Đánh giá hiện trạng và đề xuất giải pháp quản lý chất thải rắn y tế tại bệnh viện Đa khoa huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An. - Pdf 29


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

NGUYỄN SỸ VŨ Tên đề tài:

ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP QUẢN LÝ
CHẤT THẢI RẮN Y TẾ TẠI BỆNH ĐA KHOA HUYỆN QUẾ
PHONG, TỈNH NGHỆ AN”
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên ngành : Khoa học Môi trường
Khoa : Môi Trường
Khoá học : 2010 – 2014
Giảng viên hướng dẫn:
Nguyễn Thị Huệ

Khoa Môi trường – Trường Đại học Nông Lâm Nguyễn Sỹ Vũ
DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT
CTR : Chất thải rắn
CTRYT : Chất thải rắn y tế
CTRYTNH : Chất thải rắn y tế nguy hại
RYT : Rác y tế
ĐBSCL : Đồng Bằng Sông Cửu Long
KHCN&MT : Khoa học công nghệ & Môi trường
NIOEH : Viện y học lao động và vệ sinh môi trường
TW : Trung ương
CN, TTCN : Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp
WHO : Tổ chức y tế thế giới
BV : Bệnh viện
TCVN : Tiêu chuẩn Việt Nam
QCVN : Quy chuẩn Việt Nam
KHCN : Khoa học công nghệ
CTNH : Chất thải nguy hại
UBND : Ủy ban nhân dân
DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1: Lượng chất thải y tế phát sinh tại các bệnh viện và các khoa trong bệnh
viện tại Việt Nam 6
Bảng 2.2: Thành phần chất thải rắn bệnh viện ở Việt Nam 7
Bảng 2.3. Một số loại bệnh có nguy cơ lây nhiễm từ chất thải y tế 12
Bảng 2.4: Khối lượng chất thải rắn y tế nguy hại ở các bệnh viện 17
của một số tỉnh thành phố 17
Bảng 4.1: Tỷ lệ thành phần chất thải rắn sinh hoạt tại bệnh viện Đa khoa huyện Quế

2.1.4. Thành phần của chất thải rắn y tế 7
2.1.5. Một số phương pháp xử lý chất thải rắn y tế 8
2.1.6. Tác động của chất thải rắn y tế tới môi trường và sức khỏe cộng đồng 10
2.2. Cơ sở pháp lý 13
2.3. Tình hình quản lý chất thải rắn y tế trên Thế giới và Việt Nam 13
2.3.1. Hiện trạng quản lý chất thải rắn y tế trên thế giới 13
2.3.2. Hiện trang quản lý chất thải rắn y tế tại Việt Nam 15
2.3.3. Hiện trạng quản lý chất thải rắn y tế ở tỉnh Nghệ An 21
PHẦN 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 26
3.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 26
3.1.1. Đối tượng nghiên cứu 26
3.1.2. Phạm vi nghiên cứu 26
3.2. Địa điểm và thời gian nghiên cứu 26
3.3. Nội dung nghiên cứu 26
3.3.1. Điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội của huyện Quế Phong – tỉnh Nghệ An
26
3.3.2. Tổng quan về bệnh viện Đa khoa huyện Quế Phong – tỉnh Nghệ An 26
3.3.3. Thực trạng quản lý chất thải rắn y tế của bệnh viện Đa khoa huyện Quế
Phong – tỉnh Nghệ An 26
3.3.4. Đề xuất các giải pháp trong quản lý và xử lý chất thải rắn y tế trong bệnh
viện Đa khoa huyện Quế Phong 26
3.4. Phương pháp nghiên cứu 26
3.4.1. Phương pháp thu thập số liệu 26
3.4.2. Phương pháp điều tra, phỏng vấn, khảo sát thực địa 26
3.4.3. Phương pháp tham khảo ý kiến chuyên gia 27
3.4.4. Phương pháp so sánh, xử lý và phân tích số liệu 27
PHẦN 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 28
4.1. Điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội của huyện Quế Phong – tỉnh Nghệ An . 28
4.1.1. Điều kiện tự nhiên 28
4.1.2. Điều kiện kinh tế - xã hội 31

