Đánh giá hiện trạng và đề xuất giải pháp quản lý rác thải sinh hoạt trên địa bàn thị trấn hương khê huyện hương khê tỉnh hà tĩnh - Pdf 13

1
Phần 1
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Phát triển bền vững là phát triển đáp ứng được nhu cầu của thế hệ hiện
tại mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu đó của thế hệ tương
lai trên cơ sở kết hợp chặt chẽ, hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế, đảm bảo tiến
bộ xã hội và bảo vệ môi trường (Luật BVMT, 2005) [7].
Phát triển bền vững ngày càng trở thành trung tâm của sự phát triển
trong mọi lĩnh vực khi xã hội bước vào thế kỉ 21. Vấn đề ô nhiễm môi trường
ngày càng trở thành vấn đề đáng lưu tâm song song với sự đi lên nhanh chóng
của nền kinh tế. Nền kinh tế Việt Nam đã có những chuyển biến mạnh mẽ.
Quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa diễn ra hết sức khẩn trương, bộ mặt
xã hội có những chuyển biến tích cực. Cùng với sự phát triển trên quá trình đô
thị hóa ở Việt Nam cũng đang phát triển không ngừng cả về tốc độ lẫn qui
mô, về số lượng lẫn chất lượng. Cho đến nay, nó không chỉ phát triển ở các
thành phố, khu đô thị lớn của nước ta mà còn đang mở rộng ra các vùng lân
cận. Kinh tế xã hội phát triển, đời sống của người dân được cải thiện đáng kể,
mức sống của người dân ngày càng được nâng cao thì nhu cầu tiêu dùng, sử
dụng các loại dịch vụ ngày càng tăng, cùng với sự gia tăng dân số điều này
đồng nghĩa với việc lượng rác thải phát sinh ngày càng nhiều và trên diện
rộng. Đó là nguyên nhân chính gây ô nhiễm môi trường đất, nước, không khí
ở các địa phương. Làm thể nào để công tác quản lý rác thải có một lối thoát
riêng phù hợp với tình hình Việt Nam nói chung và các địa phương nói riêng.
Phát triển kinh tế cần đi đôi với bảo vệ môi trường nhằm hướng tới phát triển
bền vững. Câu hỏi đặt ra yêu cầu có sự hợp sức của tất cả các ban ngành, địa
phương, nhân dân trong toàn quốc cùng với sự giúp đỡ của các tổ chức nước
ngoài để giải quyết vấn đề mang tính toàn cầu này.
Người ta thường nghĩ “rác là thứ bỏ đi” và tìm cách loại bỏ nó. Điều
này là rất khó khăn khi mà lượng rác thải sinh hoạt phát sinh ngày càng nhiều.
Quản lý rác thải là một trong những khâu tồn tại nhiều vấn đề nhất hiện nay,

nghiên cứu khoa học.
+ Vận dụng những kiến thức đã học vào thực tế.
+ Nâng cao kiến thức, kĩ năng và rút ra những kinh nghiệm thực tế
phục vụ cho công tác sau này.
- Ý nghĩa thực tiễn:
+ Đánh giá được điều kiện tự nhiên kinh tế - xã hội, hiện trạng rác thải
sinh hoạt và công tác quản lý chúng, đánh giá nhận thức của cộng đồng .
+ Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý
rác thải sinh hoạt trên địa bàn thị trấn Hương Khê.
3
Phần 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. Cơ sở khoa học của đề tài
2.1.1. Các khái niệm liên quan
2.1.1.1. Khái niệm về chất thải
- Chất thải là vật chất ở thể rắn, lỏng, khí được thải ra từ sản xuất, kinh
doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc các hoạt động khác (Luật BVMT, 2005) [7].
- Chất thải là sản phẩm được sinh ra trong quá trình sinh hoạt của con
người, sản xuất công nghiệp, nông nghiệp, thương mại, dịch vụ, giao thông,
sinh hoạt gia đình, trường học, các khu dân cư, nhà hàng, khách sạn. Ngoài ra,
còn phát sinh trong giao thông vận tải như khí thải của các phương tiện giao
thông. Chất thải là kim loại, hóa chất từ các vật liệu khác (Nguyễn Xuân
Nguyên, 2004) [8].
2.1.1.2. Khái niệm về chất thải rắn
Theo điều 3 Nghị định 59/2007/NĐ - CP ngày 09/04/2007 của chính
phủ về quản lý chất thải rắn quy định:
+ Chất thải rắn: là chất thải ở thể rắn được thải ra từ quá trình sản xuất,
kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc các hoạt động khác.
