z
LUẬN VĂN
Điều tra thực trạng và đề xuất một số
biện pháp quản lý, xử lý rác thải sinh
hoạt trên địa bàn thị trấn Kim Bài,
huyện Thanh Oai, Hà Nội
MỤC LỤC
4.1. ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI HUYỆN THANH OAI THÀNH
PHỐ HÀ NỘI.....................................................................................................................39
4.1.1. Điều kiện tự nhiên........................................................................................................39
4.1.2. Điều kiện kinh tế - xã hội .......................................................................................43
4.1.3. Đánh giá chung........................................................................................................49
PHẦN I MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Nền kinh tế Việt Nam đang có những bước chuyển mình mạnh mẽ.
Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đang diễn ra hết sức khẩn trương,
bộ mặt xã hội đã có nhiều chuyển biến tích cực. Cho đến nay, nó không chỉ
phát triển ở các thành phố, khu đô thị lớn của nước ta mà đang mở rộng ra
các huyện lân cận.
Cùng với sự phát triển kinh tế, đời sống của người dân được cải thiện
đáng kể. Mức sống của người dân càng cao thì nhu cầu tiêu dùng các sản
phẩm xã hội càng cao, điều này đồng nghĩa với việc gia tăng lượng rác thải
sinh hoạt. Rác thải sinh hoạt phát sinh trong quá trình ăn, ở, tiêu dùng của
con người, được thải vào môi trường ngày càng nhiều, vượt quá khả năng tự
làm sạch của môi trường dẫn đến môi trường bị ô nhiễm.
Thanh Oai là một huyện nằm liền kề với quận Hà Đông, thành phố Hà
PHẦN II TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
2.1 Một số khái niệm
2.1.1 Khái niệm rác thải
Rác thải là bất kì loại vật liệu nào ở dạng rắn mà con người loại bỏ mà
không được tiếp tục sử dụng như ban đầu [3].
Rác thải là các loại rác thải không ở dạng lỏng, không hòa tan được
thải ra từ các hoạt động sinh hoạt, công nghiệp. Rác thải còn bao gồm cả bùn
cặn, phế phẩm nông nghiệp, xây dựng, khai thác mỏ…[5].
Rác thải là những vật chất ở dạng rắn do các hoạt động của con người
và động vật tạo ra. Những “sản phẩm” này thường ít được sử dụng hoặc ít có
ít, do đó nó là “sản phẩm” ngoài ý muốn của con người. Rác thải có thể ở
dạng thành phẩm, được tạo ra trong hầu hết các giai đoạn sản xuất và trong
tiêu dùng [4].
2.1.2 Rác thải sinh hoạt
Rác thải sinh hoạt là những chất thải có liên quan đến các hoạt động
của con người, nguồn tạo thành chủ yếu từ các khu dân cư, các cơ quan,
trường học, các trung tâm dịch vụ, thương mại. Rác thải sinh hoạt có thành
phần bao gồm kim loại, sành sứ, thủy tinh, gạch ngói vỡ, đất, đá, cao su,
chất dẻo, thực phẩm dư thừa hoặc quá hạn sử dụng, xương động vật, tre, gỗ,
lông gà lông vịt, vải, giấy, rơm, rạ, xác động vật, vỏ rau quả v.v…[1].
2.1.3 Quản lý chất thải
Quản lý chất thải là hoạt động phân loại, thu gom, vận chuyển, giảm
thiểu, tái sử dụng, tái chế, xử lý, tiêu hủy, thải loại chất thải [6].
2.1.4 Quản lý môi trường
Quản lý môi trường là sự tác động liên tục, có tổ chức, có phương
hướng và mục đích xác định của chủ thể ( con người, địa phương, quốc gia,
tổ chức quốc tế v.v… ) đối với một đối tượng nhất định ( môi trường sống )
nhằm khôi phục, duy trì và cải thiện tốt hơn môi trường sống của con người
trong khoảng thời gian dự định [1].
