nghiên cứu hiện trạng và đề xuất giải pháp quản lý chất thải sinh hoạt trên địa bàn quận 3, tphcm - Pdf 10

Đồ án tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Hoàng Hưng
MỞ ĐẦU
1.1. Lý do chọn đề tài:
Đất nước ta hiện nay đang trong quá trình đô thò hóa phát triển không ngừng cả
về tốc độ lẫn qui mô, số lượng lẫn chất lượng. Bên cạnh những mặt tích cực, những
tiến bộ vượt bậc thì vẫn còn những mặt tiêu cực, những hạn chế mà không một
nước đang phát triển nào không phải đối mặt, đó là tình trạng môi trường ngày
càng bò ô nhiễm cụ thể đó là ô nhiễm về đất, nước, không khí và tình trạng tài
nguyên thiên nhiên ngày càng trở nên cạn kiệt, và hàng loạt các vấn đề về môi
trường khác cần được quan tâm sâu sắc và kòp thời giải quyết một cách nghiêm túc,
triệt để.
Cùng với sự phát triển vượt bậc của đất nước, Thành phố Hồ Chí Minh là một
thành phố đông dân nhất, đồng thời cũng là trung tâm kinh tế, văn hóa, giáo dục
quan trọng của Việt Nam, gồm 19 quận và 5 huyện, tổng diện tích 2.095,01 km².
Theo kết quả điều tra dân số chính thức vào ngày 1 tháng 4 năm 2009 thì dân số
thành phố là 7.123.340 người (chiếm 8,30% dân số Việt Nam), mật độ trung bình
3.401 người/km². Tuy nhiên nếu tính những người cư trú không đăng ký thì dân số
thực tế của thành phố vượt trên 8 triệu người. Giữ vai trò quan trọng trong nền kinh
tế Việt Nam, Thành phố Hồ Chí Minh chiếm 20,2 % tổng sản phẩm và 27,9 % giá
trò sản xuất công nghiệp của cả quốc gia. Nhờ điều kiện tự nhiên thuận lợi, Thành
phố Hồ Chí Minh trở thành một đầu mối giao thông quan trọng của Việt Nam và
Đông Nam Á, bao gồm cả đường bộ, đường sắt, đường thủy và đường hàng không.
Vào năm 2007, thành phố đón khoảng 3 triệu khách du lòch quốc tế, tức 70 % lượng
khách vào Việt Nam. Các lónh vực giáo dục, truyền thông, thể thao, giải trí, Thành
phố Hồ Chí Minh đều giữ vai trò quan trọng bậc nhất.
Tuy vậy, Thành phố Hồ Chí Minh đang phải đối diện với những vấn đề của một
đô thò lớn có dân số tăng quá nhanh, tốc độ tăng trưởng kinh tế ngày càng cao nên
SVTH: Trần Thò Thái Trang 1
Đồ án tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Hoàng Hưng
đời sống nhân dân từng bước được cải thiên, do vậy nhu cầu tiêu dùng, tiên nghi
trong sinh hoạt cũng tăng lên một cách đáng kể, kết quả dẫn đến là khối lượng rác