+ Chất thải rắn sinh hoạt: là CTR phát sinh trong sinh hoạt cá nhân, hộ
gia đình, nơi công cộng.

BVMT, 2005) [7].
2.1.1.4. Khái niệm về rác thải sinh hoạt
+ Rác: là thuật ngữ dùng để chỉ CTR hình dạng tương đối cố định, bị
thải bỏ từ các hoạt động của con người (Trần Hiếu Nhuệ và cs, 2001) [15].
. + Rác thải sinh hoạt hay CTR sinh hoạt là một bộ phận của CTR, được
hiểu là các CTR phát sinh từ các hoạt động sinh hoạt hàng ngày của con
người từ các khu dân cư, cơ quan, trường học …Vì vậy, rác thải sinh hoạt cần
được phân loại và có biện pháp tái chế, tái sử dụng, xử lý phù hợp để thu hồi
năng lượng và bảo vệ môi trường (Nguyễn Thế Chinh, 2003) [11].
+ Quản lý rác thải sinh hoạt: Là hoạt động quy hoạch quản lý, đầu tư,
xây dựng cơ sở quản lý rác thải sinh hoạt. Thu gom, lưu giữ vận chuyển, tái
sử dụng, tái chế và xử lý rác thải sinh hoạt để giảm ô nhiễm môi trường.
5
2.1.2. Nguồn phát sinh và phân loại chất thải rắn
2.1.2.1. Nguồn phát sinh
Hộ dân, khu dân cư
Chất thải rắn
Chợ
Cơ quan, trường học
Bệnh viện, cơ sở y tế
Thương mại, dịch vụ
Các nguồn khác (vui chơi, rác quét đường, xử lý chất thải,…)
Công nghiệp
Nông nghiệp
Hình 2.1. Sơ đồ nguồn phát sinh chất thải rắn
+ Hộ gia đình (nhà ở riêng biệt, khu tập thể, chung cư…): Thực phẩm
thừa, carton, nhựa, vải, da, gỗ vụn, thủy tinh, nilon, vỏ lon các loại, các kim
loại khác, tro, lá cành cây, các chất thải đặc biệt(đồ điện hỏng, pin, acqui, dầu
nhớt, lốp xe…) và các chất độc hại sử dụng trong gia đình.
+ Thương mại (kho, quán ăn, chợ, văn phòng, khách sạn, nhà in, trạm

nông sản,…
- Chất thải y tế: Chất thải từ các bệnh viện, trạm y tế như: dây truyền
dịch, dây truyền máu, bình đựng dịch truyền, găng tay cao su,
- Chất thải xây dựng: Là các phế thải như đất, đá gạch ngói,… Các
chất thải từ các hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật như trạm xử lý nước thiên
nhiên, nước thải sinh hoạt, bùn từ các cống thoát nước,
+ Phân loại CTR theo trạng thái chất thải:
- Chất thải trạng thái rắn: Bao gồm chất thải sinh hoạt, chất thải nhà
máy chế tạo, xây dựng (kim loại, da, nhựa, thủy tinh,…).
- Chất thải lỏng: Phân bùn bể phốt, nước thải từ nhà máy lọc dầu, nước
thải từ nhà máy giấy và vệ sinh công nghiệp,…
- Chất thải trạng thái khí: bao gồm khí thải các động cơ đốt trong, máy
động lực, tàu hỏa, nhà máy nhiệt điện, sản xuất vật liệu,…
+ Phân loại theo tính chất nguy hại:
- Vật phẩm nguy hại sinh ra tại các bệnh viện, cơ sở y tế trong quá trình
điều trị người bệnh (các loại vật phẩm gây bệnh thông thường được xử lý ở
chế độ nhiệt cao, từ 1150
0
C trở lên, cá biệt có loại vsv gây bệnh bị tiêu diệt
khi nhiệt độ xử lý lên tới 3000
0
C, )
- Kim loại nặng: Các chất thải sinh ra trong quá trình sản xuất công nghiệp
có thành phần As, Pb, Hg, Cd,… là mầm móng gây bệnh ung thư cho con người.
7
- Các chất phóng xạ, các phế thải có phóng xạ sinh ra trong quá trình xử lý
giống cây trồng, bảo quản, khai khoáng,…( Nguyễn Xuân Nguyên, 2004) [8].