2.2 Nguồn gốc, phân loại, thành phần rác thải
Chợ, bến xe,
nhà ga
Giao thông, xây
dựng
Cơ quan trường
học
- Theo thành phần hóa học và đặc tính vật lý: người ta phân biệt theo
các thành phần vô cơ, hữu cơ, cháy được, không cháy được, kim loại, da, giẻ
vụn, cao su, chất dẻo…
- Theo mức độ nguy hại:
+ Rác thải nguy hại: bao gồm các loại hóa chất dễ gây phản ứng, độc
hại, rác thải sịnh hoạt dễ thối rữa, các chất dễ cháy, nổ hoặc các rác thải
phóng xạ, các rác thải nhiễm khuẩn, lây lan… có thể gây nguy hại tới con
người, động vật và gây nguy hại tới môi trường. Nguồn phát sinh ra rác thải
nguy hại chủ yếu từ các hoạt động y tế, công nghiệp và nông nghiệp.
+ Rác thải không nguy hại: là những loại rác thải không có chứa các
chất và hợp chất có một trong các đặc tính nguy hại trực tiếp hoặc tương tác
thành phần.
2.2.3 Thành phần của rác thải
Thành phần của rác thải rất khác nhau tùy thuộc từng địa phương, tính
chất tiêu dùng, các điều kiện kinh tế và nhiều yếu tố khác. Thông thường
thành phần của rác thải bao gồm các hợp phần sau: Chất thải thực phẩm,
giấy, catton, vải vụn, sản phẩm vườn, gỗ, thủy tinh, nhựa, bụi tro, cát đá,
gạch vụn…
Bảng 2.1 Thành phần rác thải sinh hoạt ở một số vùng năm 2000
(tính theo % trọng lượng)
Thành phần Hà Nội Việt Trì Thái
Nguyên
Đà
Nẵng
gây mất vệ sinh và ô nhiễm các thủy vực. Khi các thủy vực bị ô nhiễm hoặc
chứa nhiều rác thì có nguy cơ ảnh hưởng đến các loài thủy sinh vật, do hàm
lượng oxy hòa tan trong nước giảm, khả năng nhận ánh sáng của các tầng
nước cũng giảm, dẫn đến ảnh hưởng tới khả năng quang hợp của thực vật
thủy sinh và làm giảm sinh khối của các thủy vực.
+ Ở các bãi chôn lấp rác chất ô nhiễm trong nước rác là tác nhân gây ô
nhiễm nguồn nước ngầm trong khu vực và các nguồn nước ao hồ, sông suối
lân cận. Tại các bãi rác, nếu không tạo được lớp phủ bảo đảm hạn chế tối đa
nước mưa thấm qua thì cũng có thể gây ô nhiễm nguồn nước mặt.
- Môi trường không khí
+ Tại các trạm/ bãi trung chuyển rác xen kẽ khu vực dân cư là nguồn
gây ô nhiễm môi trường không khí do mùi hôi từ rác, bụi cuốn lên khi xúc
rác, bụi khói, tiếng ồn và các khí thải độc hại từ các xe thu gom, vận chuyển
rác.
+ Tại các bãi chôn lấp chất thải rắn vấn đề ảnh hưởng đến môi trường
khí là mùi hôi thối, mùi khí metan, các khí độc hại từ các chất thải nguy hại.
2.4.2 Tác hại của rác thải sinh hoạt đối với sức khỏe con người
- Tác hại của rác thải lên sức khỏe con người thông qua ảnh hưởng của
chúng lên các thành phần môi trường. Môi trường bị ô nhiễm tất yếu sẽ tác
động đến sức khỏe con người thông qua chuỗi thức ăn.
- Tại các bãi rác, nếu không áp dụng các kỹ thuật chôn lấp và xử lý
thích hợp, cứ đổ dồn rồi san ủi, chôn lấp thông thường, không có lớp lót, lớp
phủ thì bãi rác trở thành nơi phát sinh ruồi, muỗi, là mầm mống lan truyền
dịch bệnh, chưa kể đến chất thải độc hại tại các bãi rác co nguy cơ gây các
bệnh hiểm nghèo đối với cơ thể người khi tiếp xúc, đe dọa đến sức khỏe
cộng đồng xung quanh.
