm xã hội càng cao, điều này đồng nghĩa với việc gia tăng lượng rác thải
sinh hoạt. Rác thải sinh hoạt phát sinh trong quá trình ăn, ở, tiêu dùng của
con người, được thải vào môi trường ngày càng nhiều, vượt quá khả năng tự
làm sạch của môi trường dẫn đến môi trường bị ô nhiễm.
Thanh Oai là một huyện nằm liền kề với quận Hà Đông, thành phố Hà
Nội. Huyện có đường giao thông thuận lợi, lại tiếp giáp với thủ đô nên các
cơ sở sản xuất, các khu công nghiệp ngày càng được mở rộng thu hút một
lượng lớn lao động ở các tỉnh, huyện khác. Dân số trong huyện tăng lên nhu
cầu tiêu dùng của người dân cũng tăng theo. Các chợ, quán xá, các dịch vụ
phục vụ người dân cũng ngày càng phong phú và đa dạng. dẫn đến lượng rác
thải tăng lên rất nhiều.
Tuy nhiên, điều đáng quan tâm ở đây là chưa có một giải pháp cụ thể
nào về việc xử lý các nguồn rác thải phát sinh này. Nếu có thì cũng chỉ là rác
thải được thu gom tập trung ở một bãi rác lộ thiên, không tiến hành xử lý,
chôn lấp, làm mất vệ sinh công cộng, mất mỹ quan môi trường, gây ô nhiễm
môi trường đất, nước, không khí. Đặc biệt, những bãi rác này còn là nguy cơ
gây bệnh dịch, nguy hại đến sức khoẻ con người.
Xuất phát từ thực trang trên, nhằm tìm ra biện pháp quản lý, xử lý phù
hợp góp phần giảm thiểu ô nhiễm môi trường do rác thải sinh hoạt, tôi tiến
hành thực hiện đề tài: “Điều tra thực trạng và đề xuất một số biện pháp
quản lý, xử lý rác thải sinh hoạt trên địa bàn thị trấn Kim Bài, huyện
Thanh Oai, Hà Nội”.
phần bao gồm kim loại, sành sứ, thủy tinh, gạch ngói vỡ, đất, đá, cao su,
chất dẻo, thực phẩm dư thừa hoặc quá hạn sử dụng, xương động vật, tre, gỗ,
lông gà lông vịt, vải, giấy, rơm, rạ, xác động vật, vỏ rau quả v.v…[1].
2.1.3 Quản lý chất thải
Quản lý chất thải là hoạt động phân loại, thu gom, vận chuyển, giảm
thiểu, tái sử dụng, tái chế, xử lý, tiêu hủy, thải loại chất thải [6].
2.1.4 Quản lý môi trường
Quản lý môi trường là sự tác động liên tục, có tổ chức, có phương
hướng và mục đích xác định của chủ thể ( con người, địa phương, quốc gia,
tổ chức quốc tế v.v… ) đối với một đối tượng nhất định ( môi trường sống )
nhằm khôi phục, duy trì và cải thiện tốt hơn môi trường sống của con người
trong khoảng thời gian dự định [1].
2.2 Nguồn gốc, phân loại, thành phần rác thải
2.2.1 Nguồn gốc
Khối lượng rác thải sinh hoạt ngày càng tăng do tác động của sự gia
tăng dân số, sự phát triển kinh tế - xã hội, sự thay đổi tính chất tiêu dùng
trong các đô thị và các vùng nông thôn. Trong đó các nguồn chủ yếu phát
sinh chất thải bao gồm:
- Từ các khu dân cư (chất thải sinh hoạt).
- Từ các trung tâm thương mại, các công sở, trường học, công trình
công cộng.
- Từ các hoạt động công nghiệp, nông nghiệp, các hoạt động xây
dựng.
- Từ các làng nghề ..v..v…[1].