* Phân loại rác thải sinh hoạt
- Rác hữu cơ: Thực phẩm thừa, các sản phẩm làm từ giấy, sợi, gỗ, tre,
mây,chất dẻo, da và cao su,…

được phân loại tại nguồn (từ nhà dân, nhà máy, xí nghiệp ). Nhờ vậy 56% số
rác thải ra mỗi ngày (khoảng 9.000 tấn) quay lại các nhà máy để tái chế
khoảng 41% (7.000 tấn) được đưa vào nhà thiêu rác để đốt thành tro. Như vậy
về khối lượng, từ 16.000 tấn rác mỗi ngày, sau khi đốt rác Singapore chỉ cần
bãi đổ rác cho hơn 10% lượng rác đó, xấp xỉ 2.000 tấn. Trong khi đó, mỗi
ngày ở TP.Hồ Chí Minh thải ra khoảng 8.000 tấn rác (chỉ bằng 1/2 Singapore)
nhưng lại phải tìm chỗ chôn lấp cho ngần ấy số rác (gấp 4 lần Singapore).
Chưa hết, nhiệt năng sinh ra trong khi đốt rác được dùng để chạy máy phát
điện đủ cung cấp 3% tổng nhu cầu điện của Singapore.
+ Ở Nga, mỗi người bình quân thải ra môi trường 300 kg/người/năm
rác thải. Tương đương một năm nước này thải ra môi trường khoảng 50 triệu
tấn rác, riêng thủ đô Matxcova là 5 triệu tấn/năm.
+ Theo Ngân hàng Thế giới, các đô thị của Châu Á mỗi ngày phát sinh
khoảng 760.000 tấn chất thải rắn đô thị. Đến năm 2025, dự tính con số này sẽ
tăng tới 1,8 triệu tấn/ngày.
Thành phần rác ở các nước trên thế giới là khác nhau tùy thuộc vào thu
nhập và mức sống của mỗi nước. Đối với các nước có nền công nghiệp phát
triển thì thành phần các chất vô cơ trong chất thải phát sinh chiếm đa số và
lượng rác này sẽ là nguyên liệu cho ngành công nghiệp tái chế. Hàng năm
toàn nước Mỹ phát sinh một khối lượng rác khổng lồ lên tới 10 tỷ tấn. Trong
đó, rác thải từ quá trình khai thác dầu mỏ và khí chiếm 75%; rác thải từ quá
trình sản xuất nông nghiệp chiếm 13%; rác thải từ hoạt động công nghiệp
chiếm 9,5%; rác thải từ cặn cống thoát nước chiếm 1%; rác thải sinh hoạt
chiếm 1,5% [18].
Vấn đề quản lý, xử lý rác thải ở các nước trên thế giới đang ngày càng
được quan tâm hơn. Đặc biệt tại các nước phát triển, công việc này được tiến
hành một cách rất chặt chẽ, từ ý thức thải bỏ rác thải của người dân, quá trình
phân loại tại nguồn, thu gom, tập kết rác thải cho tới các trang thiết bị thu
gom, vận chuyển theo từng loại rác. Các quy định đối với việc thu gom, vận
chuyển, xử lý từng loại rác thải được quy định rất chặt chẽ và rõ ràng với đầy

cho vào máy ép nhỏ rồi đem chôn sâu trong lòng đất. Cách xử lý rác thải như
vậy vừa tận dụng được rác vừa chống được ô nhiễm môi trường. Túi đựng rác
là do các gia đình bỏ tiền ra mua ở cửa hàng. Việc thu gom rác ở Nhật Bản
10
không giống như ở Việt Nam. Rác thải từ hộ gia đình thuộc trách nhiệm quản
lý của nhà nước, còn từ các công ty, nhà máy cho tư nhân đấu thầu hoặc các
công ty do chính quyền địa phương chỉ định. Các doanh nghiệp, cơ sở sản
xuất phải tự chịu trách nhiệm về lượng rác thải công nghiệp của họ và điều
này được quy định bằng các điều luật về Bảo vệ môi trường.
+ Tại Singapore, nhiều năm qua đã hình thành một cơ chế thu gom rác
rất hiệu quả. Việc thu gom rác được tổ chức đấu thầu công khai cho các nhà
thầu. Công ty trúng thầu sẽ được thực hiện công việc thu gom rác trên một địa
bàn cụ thể trong thời hạn 7 năm. Singapore có 9 khu vực thu gom rác. Rác
thải sinh hoạt được đưa về một khu vực bãi chứa lớn, rác thải tái chế được thu
gom và xử lý theo trương trình Tái chế Quốc gia. Có thể nói Sigapore được
xem là một quốc gia có môi trường xanh - sạch - đẹp của thế giới. Chính phủ
rất coi trọng việc bảo vệ môi trường. Cụ thể là pháp luật về môi trường được
thực hiện một cách toàn diện là công cụ hữu hiệu nhất để đảm bảo môi trường
sạch đẹp của Singapore.