- Rác thải còn tồn đọng ở các khu vực, ở các bãi rác không hợp vệ sinh là
nguyên nhân dẫn đến phát sinh các ổ dịch bệnh, là nguy cơ đe dọa đến sức
khỏe con người. Theo nghiên cứu của tổ chức y tế thế giới (WHO), tỷ lệ
người mắc bệnh ung thư ở các khu vực gần bãi chôn lấp rác thải chiếm tới
Hiện nay việc chôn lấp rác thải sinh hoạt được sử dụng chủ yếu ở các
nước đang phát triển nhưng phải tuân thủ các quy định về bảo vệ môi trường
một cách nghiêm ngặt. Việc chôn lấp rác có xu hướng giảm dần, tiến tới
chấm dứt ở các nước đang phát triển.
Các bãi chôn lấp rác phải cách xa khu dân cư, không gần nguồn nước
ngầm và nguồn nước mặt. Đáy của bãi rác nằm trên tầng đất sét hoặc được
phủ các lớp chống thấm bằng màn địa chất. Ở các bãi chôn lấp rác cần phải
thiết kế khu thu gom và xử lý nước rác trước khi thải vào môi trường. Việc
thu khí ga để biến đổi thành năng lượng là một cách để tận dụng từ rác thải
rất hữu ích [8].
- Ưu điểm của phương pháp:
+ Công nghệ đơn giản, rẻ tiền và phù hợp với nhiều loại rác thải.
+ Chi phí vận hành bãi rác thấp.
- Nhược điểm của phương pháp:
+ Chiếm diện tích đất tương đối lớn.
+ Không được sự đồng tình của người dân khu vực xung quanh.
+ Nguy cơ gây ô nhiễm môi trường (đất, nước, không khí) cao.
+ Tìm kiếm xây dựng bãi rác mới là việc làm khó khăn.
2.5.2.2 Phương pháp đốt rác
Xử lý rác bằng phương pháp đốt là giảm tới mức tối thiểu chất thải cho
khâu xử lý cuối cùng. Nhờ thiêu đốt dung tích chất thải rắn được giảm nhiều
chỉ còn khoảng 10 % so với dung tích ban đầu, trọng lượng giảm chỉ còn
25% hoặc thấp hơn so với ban đầu. Như vậy sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho
việc thu gom và giảm nhu cầu về dung tích chứa tại chỗ, ngay tại nguồn,
đồng thời cũng dễ dàng chuyên chở ra bãi chôn lấp tập trung nếu cần. Tuy
nhiên phương pháp đốt rác sẽ gây ô nhiễm không khí cho khu vực dân cư
xung quanh, đồng thời làm mất mỹ quan đô thị, vì vậy phương pháp này chii
dùng tại các địa phương nhỏ, có mật độ dân số thấp [1].
Phương pháp này chi phí cao, so với phương pháp chôn lấp rác, chi phí
để đốt một tấn rác cao hơn gấp 10 lần. Công nghệ đốt rác thường sử dụng ở
, nước và các hợp chất hữu cơ bền vững
như: lignin, xenlulo, sợi…[1].
Công nghệ ủ có thể là ủ đống tĩnh thoáng khí cưỡng bức, ủ luống có
đảo định kỳ hoặc vừa thổi vừa đảo. Xử lý rác làm phân hữu cơ là biện pháp
rất có hiệu quả, sản phẩm phân hủy có thể kết hợp tốt với phân người và
phân gia súc cho ta chất hữu cơ có hàm lượng dinh dưỡng cao, tạo độ tơi
xốp, rất tốt cho việc cải tạo đất
2.5.2.4 Phương pháp xử lý rác bằng công nghệ ép kiện
Phương pháp ép kiện được thực hiện trên cơ sở toàn bộ rác thải tập
trung thu gom vào nhà máy. Rác được phân loại bằng phương pháp thủ công
trên băng tải, các chất trơ và các chất có thể tận dụng được như: kim loại,
nilon, giấy, thủy tinh, nhựa… được thu hồi để tái chế. Những chất còn lại sẽ
được băng tải chuyền qua hệ thống ép nén rác bằng thủy lực với mục đích
làm giảm tối đa thể tích khối rác và tạo thành cac kiện với tỷ số nén rất cao.
Các kiện rác đã nén ép này được sử dụng vào việc đắp các bờ chắn
hoặc san lấp các vùng đất trũng sau khi được phủ lên các lớp đất cát. Trên
diện tích này có thể sử dụng làm mặt bằng các công trình như: công viên,
vườn hoa, các công trình xây dựng nhỏ và mục đích chính là làm giảm tối đa
mặt bằng khu vực xử lý rác.