thành phố. Vì vậy, đề tài này được thực hiện với mục tiêu:
- Đành giá và nêu những ưu khuyết điểm trong công tác thu gom, vận chuyển
và các yếu tố ảnh hưởng đến chương trình phân loại rác tại nguồn để từ đó có thể
áp dụng thành công việc phân loại rác tại nguồn trên đòa bàn quận 3, Thành phố
Hồ Chí Minh.
- Xây dựng các giải pháp quản lý rác thải sinh hoạt nhằm hạn chế ô nhiễm ra
môi trường và tăng cường tiết kiệm nguyên liệu thông qua việc phân loại và tái
chế.
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Chất thải rắn có nhiều loại: CTR y tế, CTR sinh hoạt, CTR công nghiệp, chất
thải rắn xây dựng,… nhưng do thời gian, điều kiện có hạn và còn nhiều hạn chế
nên đối tượng tập trung nghiên cứu chủ yếu là CTR sinh hoạt bao gồm:
+ Chất thải rắn từ hộ gia đình
+ Chất thải rắn phát sinh từ chợ
+ Chất thải rắn phát sinh từ cơ quan, nhà máy, xí nghiệp, trường học, trung
tâm thương mại.
Trên cơ sở khảo sát thu thập tài liệu và số liệu sẵn có về hệ thống thu gom, vận
chuyển CTR trên đòa bàn Quận 3.
- Đánh giá được hiện trạng hệ thống quản lý CTRSH trên đòa bàn Quận
(Nguồn, thu gom, vận chuyển, xử lý…).
SVTH: Trần Thò Thái Trang 3
Đồ án tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Hoàng Hưng
- Dự báo tốc độ phát sinh CTR, nhu cầu vận chuyển, nhu cầu xử lý CTR đến
năm 2020
- Đưa ra các giải pháp quản lý để nghiên cứu lựa chọn phương án tối ưu hệ
thống thu gom, vận chuyển và xử lý rác thải đô thò của quận 3 Thành phố Hồ Chí
Minh.
1.4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu:
1.4.1 Phương pháp luận:
Mục tiêu chính của đề tài là nhằm thu thập thông tin đầy đủ về khối lượng và

thông qua phương pháp EuLer cải tiến trên cơ sở số liệu dân số hiện tại và tốc độ
gia tăng dân số.
N’
i+1
= N
1
+ r.N
i+1/2)


t
N’
i+1
= N
i
+ r.

t.N
i

Trong đó:
N’
i+1
: Là số dân hiện tại của năm tính toán (người)
N
i
: Dân số hiện tại của quận 3 là 189.764 người (năm 2009)
N
i+1
: là dân số sau một năm

loại bỏ trong các hoạt động kinh tế - xã hội của mình (bao gồm các hoạt động sản
xuất, các hoạt động sống và duy trì sự tồn tại của cộng đồng v.v ). Trong đó quan
trọng nhất là các loại chất thải sinh ra từ các hoạt động sản xuất và hoạt động sống.
Theo quan điểm mới: Chất thải rắn đô thò (gọi chung là rác thải đô thò) được đònh
nghóa là: Vật chất mà con người tạo ra ban đầu vứt bỏ đi trong khu vực đô thò mà
không đòi hỏi được bồi thường cho sự vứt bỏ đó. Thêm vào đó, chất thải được coi
là chất thải rắn đô thò nếu chúng được xã hội nhìn nhận như một thứ mà thành phố
phải có trách nhiệm thu gom và tiêu hủy.
Theo quan điểm này, chất thải rắn đô thò có các đặc trưng sau:
- Bò vứt bỏ trong khu vực đô thò;
- Thành phố có trách nhiệm thu dọn.
1.1.2 Nguồn gốc chất thải rắn:
Các nguồn chủ yếu phát sinh ra chất thải rắn đô thò bao gồm:
- Từ các khu dân cư (chất thải sinh hoạt).
- Từ các trung tâm thương mại.
- Từ các công sở, trường học, công trình công cộng.
- Từ các dòch vụ đô thò, sân bay.
- Từ các hoạt động công nghiệp.
- Từ các hoạt động xây dựng đô thò.
SVTH: Trần Thò Thái Trang 7
Đồ án tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Hoàng Hưng
Từ các trạm xử lý nước thải và từ các đường ống thoát nước của thành phố.
Chất thải rắn phát sinh từ nguồn khác nhau, căn cứ vào đặc điểm chất thải có
thể phân chia thành 3 nhóm lớn là: chất thải đô thò, chất thải công nghiệp, chất thải
nguy hại.
Bàn 1.1 : Các nguồn phát sinh chất thải rắn đô thò
Nguồn
Các hoạt động và vò trí
phát sinh chất thải
Loại chất thải rắn