Tại các nước đang phát triển thì công tác thu gom rác thải còn nhiều
vấn đề bất cập. Việc bố trí mạng lưới thu gom, vận chuyển rs thải chưa hợp
lý, trang thiết bị còn thiếu và thô sơ dẫn đến chi phí thu gom tăng mà hiệu quả
lại thấp. Sự tham gia của các đơn vị tư nhân còn ít và hạn chế. So với các
nước phát triển thì tỷ lệ thu gom rác ở các nước đang phát triển như Việt Nam
và khu vực Nam Mỹ còn thấp hơn nhiều.
Đối với các nước Châu Á chôn lấp chất thải vẫn là phương pháp phổ
biến để xử lý chất thải vì chi phí rẻ. Các bãi chôn lấp chất thải được chia
thành 3 loại: Bãi lộ thiên, bãi chôn lấp bán vệ sinh (chỉ đổ đất phủ) và bãi
chôn lấp hợp vệ sinh. Chất lượng của các bãi chôn lấp liên quan mật thiết với
GDP. Các bãi chôn lấp hợp vệ sinh thường thấy ở các nước có thu nhập cao,

Philipin 85 - 10 5
Srilaka 90 - - 10
Thái Lan 80 5 10 5
(Nguồn: Viện khoa học thủy lợi, 2006)
2.2.2. Tình hình quản lý và xử lý rác thải ở Việt Nam.
2.2.2.1. Tình hình quản lý rác thải ở Việt Nam
Theo số liệu điều tra năm 2008 của Tổng cục Môi trường chất thải sinh
hoạt trong cả nước phát sinh khoảng 17 triệu tấn, trong đó rác thải sinh hoạt tại
đô thị khoảng 6,5 triệu tấn (Bộ Tài Nguyên và Môi trường, 2009). Khoảng hơn
80% số này (tương đương 12,8 triệu tấn/năm) là chất thải phát sinh từ các hộ gia
đình, các nhà hàng, khu chợ và khu kinh doanh. Tổng lượng chất thải phát sinh
từ các cơ sở công nghiệp mỗi năm khoảng 2,6 triệu tấn (chiếm 17%), do vậy
công nghiệp có thể coi là nguồn phát sinh chất thải lớn thứ hai. Khoảng 160.000
tấn/năm (chiếm 1%) trong tổng lượng chất thải rắn phát sinh ở Việt Nam được
coi là chất thải nguy hại, trong đó bao gồm cả chất thải y tế nguy hại, các chất dễ
cháy và chất độc hại phát sinh từ các quá trình sản xuất công nghiệp, và các loại
thuốc trừ sâu, thùng chứa thuốc trừ sâu phục vụ các hoạt động nông nghiệp. Mặc
dù là phát sinh với lượng ít hơn rất nhiều, song nếu không được quản lý tốt thì
12
với các tính chất độc hại, khả năng gây ung thư, tính nguy hại đối với sức khoẻ
và các tính chất nguy hại khác, chất thải nguy hại đang là mối hiểm họa lớn đối
với sức khoẻ người dân và môi trường [3].
Chất thải sinh hoạt chủ yếu tập trung ở các vùng đô thị. Các khu đô thị
tuy có dân số chỉ chiếm 24% dân số của cả nước nhưng lại phát sinh đến hơn
6 triệu tấn chất thải sinh hoạt mỗi năm (tương ứng với 50% tổng lượng chất
thải sinh hoạt của cả nước) do có lối sống khá giả hơn, có nhiều các hoạt động
thương mại hơn và đô thị hoá cũng diễn ra ở cường độ cao hơn. Chất thải sinh
hoạt ở các vùng đô thị thường có tỷ lệ các thành phần nguy hại lớn hơn như
các loại pin, các loại dung môi sử dụng trong gia đình và các loại chất thải
không phân huỷ như nhựa, kim loại và thuỷ tinh. Ngược lại, lượng phát sinh

nhiều ngành công nghiệp có tiềm năng phát sinh nhiều chất thải nguy hại; và
các cơ sở y tế sẽ tiếp tục được hiện đại hoá. Những biến động này sẽ làm
lượng phát sinh chất thải sinh hoạt tăng thêm 60%; lượng phát sinh chất thải
công nghiệp sẽ tăng cỡ 50% và lượng phát sinh chất thải nguy hại sẽ tăng hơn
3 lần, mà chủ yếu là từ các nguồn công nghiệp. Nếu tính đến chi phí cao cho
các hoạt động thu gom và tiêu huỷ chất thải một cách an toàn thì việc triển
khai các sáng kiến nhằm giảm thiểu phát sinh chất thải như các chương trình
nâng cao nhận thức cộng đồng, sản xuất sạch hơn và áp dụng các biện pháp
khuyến khích về kinh tế dựa trên nguyên tắc “Người gây ô nhiễm phải trả
tiền”, chúng ta sẽ tiết kiệm đáng kể nguồn kinh phí. Ví dụ như, ước tính mỗi
năm sẽ tiết kiệm được 200 tỷ đồng chi cho hoạt động xử lý chất thải sinh hoạt
và 130 tỷ đồng chi cho xử lý chất thải y tế nguy hại nếu thực hiện giảm thiểu
được 10% lượng chất thải phát sinh.