Hình 2.2 Sơ đồ công nghệ xử lý rác bằng phương pháp ép kiện
(Nguồn: Trần Hiếu Nhuệ, Quản lý chất thải rắn đô thị, 2001)
2.5.2.5 Phương pháp xử lý rác bằng công nghệ Hydromex
Đây là một công nghệ mới lần đầu tiên được áp dụng ở Mỹ (2/1996).
Công nghệ Hydromex nhằm xử lý rác đô thị (kể cả rác độc hại) thành các
sản phẩm phục vụ ngành xây dựng, vật liệu, năng lượng và sản phẩm dùng
trong nông nghiệp hữu ích.
Bản chất của công nghệ Hydromex là nghiền nhỏ rác sau đó polime
hóa và sử dụng áp lực lớn để nén, định hình các sản phẩm.
Rác thải được thu gom (rác hỗn hợp, kể cả rác cồng kềnh) được
chuyển về nhà máy, không cần phân loại và đưa vào máy cắt nghiền nhỏ,
đến, băng tải sẽ chuyển rác tới máy xé bông để phá vỡ mọi loại bao gói. Rác
tiếp tục đi qua hệ thống tuyển từ (hút sắt thép và các kim loại khác) rồi lọt
xuống sàng lồng.
CTR chưa
phân loại
Kiểm tra bằng mắt
Cắt, xé,nghiền tơi nhỏ
Làm ẩm
Trộn đều
Ép hay đùn ra
Sản phẩm mới
Chất thải lỏng
hỗn hợp
Thành phần
polyme hóa
Sàng lồng có nhiệm vụ tách chất thải mềm, dễ phân huỷ, chuyển rác vô
cơ (kể cả bao nhựa) tới máy vò và rác hữu cơ tới máy cắt. Trong quá trình
vận chuyển này, một chủng vi sinh ASC đặc biệt, được phun vào rác hữu cơ
nhằm khử mùi hôi, làm chúng phân huỷ nhanh và diệt một số tác nhân độc
hại. Sau đó, rác hữu cơ được đưa vào buồng ủ trong thời gian 7-10 ngày.
Buồng ủ có chứa một chủng vi sinh khác làm rác phân huỷ nhanh cũng như
tiếp tục khử vi khuẩn. Rác biến thành phân khi được đưa ra khỏi nhà ủ, tới
hệ thống nghiền và sàng. Phân trên sàng được bổ sung một chủng vi sinh đặc
biệt nhằm cải tạo đất và bón cho nhiều loại cây trồng, thay thế trên 50%
phân hoá học. Phân dưới sàng tiếp tục được đưa vào nhà ủ trong thời gian 7-
10 ngày.
Do lượng rác vô cơ khá lớn nên các nhà khoa học tục phát triển hệ
thống xử lý phế thải trơ và dẻo, tạo ra một dây chuyền xử lý rác khép kín.
Phế thải trơ và dẻo đi qua hệ thống sấy khô và tách lọc bụi tro gạch. Sản
phẩm thu được ở giai đoạn này là phế thải dẻo sạch. Chúng tiếp tục đi qua tổ
+ Các số liệu thống kê gần đây về tổng lượng chất thải ở Anh cho thấy
hàng năm Liên hiệp Anh tạo ra 307 triệu tấn chất thải, trong đó ước tính 46,6
triệu tấn chất thải sinh học và chất thải dạng tương tự phát sinh ở Anh, 60%
số này được chôn lấp, 34% được tái chế và 6% được thiêu đốt. Chỉ tính
riêng rác thải thực phẩm, theo dự án khảo sát được thực hiện từ tháng
10/2006-3/2008, chất thải thực phẩm được thải ra từ hộ gia đình nhiều hơn
tới hàng tấn so với chất thải bao bì, chiếm 19% chất thải đô thị. Tổng số
hàng năm các hộ gia đình ở Anh phát sinh 6,7 triệu tấn chất thải thực phẩm,
chỉ riêng ở England là 5,5 triệu tấn, trong đó 4,1 triệu tấn là thực phẩm vẫn
có thể sử dụng được. Trung bình mỗi hộ gia đình thải ra 276 kg chất thải
thực phẩm/năm hay 5,3 kg/tuần, trong đó 3,2 kg vẫn có thể sử dụng được
[15].
