Đồ Án Tốt Nghiệp GVHD:Th.S Phạm Thò Bích Ngân
CHƯƠNG 1
MỞ ĐẦU
1.1– SỰ CẦN THIẾT CỦA LUẬN VĂN.
Bản Đồ Thành Phố Mỹ Tho
SVTH :Lê Tam Tính
MSSV:103108198
1
Đồ Án Tốt Nghiệp GVHD:Th.S Phạm Thò Bích Ngân
Thành phố Mỹ Tho thuộc tỉnh Tiền Giang nằm giữa hai thành phố lớn là
thành phố Hồ Chí Minh và thành phố Cần Thơ, cách thành phố Hồ Chí Minh 70
km về phía Tây Nam, nằm trọn vẹn trên ngã ba sông Tiền có tuyến Quốc lộ 1A
chạy qua, đây là hệ thống giao thông đường bộ lớn nhất cả nước.
Tp Mỹ tho với dân số 251 071 người (2005-2007 nguồn số liệu phát triển
kinh tế xã hội của Tp Mỹ Tho năm 2001- 2005) gồm 11 phường và 4 xã, có diện
tích là 49.98km
2
. Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên là 1%/năm. Trên đòa bàn Tp có 7
bệnh viện và 15 trung tâm y tế cấp phường xã. Với 1106 giường bệnh đang đổ ra
mỗi ngày khoảng 5000 kg chất thải rắn các loại trong đó lượng chất thải nguy hại
chiếm khối lượng tương đối cao.
Để quản lý khối lượng chất thải như vậy, Tp đã sử dụng phương pháp đốt và
được đặt ở bệnh viên Lao & bênh Phổi. Lò đốt ở đây hàng ngày phải làm việc
hết công suất để có thể tiêu hủy số lượng chất thải như vậy.
Tuy nhiên, cho đến nay mặc dù đã hình thành và hoạt động được vài năm và
tốn vài tỷ đồng cho việc đầu tư trang thiết bò, xây dựng cơ sở hạ tầngsong công
tác quản lý chất thải y tế ở TP Mỹ Tho đang còn phải đối mặt với nhiều vấn đề
chưa được giải quyết một cách triệt để. Một số khó khăn :
Khó khăn trong việc quản lý hệ thống thu gom
Hệ thống quản lý của các cơ quan nhà nước còn yếu về nhân lực và trang
thiết bò.
Giới thiệu tổng quan về chất thải y tế (chất thải rắn, nước thải)
Nêu lên hiện trạng về công tác quản lý chất thải y tế tại các bệnh viện và
trung tâm y tế của thành phố Mỹ Tho
Dự báo diễn biến về tải lượng chất thải y tế của thành phố.
Đề xuất các giải pháp với điều kiện thành phố.
SVTH :Lê Tam Tính
MSSV:103108198
3
Đồ Án Tốt Nghiệp GVHD:Th.S Phạm Thò Bích Ngân
1.4- PHẠM VI, ĐỐI TƯNG NGHIÊN CỨU
Về đòa lý :Thành phố Mỹ Tho – Tiền Giang
Về đối tượng: Chất thải y tế (nước thải và chất thải rắn)
1.5- PHƯƠNG PHÁP THỰC HIỆN.
Phương pháp chủ yếu được áp dụng để thực hiện đề tài này là:
Phương pháp tổng hợp số liệu: Thừa kế thông tin và số liệu từ các nhà khoa
học, các cơ quan môi trường, trung tâm nghiên cứu…
Phương pháp phân tích hệ thống .
Phương pháp khảo sát tình hình thực tế.
SVTH :Lê Tam Tính
MSSV:103108198
4
Đồ Án Tốt Nghiệp GVHD:Th.S Phạm Thò Bích Ngân
CHƯƠNG 2
TỔNG QUAN VỀ CHẤT THẢI Y TẾ VÀ
CÁC GIẢI PHÁP XỬ LÝ
2.1 – GIỚI THIỆU VẾ CHẤT THẢI Y TẾ.