dẫn đến tài nguyên thiên nhiên ngày càng cạn kiệt. Qua đó, con người đã nhận ra
mối quan hệ tác động qua lại giữa hoạt động kinh tế – xã hội – môi trường tự nhiên.
Con người do hoạt động của mình đã làm biến đổi môi trường và sự biến đổi đó đã
tác động trở lại sự sống của con người. Vì vậy, bảo vệ môi trường là trách nhiệm
chung của toàn xã hội.
Việt Nam tuy là một nước đang phát triển, nền kinh tế sản xuất còn lạc hậu
tuy nhiên không vì thế mà Đảng và Nhà nước coi nhẹ vấn đề môi trường. Nhà nước
có chủ trương loại bỏ các dự án đầu tư gây nguy cơ ô nhiễm cao, bên cạnh đó đưa ra
các chính sách nhằm bảo vệ môi trường, một trong những mục tiêu quan trọng đó là
việc quản lý về cơ bản các chất thải độc hại trong đó có chất thải y tế, đặc biệt đó là
chất thải rắn y tế nguy hại.
Theo thống kê của Cục môi trường Việt Nam năm 2004 về chất thải nguy hại
mỗi năm của nước ta thải ra ngoài môi trường 10946 tấn/năm, riêng tại TP. HCM
mỗi năm thải ra môi trường chiếm tới 42% tổng lượng thải của cả nước. Theo đánh
giá của tổ chức Y tế thế giới, trong thành phần chất thải bệnh viện có tới 20% đến
25% là chất thải y tế nguy hại, trong đó có khoảng 15% là chất thải lâm sàng có khả
năng gây lây nhiễm và truyền bệnh cao như: kim tiêm, dao mổ, các mô bệnh, bông
băng dính máu của bệnh nhân, nhau thai sau khi sinh đẻ…
Vì vậy, việc đánh giá hiệu quả công tác thu gom, quản lý chất thải rắn y tế tại
bệnh viện cần cụ thể hơn, kết hợp với quá trình giám sát thực tế giúp tìm hiểu
những thiếu sót còn tồn tại trong công tác thu gom và quản lý hiện nay của bệnh
viện, góp phần làm tăng hiểu biết và nâng cao ý thức cũng như chất lượng điều trị.
Từ đó, nâng cao chất lượng quản lý chất thải rắn y tế tại bệnh viện Đa khoa huyện
Quế Phong – tỉnh Nghệ An.
Từ những thực tế đó, được sự đồng ý và giúp đỡ của Ban giám hiệu nhà trường,
Ban chủ nhiêm khoa Môi trường, dưới sự hướng dẫn tận tình của cô giáo Ths. Nguyễn
Thị Huệ, em tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá hiện trạng và đề xuất giải pháp
quản lý chất thải rắn y tế tại bệnh viện Đa khoa huyện Quế Phong, tỉnh Nghệ An”,
2