+ Theo số liệu thống kê mới đây của Bộ Môi trường Nhật Bản, hằng
năm nước này có khoảng 450 triệu tấn rác thải, trong đó phần lớn là rác công
nghiệp (397 triệu tấn). Trong tổng số rác thải trên, chỉ có khoảng 5% rác thải
phải đưa tới bãi chôn lấp, trên 36% được đưa đến các nhà máy để tái chế. Số
còn lại được xử lý bằng cách đốt hoặc chôn tại các nhà máy xử lý rác. Với
rác thải sinh hoạt của các gia đình, khoảng 70% được tái chế thành phân bón
hữu cơ, góp phần giảm bớt nhu cầu sản xuất và nhập khẩu phân bón [12].
+ Mỗi ngày Singapore thải ra khoảng 16.000 tấn rác. Rác ở Singapore
được phân loại tại nguồn (nghĩa là nhà dân, nhà máy, xí nghiệp...). Nhờ vậy
56% số rác thải ra mỗi ngày (khoảng 9.000 tấn) quay lại các nhà máy để tái
chế. Khoảng 41% (7.000 tấn) được đưa vào bốn nhà máy thiêu rác để đốt
thành tro. Cuối cùng, mỗi ngày chừng 1.500 tấn tro rác cùng với 500 tấn rác
không thể đốt được sẽ lên sà lan trực chỉ Semakau Landfill. Như vậy về khối
lượng, từ 16.000 tấn rác mỗi ngày, sau khi đốt rác Singapore chỉ cần bãi đổ
rác cho hơn 10% lượng rác đó, xấp xỉ 2.000 tấn. Trong khi đó, mỗi ngày
TP.HCM thải ra khoảng 8.000 tấn rác (chỉ bằng 1/2 Singapore) nhưng lại
phải tìm chỗ chôn lấp cho ngần ấy số rác (gấp bốn lần Singapore).Chưa hết,
nhiệt năng sinh ra trong khi đốt rác được dùng để chạy máy phát điện đủ
Tỷ lệ phát
sinh
RTSH
(kg/người
/ngày)
Trung
Quốc
2000 1267,
4
856 130320 1,70
1
78193
3
1,02
3
Hồng
Kông
2003 6,8 2380
0
3440
4
1,39 2700
4
1,09
Ấn Độ 2002 1052,
0
471 - 0,2-0,5
5
- -
Indone
0,97 - -
Thái
Lan
2002 62,8 5430 14317
11
0,62 - -
Thổ
Nhĩ
Kỳ
2001 68,5 2146 25100
12
1,00 - 0,57
(Nguồn: Waste management and recycling in Asia, IGES, 2005)
Thành phần rác ở các nước trên thế giới là khác nhau tùy thuộc vào thu
nhập và mức sống của mỗi nước. Đối với các nước có nền công nghiệp phát
triển thì thành phần các chất vô cơ trong rác thải phát sinh chiếm đa số và
lượng rác này sẽ là nguyên liệu cho ngành công nghiệp tái chế. Hàng năm
toàn nước Mỹ phát sinh một khối lượng rác khổng lồ lên tới 10 tỷ tấn. Trong
đó, rác thải từ quá trình khai thác dầu mỏ và khí chiếm 75%; rác thải từ quá
trình sản xuất nông nghiệp chiếm 13%; rác thải từ hoạt động công nghiệp
chiếm 9,5%; rác thải từ cặn cống thoát nước chiếm 1%; rác thải sinh hoạt
chiếm 1,5% [14].
Bảng 2.2 Thành phần và tỷ lệ rác thải ở Mỹ
Thành phần Tỷ lệ % các loại rác theo các nguồn khác nhau
Tại bãi rác Colombia Theo EPA Trung bình cả nước
Giấy 41 33 35 - 47
Hữu cơ 21 17 18 - 29
Nhựa 16 12 11 - 21
Kim loại 6 6 4 - 8
Thủy tinh 3 6 2 - 6
là một trong những phương pháp mà những nhà quản lý tại Đức đã áp dụng.