2.1.1- Khái niệm chất thải y tế:
Chất thải y tế là chất thải phát sinh trong các cơ sở y tế, từ các hoạt động
khám bệnh, chữa bệnh, các dòch vụ chăm sóc sức khỏe, xét nghiệm, chuẩn đoán,
các hoạt động trong công tác phòng bệnh, các hoạt động nghiên cứu và đào tạo
Nhóm B : Các vật sắc nhọn: các loại kim tiêm, lưỡi dao mổ, dao lam
dùng trong y tế, ống thuốc tiêm vỡ…
Nhóm C: Chất thải có nguy cơ lây nhiễm cao phát sinh từ các phòng xét
nghiệm như găng tay, lam kính, bệnh phẩm…
Nhóm D : Chất thải dược phẩm bao gồm dược phẩm quá hạn, bò nhiễm
khuẩn, thuốc gây độc tế bào kể cả các lọ thuốc đã được sử dụng nhưng
còn tồn lưu dư lượng, và hóa chất có tính gây độc đối với tế bào.
Nhóm E: Bệnh phẩm. Nhóm này bao gồm các mô và cơ quan người,
động vật, một phần nào đó trên cơ thể bò cắt bỏ do phẫu thuật ( cần lưu
ý là đối với nhóm chất thải này thì ngay cả khi chúng không chứa
nguồn lây nhiễm nhưng cũng vẫn có khả năng gây tác động tâm lý rất
mạnh).
Nhóm chất thải phóng xạ :
Nhóm chất thải phóng xạ phát sinh từ các hoạt động chuẩn đoán, hóa trò liệu
và nghiên cứu như ống tiêm, bơm tiêm, giấy thấm,gạc sát khuẩn có sử dụng hoặc
bò nhiễm các đồng vò phóng xạ.
SVTH :Lê Tam Tính
MSSV:103108198
6
Đồ Án Tốt Nghiệp GVHD:Th.S Phạm Thò Bích Ngân
Chất thải phóng xạ rắn gồm: các vật liệu sử dụng trong các xét
nghiệm, chuẩn đoán, điều trò như ống tiêm, kim tiêm, bơm tiêm, chai lọ
phóng xạ…
Chất thải phóng xạ lỏng gồm: dung dòch có chứa nhân phóng xạ phát
sinh trong quá trình chuẩn đoán, điều trò như nước tiểu người bệnh, các
chất bài tiết, nước súc rửa các dụng cụ có chứa chất phóng xạ.
Chất thải phóng xạ khí gồm: các chất khí dùng trong lâm sàng như xe,
các khí thoát ra từ các kho chứa chất phóng xạ.
Nhóm chất thải hóa học:
Chất thải hóa học bao gồm các hóa chất có thể không gây nguy hại như
- Giấy, bao bì 1,48 14,8
- Thực phẩm 0,715 7,15
(b) Nhóm A- Chất thải nhiễm khuẩn :bông
băng, vật liệu thấm máu, dòch, chất bài tiết,
bột y tế
2,512 25,12
(c) Plastic, cao su, găng tay, dây truyền, dòch 2,624 26,24
(d) Nhóm B - Các vật sắc nhọn : kim tiêm, ống
tiêm, chai lọ, ống tiêm thủy tinh, dao mổ…
1,92 19,2
(e) Nhóm C - Chất thải có nguy cơ gây ô
nhiễm cao từ phòng xét nghiệm : lam kính,
ống nghiệm
(f) Nhóm D- Dược phẩm, hóa chất, dung môi
(g) Nh óm E - Mô phôi, phủ tạng, nhau thai,
bào thai…
0,749 7,49
(h) Chất phóng xạ
(i) Các thành phần khác
Tổng
10
100
2.2 Phân loại lần 2
(a) chất thải
- Giấy, bao bì 1,378 13,78
- Thực phẩm 0,826 8,26
(b) Nhóm A- Chất thải nhiễm khuẩn :bông