Hình 2.1 Sơ đồ nguồn phát sinh chất thải
(Nguồn: Huỳnh Tuyết Hằng, TP Huế, 08/2005)
2.2.2 Phân loại rác thải
Rác thải được thải ra từ các hoạt động khác nhau được phân loại theo
các cách sau:
- Theo vị trí hình thành: người ta phân biệt ra rác thải trong nhà, rác
thành phần.
2.2.3 Thành phần của rác thải
Thành phần của rác thải rất khác nhau tùy thuộc từng địa phương, tính
chất tiêu dùng, các điều kiện kinh tế và nhiều yếu tố khác. Thông thường
thành phần của rác thải bao gồm các hợp phần sau: Chất thải thực phẩm,
giấy, catton, vải vụn, sản phẩm vườn, gỗ, thủy tinh, nhựa, bụi tro, cát đá,
gạch vụn…
Bảng 2.1 Thành phần rác thải sinh hoạt ở một số vùng năm 2000
(tính theo % trọng lượng)
Thành phần Hà Nội Việt Trì Thái
Nguyên
Đà
Nẵng
Hạ
Long
Chất hữu cơ 53,00 55,0 55,0 45,47 49,20
Cao su, nhựa 9,15 4,52 3,0 13,10 3,23
Giấy, catton, giẻ vụn 1,48 7,52 3,0 6,36 4,6
Kim loại
3,40 0,22 3,0 2,30 0,4
Thủy tinh, gốm, sứ 2,70 0,63 0,7 1,85 3,7
Đất, đá,cát, gạch vụn 30,27 32,13 35,3 - 38,87
Độ trơ 15,9 13,17 17,15 10,9 11,0
Độ ẩm 47,7 45,0 44,23 49,0 46,0
Tỷ trọng (tấn/m
3
) 0,42 0,43 0,45 0,50 0,50
(Nguồn: Báo cáo kết quả khảo sát của CEETIA, 2001)
2.4 Tác hại của rác thải
2.4.1 Tác hại của rác thải sinh hoạt đến môi trường
- Tác hại của rác thải lên sức khỏe con người thông qua ảnh hưởng của
chúng lên các thành phần môi trường. Môi trường bị ô nhiễm tất yếu sẽ tác
động đến sức khỏe con người thông qua chuỗi thức ăn.
- Tại các bãi rác, nếu không áp dụng các kỹ thuật chôn lấp và xử lý
thích hợp, cứ đổ dồn rồi san ủi, chôn lấp thông thường, không có lớp lót, lớp
phủ thì bãi rác trở thành nơi phát sinh ruồi, muỗi, là mầm mống lan truyền
dịch bệnh, chưa kể đến chất thải độc hại tại các bãi rác co nguy cơ gây các
bệnh hiểm nghèo đối với cơ thể người khi tiếp xúc, đe dọa đến sức khỏe
cộng đồng xung quanh.
- Rác thải còn tồn đọng ở các khu vực, ở các bãi rác không hợp vệ sinh là
nguyên nhân dẫn đến phát sinh các ổ dịch bệnh, là nguy cơ đe dọa đến sức
khỏe con người. Theo nghiên cứu của tổ chức y tế thế giới (WHO), tỷ lệ
người mắc bệnh ung thư ở các khu vực gần bãi chôn lấp rác thải chiếm tới
15,25 % dân số. Ngoài ra, tỷ lệ mắc bệnh ngoại khoa, bệnh viêm nhiễm ở
phụ nữ do nguồn nước ô nhiễm chiếm tới 25 % [7].
2.4.3 Rác thải sinh hoạt làm giảm mỹ quan đô thị
- Rác thải sinh hoạt nếu không được thu gom, vận chuyển đến nơi xử
lý, thu gom không hết, vận chuyển rơi vãi dọc đường, tồn tại các bãi rác nhỏ
lộ thiên… đều là những hình ảnh gây mất vệ sinh môi trường và làm ảnh
hưởng đến vẻ mỹ quan đường phố, thôn xóm.