Nơi xây dựng mới, sửa
đường, san bằng các công
trình xây dựng, vỉa hè hư
hại.
Gỗ, thép bêtông, đất,…
Dòch vụ
đô thò
(trạm
xử lý)
Quét dọn đường phố, làm
đẹp phong cảnh, làm sạch
theo lưu vực, công viên
và bãi tắm, những khu
vực tiêu khiển khác.
Chất thải đặc biệt, rác đường phố, vật xén
ra từ cây, chất thải từ các công viên, bãi
tắm và các khu vực tiêu khiển.
SVTH: Trần Thò Thái Trang 8
Đồ án tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Hoàng Hưng
Trạm
xử lý,
lò thiêu
đốt
Quán trình xử lý nước,
nước thải và chất thải
công nghiệp. Các chất
thải được xử lý.
Khối lượng lớn bùn dư.
(Nguồn: George Tchbanoglous, et al, Mc Graw - Hill Inc, 1993)
1.1.3 Phân loại chất thải rắn:

chế tạo từ chất dẻo
- Phim cuộn, túi chất dẻo,
bòch nilon,…
SVTH: Trần Thò Thái Trang 9
Đồ án tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Hoàng Hưng
- Da và cao su
- Các vật liệu và sản phẩm được
chế tạo từ da và cao su
- Giấy, băng cao su,…
2. Các chất không
cháy được.

- Kim loại sắt
- Các loại vật liệu và sản phẩm
được chế tạo từ sắt mà dễ bò nam
châm hút.
- Hàng rào, dao, nắp lọ,…
- Kim loại không
phải sắt
- Các vật liệu không bò nam
châm hút
- Vỏ hộp nhôm, đồ đựng
bằng kim loại.
- Thủy tinh
- Các vật liệu và sản phẩm chế
tạo từ thủy tinh.
- Chai, lọ, đồ dùng bằng
thủy tinh, bóng đèn,…
- Đá và sành sứ
- Các vật liệu không cháy khác

+ Đất đá do việc đào móng trong xây dựng ;
+ Các vật liệu như kim loại, chất dẻo
+ Các chất thải từ các hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật như trạm xử lý
nước thiên nhiên, nước thải sinh hoạt , bùn cặn từ các cống thoát nước thành phố.
- Chất thải rắn công nghiệp: là các chất thải phát sinh từ các hoạt động sản
xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp. Các nguồn phát sinh chất thải công nghiệp
gồm:
+ Các phế thải từ vật liệu trong quá trình sản xuất công nghiệp, tro , xỉ
trong các nhà máy nhiệt điện;
+ Các phế thải từ nhiên liệu phục vụ cho sản xuất;
+ Các phế thải trong quá trình công nghệ;
+ Bao bì đóng gói sản phẩm.
- Chất thải nguy hại: bao gôm chất thải hóa chất, sinh học dễ cháy nổ mang
tính phóng xạ theo thời gian có ảnh hưởng đến đời sống con người động vật , thực
vật . Những chất này thường xuất hiện ở thể rắn, long và khí. Đối với chất thải này
việc thu gom xử lí phải hết sức cẩn thận.
1.1.4 Tốc độ phát sinh chất thải rắn:
- Việc tính toán được tốc độ phát thải rác là một trong những yếu tố quan trọng
trong việc quản lý rác thải bởi vì từ đó người ta có thể xác đònh được lượng rác phát
SVTH: Trần Thò Thái Trang 11
Đồ án tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Hoàng Hưng
sinh trong quá trình sản xuất, tiêu dùng, đồng thời dự báo được trong tương lai để
có kế hoạch và biện pháp quản lý chặt chẽ từ khâu thu gom, trung chuyển, vận
chuyển đến xử lý. Vì thế để quản lý tốt lượng rác phát sinh ta cần biết tốc độ phát
sinh chất thải rắn. Phương pháp xác đònh tốc độ phát thải rác cũng gần giống như
phương pháp xác đònh tổng lượng rác. Người ta sử dụng một số loại phân tích sau
đây để đònh tổng lượng rác. Người ta sử dụng một số loại phân tích sau đây để đònh
lượng rác thải ra ở một khu vực, đó là:
 Đo khối lượng.
 Phân tích thống kê.