băng, vật liệu thấm máu, dòch, chất bài tiết,
Bột y tế
(c) Plastic, cao su, găng tay, dây truyền, dòch 2,214 22,14
(d) Nhóm B - Các vật sắc nhọn : kim ti êm,
ống tiêm, chai lọ, ống ti êm thủy tinh, dao
mổ…
1,773 17,73
(e) Nhóm C - Chất thải có nguy cơ gây ô
nhiễm cao từ phòng xét nghiệm : lam kính,
ống nghiệm
(f) Nhóm D- Dược phẩm, hóa chất, dung môi
(g) Nhóm E - Mô phôi, phủ tạng, nhau thai,
bào thai…
0,729 7,29
(h) Chất phóng xạ
(i) Các thành phần khác
T ổng
10
100
2.2 Phân loại lần 2
(a) chất thải
- Giấy, bao bì 1,585 15,85
SVTH :Lê Tam Tính
MSSV:103108198
9
Đồ Án Tốt Nghiệp GVHD:Th.S Phạm Thò Bích Ngân
- Thực phẩm 0,863 8,63
(b) Nhóm A- Chất thải nhiễm khuẩn :bông
băng, vật liệu thấm máu, dòch, chất bài tiết,
bột y tế
2,798 27,98
(c) Plastic, cao su, găng tay, dây truyền, dòch 2,514 25,14
SVTH :Lê Tam Tính
MSSV:103108198
10
Đồ Án Tốt Nghiệp GVHD:Th.S Phạm Thò Bích Ngân
theo. Kết quả này dẫn tới sự quá tải của các hệ thống thu gom và xử lý chất thải
vốn được thiết kế theo số giường bệnh. Sự quá tải này cũng là nguyên nhân dẫn
đến quản lý, thu gom, phân loại và xử lý thiếu nghiêm ngặt và không tuân thủ
các quy đònh bắt buộc, do đó dẫn đến tình trạng một tỷ lệ chất thải rắn y tế nguy
hại có thể bò lẫn vào chất thải rắn chung và phát tán ra môi trường bên ngoài, trở
thành nguồn gây ô nhiễm và có khả năng gây ra các rủi ro về môi trường và sức
khỏe.
Thành phần vật lý:
Đồ bông vải sợi: gồm bông gạc, băng, quần áo cũ, khăn lau, vải trải…
Đồ giấy: hộp dựng dụng cụ, giấy gói, giấy thải từ nhà vệ sinh…
Đồ thủy tinh: chai lọ, ống tiêm, bơm tiêm thủy tinh, ống nghiệm…
Đồ nhựa: hộp đựng, bơm tiêm, dây truyền máu, túi đựng hàng…
Đồ kim loại: kim tiêm, dao mổ, hộp đựng, …
Bệnh phẩm, máu mủ dính ở băng gạc…
Rác rưởi, lá cây, đất đá…
Thành phần hóa học:
Những chất vô cơ: kim loại, bột bó, chai lọ thủy tinh, sỏi đá, hóa chất,
chất thử.
Những chất hữu cơ: đồ vải sợi, giấy, phần cơ thể, đồ nhực.
Nếu phân tích nguyên tố thì gồm những thành phần: C, H, O, N, S, Cl
và một số phân tro
Thành phần sinh học:
Máu, những loại dòch tiết, những loại động vật làm thí nghiệm, bệnh
phẩm, và đặc biệt là các vi trùng gây bệnh.
Các vi sinh gây bệnh trong nước thải bệnh viện :
Nước thải bệnh viện được xếp vào nước thải sinh hoạt trong đó chứa đựng
20.9 Không
Tổng cộng 100
Tỷ lể phần chất thải nguy hại 22.6
12
Đồ Án Tốt Nghiệp GVHD:Th.S Phạm Thò Bích Ngân
(Nguồn :Quản lý chất thải nguy hại- Nguyễn Đức Khiển)
2.2- ẢNH HƯỞNG CỦA CHẤT THẢI Y TẾ ĐẾN MÔI TRƯỜNG.
2.2.1-Tác động của nước thải y tế.