Rác được phân loại triệt để là điều kiện để quá trình xử lý và tái chế rác trở
nên thuận lợi và dễ dàng hơn rất nhiều. Từ đó, khái niệm về rác thải dần
được thay thế bằng nguồn tài sản tiềm năng, mang lại lợi nhuận đáng kể với
những ai biết đầu tư vào việc cải tiến công nghệ [16].
Hình 2.4 Sơ đồ hệ thống hoạt động tái chế ở Đức:
chất thải khác
rác thải bao bì
Đầu tư
Đưa ra giá thu gom và
tái chế
+ Tại Nhật, chuyển từ hệ thống quản lý chất thải truyền thống với dòng
nguyên liệu xử lý theo một hướng sang xã hội có chu trình xử lý nguyên liệu
theo mô hình 3R (reduce, reuse, recycle).Về thu gom chất thải rắn sinh hoạt,
các hộ gia đình được yêu cầu phân chia rác thành 3 loại: Rác hữu cơ dễ phân
hủy, rác khó tái chế nhưng có thể cháy và rác có thể tái chế. Rác hữu cơ
được thu gom hàng ngày để đưa đến nhà máy sản xuất phân compost; loại
rác khó tái chế, hoặc hiệu quả tái chế không cao, nhưng cháy được sẽ đưa
đến nhà máy đốt rác thu hồi năng lượng; rác có thể tái chế thì được đưa các
nhà máy tái chế. Các loại rác này được yêu cầu đựng riêng trong những túi
có màu sắc khác nhau và các hộ gia đình phải tự mang ra điểm tập kết rác
của cụm dân cư vào giờ quy định, dưới sự giám sát của đại diện cụm dân cư.
Công ty vệ sinh thành phố sẽ cho ô tô đến đem các túi rác đó đi. Nếu gia
đình nào không phân loại rác, để lẫn lộn vào một túi thì ban giám sát sẽ báo
lại với Công ty và ngay hôm sau gia đình đó sẽ bị công ty vệ sinh gửi giấy
Người tiêu dùng
Chính quyền địa
phương
Đốt rác, chôn lấp
hiện một cách toàn diện là công cụ hữu hiệu nhất để đảm bảo cho môi
trường sạch đẹp của Singapore. Thời gian đầu Chính phủ tổ chức giáo dục ý
thức để người dân quen dần sau đó phạt nhẹ nhắc nhở và hiện nay các biện
pháp được áp dụng mạnh mẽ là là phạt tiền, phạt tù, bắt bồi thường và đối
với những vi phạm nhỏ thì phạt cải tạo lao động bắt buộc. Ở Singapore vứt
rác, hút thuốc không đúng nơi quy định bi phạt tiền từ 500 đô la Sing trở
lên…[13].
Tại các nước đang phát triển thì công tác thu gom rác thải còn nhiều
vấn đề bất cập. Việc bố trí mạng lưới thu gom, vận chuyển rác thải chưa hợp
lý, trang thiết bị còn thiếu và thô sơ dẫn đến chi phí thu gom tăng mà hiệu
quả lại thấp. Sự tham gia của các đơn vị tư nhân còn ít và hạn chế. So với
các nước phát triển thì tỷ lệ thu gom rác ở các nước đang phát triển như Việt
Nam và khu vực Nam Mỹ còn thấp hơn nhiều.
Bảng 2.3 Hoạt động thu gom rác tại một số thành phố ở Châu Á
Thành phố Dân số
(triệu người)
Số trạm trung
chuyển
Số chuyến vận
chuyển trong
ngày
Bombay 8,5 2 2
Bangkok 5,6 - 1,8
Manila 7,6 65 2
Jakarta 7,9 776 3
Scoul 10,3 630 3,4
(Nguồn: Trung tâm quốc gia về phát triển khu vực của Nhật Bản, 2004)
Đối với các nước Châu Á chôn lấp chất thải vẫn là phương pháp phổ
biến để xử lý chất thải vì chi phí rẻ. Các bãi chôn lấp chất thải được chia
thành 3 loại: bãi lộ thiên, bãi chôn lấp bán vệ sinh (chỉ đổ đất phủ) và bãi