Thủy tinh 4-16 8
Can hộp 2-8 6
Kim loại không thép 0 - 1 1
Kim loại thép 1-4 2
Bụi, tro, gạch 0 - 10 4
Tổng cộng 100
Nguồn: George Tchbanous, etal, Mc Graw - Hill inc, 1993
Bảng 1.4: Thành phần chất thải rắn đô thò theo tính chất vật lý
Thành phần % Trọng lượng
Khoảng giá trò Trung bình
Chất thải thực phẩm 6 - 25 15
Giấy 24 - 45 40
Catton 3-15 4
Chất dẻo 2-8 3
Vải vụn 0 - 4 2
Cao su 0 - 2 0,5
Da vụn 0 - 2 0,5
Sản phẩm vườn 0 - 20 12
Gỗ 1-4 2
Thủy tinh 4-16 8
Can hộp 2-8 6
SVTH: Trần Thò Thái Trang 13
Đồ án tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Hoàng Hưng
Kim loại không thép 0 - 1 1
Kim loại thép 1-4 2
Bụi, tro, gạch 0 - 10 4
Tổng cộng 100
GS.TS.Trần Hiếu Huệ, Quản lý chất thải rắn, Hà Nội 2001
Bảng 1.5: Sự thay đổi đặc trưng theo mùa của Chất thải rắn
Chất thải % khối lượng % Thay đổi

Những tính chất vật lý quan trọng của chất thải rắn đô thò gồm: koi61 lượng
riêng, độ ẩm, kích thước phân loại và độ xốp. Trong đó khối lượng riêng và độ ẩm
là những tính chất được quan tâm nhất trong công tác quản lý chất thải rắn đô thò ở
Việt Nam.
- Khối lượng riêng: hay mật độ của rác thải thay đổi theo thành phần, độ
ẩm, độ nén chặt của chất thải. Công tác quản lý chất thải rắn thì khối lượng riêng
là thông số quan trọng phục vụ cho công tác thu gom vận chuyển và xử lý. Qua đó
vận chuyển qua đó có thể phân bố và tính được nhu cầu trang thiết bò chuẩn cho
công tác thu gom, vận chuyển rác thu gom, thiết kế quy mô bãi chon lấp đối với
rác thực phẩm, khối lượng riêng khoảng 100-500 kg/m
3
. Khối lượng riêng của rác
thải được xác đònh bằng tỉ số giữa trọng lượng của mẫu rác và thể tích chiếm chỗ
của nó. Vì khối lượng riêng của chất thải rắn thay đổi một cách rõ rang theo vò trí
đòa lí, mùa trong năm và thời gian lưu trữ, do đó sử dụng các giá trò trung binh đã
được lựa chọn. Khối lượng riêng của chất thải sinh hoạt thay đổi từ 120-590 kg/m
3
.
Đối với xe vận chuyển rác có thiết bò ép rác lên đến 830 kg/m
3
.
- Độ ẩm: Là thông số có liên quan đến giá trò nhiệt lượng của chất thải rắn,
được xem xét khi lựa chọn phương án xử lí, thiết kế bãi chon lấp và lò đốt. Độ ẩm
rác thay đổi theo thành phần và theo mùa trong năm. Rác thải thành phố có độ ẩm
từ 50-80%, rác thải là thủy tinh, khối lượng có độ ẩm thấp. Độ ẩm trong rác cao tạo
điều kiện thuận lợi cho vi sinh vật kỵ khí phân hủy gây thối rữa.
Bảng 1.6: Trọng lượng riêng và độ ẩm các thành phần của chất thải rắn
đô thò
Loại chất thải
Khối lượng riêng

- Nhôm
110-405 270 2-4 2
- Kim loại khác
220-1940 540 2-4 2
- Bụi tro
540-1685 810 6-12 8
- Tro
1095-
1400
1255 6-12 6
- Rác rưởi
150-305 220 5-20 15
1b/yd
3
x 0.5983 = kg/m
3
Nguồn: George Tchbanous, etal, Mc Graw - Hill inc, 1993
1.1.6.2 Tính chất hóa học và giá trò nhiệt lượng
Khi lựa chọn phương án xử lí chất tahi3, thời gian thu gom, vận chuyển rác
thông thường, rác thải có giá trò nhiệt lượng cao như: gỗ, cao su, trấu,…sẽ được sử
dụng làm chất đốt, rác thải có thành phần lữu cơ dễ phân hủy phải thu gom trong
ngày và ưu tiên xử lí theo phương pháp sinh học. Để có số liệu về tính chất hóa học
và giá trò nhiệt lượng người ta thường xác đònh thông số sau:
* Tính chất hóa học:
+ Thành phần lữu cơ: được xác đònh là thành phần thất thoát ( chất bay
hơi ) sau khi nung rác ở nhiệt độ 950
0
C.
+ Thành phần vô cơ: là thành phần tro còn lại sau khi nung rác thải.
+ Thành phần phần trăm của C, H, O, N, S và tro được xác đònh để tính