Nguồn tiếp nhận nước thải của các bệnh viện và trung tâm y tế là hệ thống
cống thoát nước và sau đó được đổ ra sông. Đây là nguồn tiếp nhận nước thải và
chất thải nói chung của hàng loạt các loại hoạt động kinh tế-xã hội khác. Nếu
hoạt động không được tốt thì chẳng những môi trường bên trong bệnh viện bò ảnh
hưởng tiêu cực bởi các loại nước thải ô nhiễm mà các nguồn nước xung quanh
khu vực bệnh viện cũng bò ảnh hưởng.
Hiện nay, nguồn nước cấp cho các đô thò ở Việt Nam được lấy 70% từ
nguồn nước mặt và 30% từ nguồn nước ngầm. Song nguồn nước mặt phần lớn là
bò ô nhiễm, mức ô nhiễm cao gấp từ 2-3 lần có nơi từ 10-20 lần TCCP. Theo kết
luận của một số nhà chuyên môn thì nguồn nước mặt bò ô nhiễm hiện nay là một
trong những nguyên nhân chính dẫn đến sự cạn kiệt nguồn tài nguyên thủy sản.
Các quần thể sinh vật sống dưới nước khó có thể tồn tại và phát triển trong một
môi trường nước bò ô nhiễm bởi kim loại nặng, chất hữu cơ, chất phóng xạ và các
hóa chất độc hại khác.
Tác động đầu tiên ở đây là sự ngập úng gây mất vệ sinh môi trường bệnh
viện. Khi gặp mưa lớn và kéo dài sẽ gây ra sự ngập úng, những vò trí thấp ở một
số bệnh viện do hệ thống thoát nước không đảm bảo. Sự tích tụ của chất bẩn và
chất độc hại lâu ngày trong bệnh viện sẽ gây ra những ảnh hưởng nghiêm trọng
đến vệ sinh môi trường chung của bệnh viện.
Các sản phẩm hóa chất, dược phẩm được thải thẳng vào hệ thống cống thải
sẽ gây nên các ảnh hưởng bất lợi tới hoạt động của hệ thống xử lý nước thải (nhất
là với các hệ thống sử dụng công nghệ phân hủy sinh học) hoặc gây ảnh hưởng
Các rủi ro từ chất thải y tế :
SVTH :Lê Tam Tính
MSSV:103108198
14
Đồ Án Tốt Nghiệp GVHD:Th.S Phạm Thò Bích Ngân
Chất thải y tế bao gồm một lượng chất thải sinh hoạt chung và một tỷ lệ nhỏ
hơn (khoảng 20%) các chất thải có khả năng gây rủi ro cao. Chất thải rắn y tế
nguy hại có thể tạo nên những mối nguy cơ tiềm tàng cho sức khỏe con người
Các loại hình rủi ro :
Việc tiếp xúc với chất thải y tế có thể gây nên bệnh tật hoặc tổn thương.
Khả năng gây rủi ro từ chất thải y tế có thể do một hoặc nhiều đặc trưng cơ bản
sau:
Các yếu tố truyền nhiễm là tác nhân nguy hại có trong rác thải y tế
Các loại hóa chất dược phẩm có thành phần độc, tế bào nguy hiểm
Các chất chứa đồng vò phóng xạ
Các vật sắc nhọn có thể gây tổn thương
Chất thải có yếu tố ảnh hưởng tâm lý xã hội
Những đối tượng có thể tiếp xúc với nguy cơ :
Tất cả mọi cá nhân tiếp xúc với chất thải y tế nguy hại là những người có
nguy cơ tiềm tàng, bao gồm những người làm việc trong các cơ sở y tế, những
người làm nhiệm vụ vận chuyển các chất thải y tế và những người trong cộng
đồng phơi nhiễm với chất thải do hậu quả của sự bất cẩn và tắc trách trong các
khâu quản lý và kiểm sóat chất thải. Dưới đây là những nhóm đối tượng chính có
nguy cơ cao đối với tác hại của chất thải y tế:
Bác só, y tá, hộ lý và các nhân viên hành chính của bệnh viện,
những người trực tiếp thực hiện các công việc như :tiêm, thay băng…
Những người thực hiện phân loại thu gom và vận chuyển chất thải y
tế ngay tại nguồn về nơi tập kết của bệnh viện.