Trong 20 năm qua, Việt Nam đã đạt được những bước tiến đáng kể về
phát triển kinh tế - xã hội. Từ năm 2005 đến nay, GDP liên tục tăng, bình
quân đạt trên 7%/năm. Năm 2005, tốc độ này đạt 8,43%, là mức tăng trưởng
cao nhất trong vòng 9 năm qua. Đến cuối năm 2005, dân số Việt Nam là
83.119.900 người. Từ năm 2000 - 2005, dân số Việt Nam tăng 5,48 triệu
người, trong đó tỉ lệ dân số thành thị tăng từ 24,18% năm 2000 - 26,97% năm
2005, tương ứng tỉ lệ dân số nông thôn giảm từ 75,82% xuống 73,93%. Dự
báo đến năm 2010, dân số thành thị lên tới 30,4 triệu người, chiếm 33% dân
số và đến năm 2020 là 46 triệu người, chiếm 45% dân số cả nước [3].
Năm 1990, Việt Nam có khoảng 500 đô thị lớn nhỏ. Tính đến tháng
6/2007 có tổng cộng 729 đô thị các loại, trong đó có 2 đô thị loại đặc biệt (Hà
14
Nội và TP. Hồ Chí Minh), 4 đô thị loại I (thành phố), 13 đô thị loại II (thành
phố), 43 đô thị loại III (thành phố), 36 đô thị loại IV (thị xã), 631 đô thị loại V
(thị trấn và thị tứ). Trong những năm qua, tốc độ đô thị hóa diễn ra rất nhanh
đã trở thành nhân tố tích cực đối với phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Tuy nhiên, bên cạnh những lợi ích về kinh tế - xã hội, đô thị hóa quá nhanh đã

sinh
Tấn/ngày Tấn/năm
15
1 Đặc biệt 0.84 8.000 2.929.000
2 Loại I 0.96 1.885 688.025
3 Loại II 0.72 3.433 1.253.045
4 Loại III 0.73 3.738 1.364.370
5 Loại IV 0.65 626 228.490
Tổng 6.453.930
(Nguồn: Cục bảo vệ môi trường, 2008) [3].
Tính theo vùng địa lý (hay vùng phát triển kinh tế - xã hội) thì các đô
thị vùng Đông Nam bộ có lượng CTRSH phát sinh lớn nhất tới 2.450.245
tấn/năm (chiếm 37,94% tổng lượng phát sinh CTRSH các đô thị loại III trở
lên của cả nước), tiếp đến là các đô thị vùng Đồng bằng sông Hồng có lượng
phát sinh CTRSH đô thị là 1.622.060 tấn/năm (chiếm 25,12%). Các đô thị
khu vực miền núi Tây Bắc bộ có lượng phát sinh CTRSH đô thị thấp nhất chỉ
có 69.350 tấn/năm (chiếm 1,07%), tiếp đến là các đô thị thuộc các tỉnh vùng
Tây Nguyên, tổng lượng phát sinh CTRSH đô thị là 237.350 tấn/năm (chiếm
3,68%). Đô thị có lượng CTRSH phát sinh lớn nhất là TP. Hồ Chí Minh
(5.500 tấn/ngày), Hà Nội (2.500 tấn/ngày); đô thị có lượng CTRSH phát sinh
ít nhất là Bắc Kạn - 12,3 tấn/ngày; Thị xã Gia Nghĩa 12,6 tấn/ngày, Cao Bằng
20 tấn/ngày; TP. Đồng Hới 32,0 tấn/ngày; TP Yên Bái 33,4 tấn/ngày và thị xã
Hà Giang 37,1 tấn/ngày.
Tỷ lệ phát sinh CTRSH đô thị bình quân trên đầu người tại các đô thị
đặc biệt và đô thị loại I tương đối cao (0,84 - 0,96kg/người/ngày); đô thị loại
II và loại III có tỷ lệ phát sinh CTRSH đô thị bình quân trên đầu người là
tương đương nhau (0,72 - 0,73 kg/người/ngày); đô thị loại IV có tỷ lệ phát
sinh CTRSH đô thị bình quân trên một đầu người đạt khoảng 0,65
kg/người/ngày [3].