55 7 20 5 0.2 3
- Bụi tro gạch
26 3 2 0.5 0.2 68
Nguồn: Environment engineering,Gerad Kiely, 1998
Theo Frank Kreith, giá trò nhiệt lượng trong thành phần rác thải đô thò được
trình bày trong bảng 1.8
SVTH: Trần Thò Thái Trang 17
Đồ án tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Hoàng Hưng
Bảng 1.8: Gía trò nhiệt lượng trong thành phần của
rác thải đô thò
Thành phần Giá trị nhiệt lượng Btu/1b
Khoảng giá
trị
Trung bình
- Chất thải thực phẩm
1500-3000 2000
- Giấy
5000-8000 7200
- Plastic
12000-16000 14000
- Thủy tinh
50-100 60
- Kim loại
100-500 300
- Da
6500-8500 7500
- Cao su
9000-12000 10000
- Vải
6500-8000 7500

dễ bay hơi.
0.83: Hệ số thực nghiệm
0.028: Hệ số thực nghiệm
LC: Thành phần lignin của chất thải rắn dễ bay hơi được diễn đạt = % của
trọng lượng khô.
Bảng 1.9: Khả năng phân hủy sinh học của chất hữu cơ dựa vào thành phần lignin
Hợp phần
Chất rắn bay hơi
(% tổng chất rắn)
Thành phần lignin
(% chất rắn bay
hơi)
Phần phân hủy
sinh học
- Chất thải thực
phẩm
7-15 0.4 0.82
- Giấy báo
94.0 22 0
- Giấy văn phòng
96.4 0.4 0.82
- Bìa cứng
94.0 12.9 0.47
- Chất thải vườn
50-90 4.1 0.72
Nguồn: George Tchbanous, etal, Mc Graw - Hill inc, 1993
- Khả năng phân hủy chung của các hợp chất hữu cơ trong chất thải rắn đô
thò dựa vào thành phần lignin được trình bày ở bảng 1.9. Những chất hữu cơ có
thành phần lignin cao, khả năng phân hủy thấp đáng kể so với chất khác. Trong
SVTH: Trần Thò Thái Trang 19

là giảm được nguồn sinh ra chất thải rắn bằng cách hoàn lưu tái sử dụng, thu gom,
vận chuyển, chế biến và chôn lấp hợp vệ sinh. Nói cách khác là nhằm đưa ra mức
độ thích hợp và thỏa mãn được việc bảo vệ tài nguyên.
Vào những năm đầu thế kỷ, lượng chất thải thành phố tạo ra còn nhiều hạn
chế do dân số còn rất ít, các chất hữu cơ được đưa vào đất như phân bón và thương
mại hiện đang còn vắng bóng. Thực tế này vẫn còn đúng đối với một số vùng, đặc
biệt ở vùng nông thôn các nước đang phát triển, nhưng trong bức tranh chung sự
thay đổi đang diễn ra rất nhanh. Thực vậy, tiêu chuẩn của cuộc sống tiến bộ chứng
minh điều đó. Các sản phẩm cũ kỹ bò thu hẹp lại và thái độ của người tiêu dùng
về chất thải cũng phát triển. hầu hết các nước, sự đô thò hóa diễn ra rất nhanh,
kết quả hiển nhiên là tăng đáng kể chất thải đô thò.
Theo mức độ đô thò hóa, lượng chất thải tăng lên theo đầu người ở một số
nước:
- Canada 1,7 kg/người/ngày
- Australia 1,6 kg/người/ngày
- Thụy Só 1,3 kg/người/ngày
- Nhật Bản 0,9 kg/người/ngày
- Thụy Điển 0,8 kg/người/ngày
- Trung Quốc 0,5 kg/người/ngày
SVTH: Trần Thò Thái Trang 21
Đồ án tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Hoàng Hưng
- Việt Nam dao động từ 0,35-1,2 kg/người/ngày
Quản lý chất thải đô thò là điuầ quan trọng đầu tiên và có khả năng xem xét
mức độ quan trọng của nó. Tuy thế, việc giải quyết vẫn còn chung chung tùy thuộc
vào các nhà chức trách đòa phương.
Các biện pháp khống chế ô nhiễm đối với chất thải rắn đô thò
1- Hoàn lưu, tái sử dụng
Phân loại rác trong gia đình và tái sử dụng là việc làm lớn nhất để giảm chất
thải và bảo vệ tài nguyên.
Kinh nghiệm một số nước cho thấy có đến 90% chai và trên 90% can được đưa