Bệnh nhân điều trò nội trú và ngoại trú
Khách tới thăm hoặc người nhà bệnh nhân.
SVTH :Lê Tam Tính
MSSV:103108198
16
Đồ Án Tốt Nghiệp GVHD:Th.S Phạm Thò Bích Ngân
Đối với những bệnh có khả năng truyền nhiễm, nguy hiểm do virus gây ra
như HIV/AIDS, viêm gan B hoặc C, những nhân viên y tế, đặc biệt các y tá, hộ lý
là những người có nguy cơ nhiễm cao nhất qua các vết thương do các vật sắc
nhọn bò nhiễm máu bệnh nhân gây nên. Các nhân viên hành chính của bệnh viện
và những người vận hành hệ thống quản lý chất thải trong phạm vi bệnh viện
cũng như ngoài bệnh viện ở các trạm xử lý chất thải của đòa phương, khu vực
cũng có nguy cơ đáng kể, chẳng hạn như những nhân viên quét dọn vệ sinh,
những người bới rác tại các bãi đổ rác mặc dù chưa có nhiều bằng chứng ghi nhận
những nguy cơ này (do chưa có sự quan tâm đúng mức tới các đối tượng này).
Nguy cơ của các lọai bệnh truyền nhiễm này trong số các bệnh nhân và cộng
đồng không phải tiếp xúc với chất thải y tế thấp hơn nhiều. Trong một số trương
hợp, một vài bệnh truyền nhiễm lây truyền và lan rộng ra cộng đồng xung quanh
nhiều khi trở thành dòch, một bằng chứng ghi nhận là vụ dòch tả hoành hành ở
Trung Mỹ năm 1996-1997 mà nghi can chính là do nước thải từ một bệnh viện
truyền nhiễm ở Peru không được xử lý và thải ra khu vực, kết quả là gây nhiễm
bệnh và bùng phát thành dòch bệnh.
Tỷ lệ tổn thương hàng năm do các vật sắc nhọn trong chất thải y tế và dòch
vụ vệ sinh môi trường cả trong và ngoài các bệnh viện gây ra đã được cơ quan
đăng ký Độc chất và Bệnh tật Hoa Kỳ(ATSDR) đánh giá. Nhiều tổn thương gây
ra do kim tiêm trước khi vứt bỏ vào các thùng chứa, do những thùng chứa kim
không kín hoặc được làm bằng những loại vật liệu dễ bò rách, bò xuyên thủng.
Một báo cáo của Cơ quan Bảo vệ môi trường Hoa Kỳ (EPA) tại hội nghò
chất thải y tế đã đánh giá số trường hợp nhiễm virus viêm gan B và C hàng năm
bò tổn thương gây ra bởi các chất thải sắc nhọn. Trong số các nạn nhân có nhiều
nhân viên y tế và nhân viên trong hệ thống quản lý xử lý chất thải. Số người bò
nhiễm virus viêm gan B hàng năm ở Hoa Kỳ mà nguyên nhân do tiếp xúc với
Nhiễm khuẩn da Streptococcus spp Mủ
Bệnh than Bacillus antharacis Chất tiết của da (mồ
hôi, chất nhờn …)
Viêm màng não Não mô cầu (Neisseria Dòch não tủy
SVTH :Lê Tam Tính
MSSV:103108198
18
Đồ Án Tốt Nghiệp GVHD:Th.S Phạm Thò Bích Ngân
menighitidis)
AIDS HIV Chất tiết sinh dục
Sốt xuất huyết Các virus :Junin, Lassa. Ebola,
Marburg
Tất cả các sản phẩm
máu và dòch tiết
Nhiễm khuẩn huyết
do tụ cầu
Staphylococus spp Máu
Nhiễm khuẩn huyết
do các loại vi khuẩn
khác nhau
Nhóm tụ cầu khuẩn
Enterobacter; Enterococcus;
Streptococcus spp, Klebssiella
Máu
Nấm Candida Cadida albican Máu
Viêm gan A Virus viem gan A Phân
Viêm gan B,C Virus viêm gan B,C Máu, dòch thể
(Nguồn : Môi trường bệnh việnCục bảo vệ môi trường)
Cho đến thời điểm hiện nay Việt Nam vẫn chưa có một công trình nghiên
cứu nào phản ánh được tình trạng tổn thương do nghề nghiệp của các nhân viên y
đầu của thai kỳ liên quan tới việc tiếp xúc nghề nghiệp với các thuốc chống ung
thư, nhưng các nghiên cứu tương tự được tiến hành tại Pháp và Mỹ lại không xác
nhận kết quả này.