Tỷ lệ phát sinh CTRSH tính bình quân lớn nhất tập trung ở các đô thị phát

(Nguồn: Cục bảo vệ môi trường, 2008) [3].
Với kết quả điều tra thống kê chưa đầy đủ như trên cho thấy, tổng
lượng phát sinh CTRSH tại các đô thị ở nước ta ngày càng gia tăng với tỷ lệ
tương đối cao (10%/năm) so với các nước phát triển trên thế giới. Tổng lượng
phát sinh CTRSH tại các đô thị loại III trở lên và một số đô thị loại IV lên
khoảng 6,5 triệu tấn/năm (năm 2004: tổng lượng chất thải sinh hoạt của tất cả
các đô thị Việt Nam là 6,4 triệu tấn/năm). Dự báo tổng lượng CTRSH đô thị
đến năm 2010 vào khoảng hơn 12 triệu tấn/năm và đến năm 2020 khoảng gần
22 triệu tấn/năm. Để quản lý tốt nguồn chất thải này, đòi hỏi các cơ quan hữu
quan cần đặc biệt quan tâm hơn nữa đến các khâu giảm thiểu tại nguồn, tăng
cường tái chế, tái sử dụng, đầu tư công nghệ xử lý, tiêu hủy thích hợp góp
phần giảm thiểu ô nhiễm môi trường do CTRSH gây ra (Cục Bảo vệ môi
trường 2008) [3].
17
Quản lý rác thải sinh hoạt tại Việt Nam, nhất là tại các thành phố như
Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Hải Phòng,…. đang là thách
thức lớn đối với các nhà quản lý. Tốc độ tăng rác thải không chỉ vì dân số
đô thị tăng, sản xuất, dịch vụ tăng, mà còn vì mức sống của người dân đang
ngày một tăng lên. Tỷ lệ thu gom chất thải sinh hoạt các quận nội thành đạt
khoảng 95%, còn các huyện ngoại thành tỷ lệ này chỉ đạt 60%; Lượng CTR
công nghiệp được thu gom đạt 85 - 90% và chất thải nguy hại mới chỉ đạt
khoảng 60 - 70%.
Cơ chế quản lý tài chính trong hoạt động thu gom rác thải chủ yếu dựa
vào kinh phí bao cấp từ ngân sách nhà nước, chưa huy động được các thành
phần kinh tế tham gia, tính chất xã hội hoá hoạt động thu gom còn thấp, người
dân chưa thực sự chủ động tham gia vào hoạt động thu gom cũng như chưa
thấy rõ được nghĩa vụ đóng góp kinh phí cho dịch vụ thu gom rác thải.
Theo nghiên cứu của URENCO thì nhiều nước đang phát triển trên thế
giới, chi phí cho công tác quản lý CTR đô thị chiếm xấp xỉ 20% tổng chi ngân
sách đô thị. Ở nước ta, các nhà chuyên môn đánh giá, tổng chi cho quản lý

và ô nhiễm môi trường sản xuất nông nghiệp; những bãi chôn rác thường ở xa
các đô thị nên tốn kém cho công đoạn chuyên chở rác và các loại túi ni lông
đựng rác khi chôn không bị phân hủy, tồn tại rất lâu trong đất dẫn đến làm
giảm độ phì nhiêu đất. Từ đặc điểm này cho thấy muốn tận dụng các chất thải
hữu cơ sinh hoạt làm phân bón, cần thiết phải tiến hành thu gom và phân loại
rác tại nguồn. Theo báo cáo của Sở Khoa học công nghệ và Môi trường các
tỉnh, thành và theo kết quả quan trắc của 3 vùng mới chỉ có 32/64 tỉnh thành
có dự án đầu tư xây dựng bãi chôn lấp hợp vệ sinh, trong đó 13 đô thị đã được
đầu tư xây dựng. Tuy nhiên, trừ bãi chôn lấp chất thải rắn tại Khu Liên hợp
Xử lý chất thải Nam Sơn, Hà Nội và bãi chôn lấp chất thải rắn tại thành phố
Huế đang hoạt động trong sự tuân thủ các yêu cầu đảm bảo môi trường một
cách tương đối, còn các bãi khác, kể cả bãi chôn lấp rác thải hiện đại như Gò
Cát ở TP. Hồ Chí Minh, cũng đang ở trong tình trạng hoạt động không hợp vệ
sinh. Thành phố Hà Nội là địa phương đầu tiên tiến hành xử lý chất thải sinh
hoạt bằng phương pháp chôn lấp hợp vệ sinh tại Khu Liên hợp Xử lý chất thải
Nam Sơn kể từ năm 1999 đến nay với tổng năng lực chôn lấp khoảng 13 triệu
tấn chất thải sinh hoạt trên tổng diện tích 83 ha.