có thể có hoặc không được ép, điều này cũng cần tính toán đến trong quá trình xây
dựng trạm chung chuyển, sức chứa của bãi chứa và khả năng vận chuyển.
4- Chế biến
Chất thải đô thò có thể chế biến trước khi đem vứt bỏ. Mục tiêu của chế biến
chất thải nhằm giảm lượng thải, lấy lại những chất còn có khả năng sử dụng và thu
năng lượng.
Do giá trò của nguồn không đáng kể, về mặt kinh tế, lợi nhuận về chế biến
chất thải rất ít. Chôn lấp trực tiếp vẫn là biện pháp kinh tế nhất, song các yêu cầu
về khu chôn lấp gần trung tâm bò cạn kiệt, phải vận chuyển đến khu vực xa hơn,
kết quả làm tăng giá vận chuyển. Chỉ tới lúc đó khả năng hướng tới việc lấy lại
SVTH: Trần Thò Thái Trang 23
Đồ án tốt nghiệp GVHD: PGS.TS Hoàng Hưng
các chất có thể sử dụng mới có sứ hấp dẫn kinh tế hơn. Các bước của quá trình chế
biến chất thải:
- Phân loại: có thể phân loại thu công hay cơ khí.
- Gắn liền với qui hoạch vùng.
- Gần đô thò phục vụ.
- Đường giao thông.
- Vùng thủy lợi
- Điều kiện khí hậu
Tại vùng chôn lấp, xảy ra quá trình phân hủy kỵ khí chất hữu tạo biogas, có thể
dùng làm nguyên liệu trong công nghiệp.
1.4 Ô nhiễm môi trường do chất thải rắn:
1.4.1 Ảnh hưởng của chất thải rắn đến môi trường nước:
- Chất thải rắn đặc biệt là chất hữu cơ trong môi trường nước sẽ bò phân hủy
nhanh chóng. Tại các bãi rác, nước trong bãi rác sẽ tách ra kết hợp với các nguồn
nước khác như: nước mưa, nước ngầm, nước mặt, hình thành nước rò rỉ. Nước rò rỉ
di chuyển trong bãi rác sẽ làm tăng khả năng phân hủy sinh học trong rác cũng như
trong quá trình vận chuyển các chất gây ô nhiễm ra môi trường xung quanh.
- Các chất ô nhiễm trong nước rò rỉ gồm các chất được hình thành trong quá

phẩm trung gian, cuối cùng hình thành các chất khoáng đơn giản H
2
O, CO
2
, CH
4
,…
- Với một lượng rác và nước rỉ rác vừa phải thỉ khả năng tự làm sạch của môi
trường đất sẽ phân hủy các chất này trở thành những chất ít ô nhiễm hoặc không ô
nhiễm. Nhưng với lượng rác quá lớn vượt quá khả năng tự làm sạch của đất thì môi
trường đất sẽ trở nên quá tải và bò ô nhiễm. Các chất ô nhiễm này cùng với kim
loại nặng, các chất độc hại cùng với vi trùng thep nước trong đất chảy xuống nguồn
nước ngầm làm ô nhiễm nguồn nước này.
- Đối với rác không phân hủy ( nhựa, cao su… ) nếu không có giải pháp thích
hợp sẽ là nguy cơ gây thoái háo và giảm độ phì nhiêu của đất.
1.4.3 Ảnh hưởng của chất thải rắn đến môi trường không khí:
SVTH: Trần Thò Thái Trang 25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status