(Nguồn:Môi trường bệnh viện – Cục bảo vệ môi trường)
Có rất nhiều nghiên cứu được xuất bản đã điều tra khả năng kết hợp giữa
nguy cơ đối với sức khỏe và tiếp xúc với thuốc chống ung thư, biểu hiện bằng sự
tăng đột biến các thành phần trong nước tiểu ở những người đã tiếp xúc và tăng
nguy cơ sảy thai. Mức độ tập trung các thuốc gây độc gen trong bầu không khí
bên trong bệnh viện đã được xem xét trong một số nghiên cứu để đánh giá các
ảnh hưởng về sức khỏe liên quan với việc tiếp xúc các yếu tố nguy cơ. Hiện vẫn
chưa có những công bố khoa học nào ghi nhận những hậu quả bất lợi đối với sức
khỏe do công tác quản lý yếu kém đối với các chất gây độc gen từ trong các cơ sở
y tế như bệnh viện.
2.3.4- Những ảnh hưởng của chất thải phóng xạ;
SVTH :Lê Tam Tính
MSSV:103108198
20
Đồ Án Tốt Nghiệp GVHD:Th.S Phạm Thò Bích Ngân
Nhiều tai nạn được ghi nhận do việc thanh lý, xử lý các nguyên liệu trong
trò liệu hạt nhân cùng với số lượng lớn những người bò tổn thương do vô tình hay
hoàn cảnh phải tiếp xúc với nguy cơ chất thải phóng xạ trong y tế. Một thông báo
ở Brazil, đã phân tích và có đầy đủ tài liệu để chứng minh trường hợp ảnh hưởng
của chất thải phóng xạ trong y tế tới ung thư công đồng. Sự cố này có liên quan
tới việc bỏ sót chất thải phóng xạ của một bệnh viện trong khi chuyển tới đại
điểm mới, do đã làm thất thoát tại đòa điểm cũ một nguồn xạ trò đã được niêm
phong. Sau đó một người dân chuyển đến đòa điểm nơi bệnh viện đã dời đi và vô
tình đã nhặt được nguồn xạ mang về nhà. Hậu quả là đã có 249 người tiếp xúc
chòu phơi nhiễm với nguồn xạ này, nhiều người trong số đó hoặc đã chết hoặc gặp
phải hàng loạt vấn đề về sức khỏe. Đa số các tác hại của chất thải phóng xạ trong
cơ sở y tế được báo cáo qua các vụ tai nạn liên quan đến việc tiếp xúc với các
2.4.1.2- Xử lý chất thải rắn y tế
Thiêu đốt chất thải rắn y tế.
Một thực tế là trong nhiều năm trước đây khi đầu tư xây dựng bệnh viện
chúng ta hoàn toàn chưa hạch toan được chi phí cho xử lý chất thải. Phần lớn các
bệnh viện tự xây lò đốt cho mình và không theo một thiết kế mẫu nào cả.
Công ty môi trường đô thò ở Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh đã đầu tư hệ
thống xử lý chất thải rắn y tế bao gồm cả khâu thu gom, vận chuyển chất thải rắn
y tế từ bệnh viện và vận chuyển tới xí nghiệp đốt rác để tiêu hủy. Hiện nay đã
có hai lò đốt rác y tế theo mô hình tập trung lò đốt Del Monego 200 xí nghiệp đốt
rác Tây Mỗ – Hà Nội và lò đốt Hoval GG-24 xí nghiệp đốt rác Bình Hưng Hòa-
thành phố Hồ Chí Minh với công nghệ nhập ngoại của nước ngoài.