19
Theo số liệu của Bộ Xây dựng, gần đây, đã có một số công nghệ trong
nước được nghiên cứu, phát triển với nhiều ưu điểm như khả năng phân loại
rác tốt hơn, đặc biệt là đã tái chế, tái sử dụng được phần lớn lượng chất thải,
đáp ứng các tiêu chuẩn môi trường như công nghệ SERAPHIN, ANSINH-
ASC và MBT-CD.08 với sản phẩm là phân hữu cơ, các sản phẩm nhựa tái chế
làm nhiên liệu, đã được triển khai áp dụng tại Nhà máy xử lý rác Đông Vinh
(Nghệ An), Nhà máy xử lý rác Sơn Tây (Hà Nội); Nhà máy xử lý rác Thủy
Phương (TT-Huế); Nhà máy xử lý rác Đồng Văn (Hà Nam), bước đầu đã đạt
kết quả nhất định. Tuy nhiên, các công nghệ trong nước đều do doanh nghiệp
tư nhân tự nghiên cứu phát triển nên việc hoàn thiện công nghệ cũng như triển
khai ứng dụng trong thực tế còn gặp một số khó khăn (Báo cáo hiện trạng môi
trường Việt Nam, 2009) [2].

thương mại, dịch vụ, khu vui chơi giải trí,… mọc lên ngày càng nhiều. Kéo
theo đó là lượng rác thải sinh hoạt phát sinh ngày càng nhiều, đây là một
trong những nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường, mất mỹ quan, ảnh hưởng
tới sức khỏe cộng đồng.
Theo số liệu thống kê năm 2009 của sở Tài Nguyên Môi Trường Hà Tĩnh,
lượng chất thải sinh hoạt phát sinh trên địa bàn tỉnh khoảng trên 450 tấn/ ngày
đêm. Trong đó, lượng rác thải sinh hoạt phát sinh trong thành phố khoảng 60 tấn/
ngày đêm (lượng phát thải bình quân hằng ngày là 0,7 kg/người/ngày), thị xã
Hồng Lĩnh khoảng 45 tấn, còn lại là của các thị trấn huyện lỵ.
Theo báo cáo của các ngành chức năng, trừ hai khu đô thị lớn (TP. Hà
Tĩnh và thị xã Hồng Lĩnh), lượng rác được thu gom, xử lý đạt hơn 90%,
huyện Kỳ Anh đạt 54%; chín huyện còn lại lượng rác thải thu gom chỉ đạt từ
30 đến 45%. Huyện Thạch Hà với 30 xã và một thị trấn, nhưng chỉ thu gom
khoảng 1,5 tấn rác/ngày (tỷ lệ 1,4%). Bên cạnh đó, phương tiện và lao động
tham gia công tác thu gom rác thải bất cập so với yêu cầu. Hiện Hà Tĩnh mới
có 29 đơn vị (gồm 15 HTX, 9 đội, 2 tổ vệ sinh ) tham gia thu gom, vận
chuyển, xử lý rác thải với 399 lao động tham gia. Hầu hết các địa phương
khác tự phát thành lập tổ thu gom rác tại thôn, xóm, nguồn kinh phí hạn hẹp,
chủ yếu do người dân đóng góp và vận chuyển rác chủ yếu bằng xe thô sơ
hoặc công nông.
Nguồn phát sinh chất thải (CTR sinh hoạt, CTR xây dựng, CTR bệnh
viện, CTR công nghiệp) trên địa bàn tỉnh tương đối lớn và đa dạng, phân bố
khắp các địa phương. Mặc dù khối lượng rác thải phát sinh ngày càng lớn
nhưng hiện tại trên địa bàn 14 huyện thị trong tỉnh mới chỉ có 4 bãi rác được
21
đầu tư xây dựng (ở thành phố Hà Tĩnh, thị xã Hồng Lĩnh, khu du lịch Thiên
Cầm và Xuân Thành); các huyện còn lại chỉ có bãi rác tạm, không đảm bảo vệ
sinh, gây ô nhiễm môi trường.