- Một nguyên nhân nữa làm giảm mỹ quan đô thị là do ý thức của
người dân chưa cao. Tình trạng người dân đổ rác bừa bãi ra long lề đường
và mương rãnh vẫn còn rất phổ biến, đặc biệt là ở khu vực nông thôn nơi mà
công tác quản lý và thu gom vẫn chưa được tiến hành chặt chẽ.
2.5 Các phương pháp xử lý rác thải sinh hoạt
2.5.1 Khái niệm về xử lý rác thải
Xử lý rác thải là dùng các biện pháp kỹ thuật để xử lý các chất thải
nhằm làm giảm ảnh hưởng tới môi trường, tái tạo lại các sản phẩm có lợi
cho xã hội nhằm phát huy hiệu quả kinh tế, xử lý rác thải là một công tác
quyết định đến chất lượng bảo vệ môi trường. Hiện nay, ô nhiễm môi trường
+ Tìm kiếm xây dựng bãi rác mới là việc làm khó khăn.
2.5.2.2 Phương pháp đốt rác
Xử lý rác bằng phương pháp đốt là giảm tới mức tối thiểu chất thải cho
khâu xử lý cuối cùng. Nhờ thiêu đốt dung tích chất thải rắn được giảm nhiều
chỉ còn khoảng 10 % so với dung tích ban đầu, trọng lượng giảm chỉ còn
25% hoặc thấp hơn so với ban đầu. Như vậy sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho
việc thu gom và giảm nhu cầu về dung tích chứa tại chỗ, ngay tại nguồn,
đồng thời cũng dễ dàng chuyên chở ra bãi chôn lấp tập trung nếu cần. Tuy
nhiên phương pháp đốt rác sẽ gây ô nhiễm không khí cho khu vực dân cư
xung quanh, đồng thời làm mất mỹ quan đô thị, vì vậy phương pháp này chii
dùng tại các địa phương nhỏ, có mật độ dân số thấp [1].
Phương pháp này chi phí cao, so với phương pháp chôn lấp rác, chi phí
để đốt một tấn rác cao hơn gấp 10 lần. Công nghệ đốt rác thường sử dụng ở
các quốc gia phát triển vì phải có một nền kinh tế đủ mạnh để bao cấp cho
việc thu đốt rác sinh hoạt như là một dịch vụ phúc lợi xã hội toàn dân. Tuy
nhiên việc đốt rác sinh hoạt bao gồm nhiều chất thải khác nhau sinh khói độc
và dễ sinh khí dioxin nếu không giải quyết tốt việc xử lý khói. Năng lượng
phát sinh khi đốt rác có thể tận dụng cho các lò hơi, lò sưởi hoặc cho ngành
công nghệ nhiệt và phát điện. Mỗi lò đốt phải được trang bị một hệ thống xử
lý khí thải tốn kém nhằm khống chế ô nhiễm không khí do quá trình đốt gây
ra.
Hiện nay tại các nước Châu Âu có xu hướng giảm đốt rác thải vì hàng
loạt các vấn đề kinh tế cũng như môi trường cần phải giải quyết. Việc thu
đốt rác thải thường chỉ áp dụng cho việc xử lý rác thải độc hại, rác thải bệnh
viện hoặc rác thải công nghiệp và các phương pháp khác không xử lý triệt để
được [8].
2.5.2.3 Phương pháp ủ sinh học
Ủ sinh học (compost) là quá trình ổn định sinh hóa các chất hữu cơ để
hình thành các chất mùn, với thao tác sản xuất và kiểm soát một cách khoa
học tạo môi trường tối ưu đối với quá trình.
vườn hoa, các công trình xây dựng nhỏ và mục đích chính là làm giảm tối đa
mặt bằng khu vực xử lý rác.