Một số bệnh viện như Viện Lao và Bệnh phổi, Bệnh viện C Đà Nẵng, Bệnh
viện Vũng tàu với sự giúp đỡ cua 3 công ty Wamed engineering đã lắp đặt lò đốt
chất thải y tế Hoval MZ2 của Thụy Só có công nghệ hiện đại với nhiệt độ thiệu
đốt có hiệu quả. Qua thời gian theo dõi trên 15 tháng của Sở Khoa học Công
SVTH :Lê Tam Tính
MSSV:103108198
22
Đồ Án Tốt Nghiệp GVHD:Th.S Phạm Thò Bích Ngân
nghệ và Môi trường Hà Nội lò đốt của Viên Lao và Bệnh phổi đã thiêu đốt trên
10 tấn rác y tế nguy hại với kết quả tốt đảm bảo an toàn về môi trường.
Đã có một số bệnh viện lắp đặt và vận hành lò đốt do Việt Nam sản xuất
như bệnh viện đa khoa tỉnh Đồng Tháp, Sóc Trăng lò đốt do trường Đại học Bách
Khoa thành phố Hồ Chí Minh thiết kế và lắp đặt…
Cho đến nay vẫn chưa có một nghiên cứu thống kê cụ thể nào về các loại lò
đốt hiện đang hoạt động tại các bệnh viện ở Việt Nam và hiệu quả xử lý của lò
đốt thiết kế và chế tạo trong nước. Một vấn đề mà các nhà môi trường cần quan
tâm là ô nhiễm thứ cấp tạo ra trong quá trình đốt chất thải y tế nguy hại cần đươc
quan tâm nghiên cứu.
Chôn lấp chất thải rắn y tế.
Mái nhà hứng và hệ thống ống thu nước mưa từ mặt bằng mái xây
dựng, thông thường hệ thống máng sắt PVC loại 120-180 mm được lắp
đặt phủ đều diện thu và thoát nước.
Hệ thống rãnh, cống và các hố ga thu bảo đảm thu nước chảy tràn trên
mặt bằng khuôn viên bệnh viện. Hệ thống này thường được thiết kế và
thi công kiểu rãnh gom quanh nhà, cống thoát nước xây gạch hay ống
bê tông li tâm. Kích thước cống và ống tăng dần từ điểm thu gom đầu
tiên cho tới khi đổ ra bể điều hòa hoặc lưu vực, thông thường từ 250-
600 mm đối với cống bê tông.
Hệ thống khống chế thủy lực chủ yếu được dựa vào nguyên tắc tự
chảy theo độ dốc tự nhiên của mặt bằng bệnh viện và cách thiết kế thi
công. Độ dốc trung bình khoảng 1-1.5 % đảm bảo dòng tự chảy thoát
nước tốt.
Hệ thống thu, dẫn thoát nước mưa chảy tràn có chi phí đầu tư cơ bản
tương đối cao, thông thường khoảng gấp 5 lần chi phí hệ nước cấp, do
vậy nhiều bệnh viện không nhận thức được nên đã thực hiện không
hoàn chỉnh ở khâu này. Phần lớn sự hoạt động kém hiệu quả của hệ
SVTH :Lê Tam Tính
MSSV:103108198
24
Đồ Án Tốt Nghiệp GVHD:Th.S Phạm Thò Bích Ngân
thống thoát nước mưa chảy tràn là do nhận thức và hành động chưa
đúng ngay từ trong quá trình thiết kế thi công công trình cho tới cả
trong quá trình vận hành và bảo dưỡng hệ thống.
Nước thải chuyên môn :
Nước thải từ hoạt động chuyên môn khám bệnh, chuẩn đoán và điều trò
được thu bởi hệ thống ống thu được lắp đặt trong công trình nhờ hệ thống thu của
chậu rửa. Cách bố trí và đường ống tăng dần từ các điểm thu cục bộ tới các ống
góp và cuối cùng đưa về trạm xử lý bằng hệ thống ống dẫn riêng:
trước trước sau xử lý