Trong thực tế, mỗi năm lượng rác thải sinh hoạt, chất thải rắn các loại mới
chỉ thu gom được 70% để đưa về các bãi chứa và xử lí rác; 30% còn lại nằm ở

- Nghị định số 174/2007/NĐ - CP ngày 29/11/2007 của Chính phủ về
phí BVMT đối với CTR.
- Nghị định số 04/2009/NĐ - CP ngày 14/01/2009 của chính phủ về ưu đãi,
hỗ trợ hoạt động BVMT.
- Chỉ thị số 36 - CT/TW ngày 25/06/1998 của Ban chấp hành Trung
ương về việc tăng cường BVMT trong giai đoạn công nghiệp hóa và hiện đại
hóa đất nước.
- Nghị quyết số 41 - NQ/TW ngày 15/11/2004 của Bộ chính trị về
BVMT trong thời kì đẩy mạnh công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước.
- Quyết định số 2149/QĐ - TTg ngày 17/02/2009 của thủ tướng chính phủ
về duyệt chiến lược quốc gia về quản lý tổng thể CTR đến năm 2025 và tầm
nhìn đến năm 2050.
- Chỉ thị số 23/2005/CT - TTg ngày 21/06/2005 của thủ tướng chính phủ
về việc đẩy mạnh công tác quản lý CTR tại các đô thị và khu công nghiệp.
- Thông tư số 13/2007/TT - BXD ngày 31/12/2007 của Bộ trưởng Bộ
Xây dựng về hướng dẫn một số điều của Nghị định 59/2007/NĐ - CP ngày
09/04/2007 của Chính phủ về Quản lý CTR.
- Thông tư số 39/2008/TT - BTC ngày 19/05/2008 về việc hướng dẫn
thực hiện Nghị định số 174/2007/NĐ - CP ngày 29/11/2007 của Chính phủ về
phí BVMT đối với CTR.
- Thông tư số 121/2008/TT - BTC ngày 12/12/2008 của Bộ tài chính
hướng dẫn cơ chế ưu đãi và hỗ trợ tài chính đối với hoạt động dầu tư cho
quản lý CTR.
Phần 3
ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
23
3.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Rác thải sinh hoạt trên địa bàn thị trấn Hương Khê - Hương Khê - Hà Tĩnh.
3.2. Địa điểm và thời gian nghiên cứu
Đề tài được thực hiện trên địa bàn thị trấn Hương Khê - huyện Hương

3.4.2. Phương pháp điều tra, phỏng vấn.
- Lập phiếu điều tra, phỏng vấn với các nội dung sau:
24
+ Nhận thức của người dân về các hình thức thu gom, phân loại và xử
lý rác thải.
+ Mức độ quan tâm của người dân đến công tác quản lý rác thải sinh
hoạt.
+ Việc theo dõi các thông tin về VSMT của người dân,….
- Đối tượng phỏng vấn: Hộ gia đình, các nhân.
- Phạm vi phỏng vấn: Phỏng vấn 50 hộ tại 5 khối (xóm) nội thị của thị
trấn Hương Khê.
- Hình thức phỏng vấn:
+ Tiến hành điều tra: chọn hộ phỏng vấn ngẫu nhiên tại 5 khối (xóm),
tiến hành điều tra (1 phiếu/hộ).
+ Phỏng vấn trực tiếp: Ngoài những câu hỏi trong phiếu điều tra cần
hỏi thêm những vấn đề liên quan nhằm có kết quả khách quan hơn.
3.4.3. Phương pháp xác định khối lượng, thành phần rác thải
- Phương pháp định tính: tiến hành kiểm tra, khảo sát tại các điểm như:
+ Tại chợ trung tâm (chợ Sơn).
+ Khảo sát trên các trục đừng chính trong thị trấn
+ Khảo sát tại các nhà hàng, cửa hàng,
- Phương pháp định lượng:
Tiến hành xác định khối lượng rác thải phát sinh từ đó xác định được
tỷ lệ thành phần rác thải từ các hộ gia đình: chọn ngẫu nhiên 50 hộ gia đình
trong 10 khối (xóm) trên địa bàn thị trấn. Mỗi khối chọn ngẫu nhiên 5 hộ để
tiến hành việc xác định khối lượng và thành phần rác thải phát sinh trong
ngày tại gia đình. Trước khi tới cân rác sẽ phát cho mỗi hộ gia đình 1 túi
nilon, họ sẽ thu gom toàn bộ rác thải phát sinh trong ngày tại gia đình lại.
Mình sẽ đến từng hộ gia đình đã phát túi nilon trước đó thí điểm phân loại rác
và cân rác theo từng loại khác nhau, ghi lại kết quả. Tiến hành cân rác vào giờ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status