Hình 2.2 Sơ đồ công nghệ xử lý rác bằng phương pháp ép kiện
(Nguồn: Trần Hiếu Nhuệ, Quản lý chất thải rắn đô thị, 2001)
2.5.2.5 Phương pháp xử lý rác bằng công nghệ Hydromex
Đây là một công nghệ mới lần đầu tiên được áp dụng ở Mỹ (2/1996).
Công nghệ Hydromex nhằm xử lý rác đô thị (kể cả rác độc hại) thành các
sản phẩm phục vụ ngành xây dựng, vật liệu, năng lượng và sản phẩm dùng
trong nông nghiệp hữu ích.
Bản chất của công nghệ Hydromex là nghiền nhỏ rác sau đó polime
hóa và sử dụng áp lực lớn để nén, định hình các sản phẩm.
Rác thải được thu gom (rác hỗn hợp, kể cả rác cồng kềnh) được
chuyển về nhà máy, không cần phân loại và đưa vào máy cắt nghiền nhỏ,
sau đó đưa đến các thiết bị trộn bằng băng tải. Chất thải lỏng pha trộn trong
bồn phản ứng, các phản ứng trung hòa và khử độc thực hiện trong bồn. Sau
đó chất thải lỏng từ bồn phản ứng được bơm vào các thiết bị trộn: chất lỏng
Rác
thải
Phễu
nạp rác
Băng
tải rác
Phân
loại
Máy
ép rác
Băng tải
thải vật liệu
Các khối kiện
sau khi ép
vận chuyển này, một chủng vi sinh ASC đặc biệt, được phun vào rác hữu cơ
nhằm khử mùi hôi, làm chúng phân huỷ nhanh và diệt một số tác nhân độc
hại. Sau đó, rác hữu cơ được đưa vào buồng ủ trong thời gian 7-10 ngày.
Buồng ủ có chứa một chủng vi sinh khác làm rác phân huỷ nhanh cũng như
tiếp tục khử vi khuẩn. Rác biến thành phân khi được đưa ra khỏi nhà ủ, tới
hệ thống nghiền và sàng. Phân trên sàng được bổ sung một chủng vi sinh đặc
biệt nhằm cải tạo đất và bón cho nhiều loại cây trồng, thay thế trên 50%
phân hoá học. Phân dưới sàng tiếp tục được đưa vào nhà ủ trong thời gian 7-
10 ngày.
Do lượng rác vô cơ khá lớn nên các nhà khoa học tục phát triển hệ
thống xử lý phế thải trơ và dẻo, tạo ra một dây chuyền xử lý rác khép kín.
Phế thải trơ và dẻo đi qua hệ thống sấy khô và tách lọc bụi tro gạch. Sản
phẩm thu được ở giai đoạn này là phế thải dẻo sạch. Chúng tiếp tục đi qua tổ
hợp băm cắt, phối trộn, sơ chế, gia nhiệt bảo tồn rồi qua hệ thống thiết bị
định hình áp lực cao. Thành phẩm cuối cùng là ống cống panel, cọc gia cố
nền móng, ván sàn, cốp pha...
Cứ 1 tấn rác đưa vào nhà máy, thành phẩm sẽ là 300-350 kg seraphin
(chất thải vô cơ không huỷ được) và 250-300kg phân vi sinh. Loại phân này
hiện đã được bán trên thị trường với giá 500 đồng/ kg.
Như vậy, qua các công đoạn tách lọc - tái chế, công nghệ seraphin làm
cho rác thải sinh hoạt được chế biến gần 100% trở thành phân bón hữu cơ vi
sinh, vật liệu xây dựng, vật liệu sản xuất đồ dân dụng, vật liệu cho công
nghiệp. Các sản phẩm này đã được cơ quan chức năng, trong đó có Tổng cục
Tiêu chuẩn Đo lường chất lượng kiểm định và đánh giá là hoàn toàn đảm
bảo về mặt vệ sinh và thân thiện môi trường. Với công nghệ seraphin, Việt