PHẦN 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. Cơ sở khoa học của đề tài
2.1.1. Một số khái niệm về chất thải rắn y tế
- Chất thải y tế (CTYT): Theo qui định về quản lý chất thải y tế của Bộ Y tế
ban hành, chất thải y tế là chất thải phát sinh trong các cơ sở y tế, từ hoạt động
khám chữa bệnh, chăm sóc, phòng bệnh, nghiên cứu, đào tạo, chất thải y tế có thể ở
dạng rắn, lỏng, khí.(Bộ Y tế, 2007)[6]
- Chất thải y tế nguy hại (CTYTNH): Là chất thải y tế chứa yếu tố nguy hại
cho sức khỏe con người và môi trường như dễ lây nhiễm, gây ngộ, phóng xạ, dễ
cháy nổ, dễ ăn mòn hoặc có đặc tính nguy hại khác nếu những chất thải này không
được tiêu hủy an toàn.
- Rác y tế (RYT): Là phần chất thải y tế ở dạng rắn, không tính chất thải
dạng lỏng và khí, được thu gom và xử lý riêng.
- Rác sinh hoạt y tế: Là chất thải không xếp vào chất thải nguy hại, không có
khả năng gây độc, không cần lưu giữ, xử lý đặc biệt; là chất thải phát sinh từ các
khu vực bệnh viện: giấy, plastic, thực phẩm, chai lọ…
2.1.2. Phân loại chất thải rắn y tế
2.1.2.1. Chất thải thông thường
Chất thải thông thường là chất thải không chứa các yếu tố lây nhiễm, hóa học
nguy hại, phóng xạ, dễ cháy, nổ, bao gồm:
- Chất thải sinh hoạt phát sinh từ các buồng bệnh (trừ các buồng bệnh cách ly).
- Chất thải phát sinh từ các hoạt động chuyên môn y tế như các chai lọ thủy tinh,
chai huyết thanh, các vật liệu nhựa, các loại bột bó trong gãy xương kín. Những chất thải
này không dính máu, dịch sinh học và các chất hóa học nguy hại.
- Chất thải phát sinh từ các công việc hành chính: giấy, báo, tài liệu, vật liệu
đóng gói, thùng các tông, túi nylon, túi đựng phim…
- Chất thải ngoại cảnh: lá cây và rác từ các khu vực ngoại cảnh. (Bộ Y tế,
2008)[7]
2.1.2.2. Chất thải lây nhiễm

- Formaldehit: Đây là hóa chất thường được sử dụng trong bệnh viện, nó
được sử dụng để làm vệ sinh, khử khuẩn dụng cụ, bảo quản bệnh phẩm hoặc khử
khuẩn các chất thải lỏng nhiễm khuẩn. Nó được sử dụng trong các khoa giải phẫu
bệnh, lọc máu, ướp xác…
- Các chất quang hóa: Các dung dịch dùng để cố định phim trong khoa
Xquang.
- Các dung môi: Các dung môi dùng trong cơ sở y tế gồm các hợp chất của
halogen như metyl clorit, chloroform, các thuốc mê bốc hơi như halothane; các hợp
chất không chứa halogen như xylene, axeton, etyl axetat…
5

- Các chất hoá học hỗn hợp: Bao gồm các dung dịch làm sạch và khử khuẩn
như phenol, dầu mỡ và các dung môi làm vệ sinh…
- Chất gây độc tế bào, gồm: Vỏ các chai thuốc, lọ thuốc, các dụng cụ dính
thuốc gây độc tế bào và các chất tiết từ người bệnh được điều trị bằng hóa trị liệu.
- Chất thải chứa kim loại nặng: Thủy ngân (từ nhiệt kế, huyết áp kế thủy
ngân bị vỡ, chất thải từ hoạt động nha khoa), cadimi (Cd) (từ pin, ắc quy), chì (từ
tấm gỗ bọc chì hoặc vật liệu tráng chì sử dụng trong ngăn tia xạ từ các khoa chẩn
đoán hình ảnh, xạ trị).
2.1.2.5. Các bình chứa có khí áp xuất
Nhóm này bao gồm các bình chứa khí nén có áp suất như bình đựng oxy,
CO
2
, bình gas, bình khí dung, các bình chứa khí sử dụng một lần… Đa số các bình
chứa khí nén này thường dễ nổ, dễ cháy nguy cơ tai nạn cao nếu không được tiêu
hủy đúng cách. (Bộ Y tế, 2007)[6]
2.1.3. Nguồn phát sinh và khối lượng chất thải rắn y tế
2.1.3.1. Nguồn phát sinh chất thải rắn y tế
Xác định nguồn phát sinh chất thải có quan hệ chặt chẽ tới việc quản lý
chung vì trong nhiều trường hợp nếu xử lý ngay ở đầu nguồn hiệu quá sẽ cao hơn.

Bảng 2.1: Lượng chất thải y tế phát sinh tại các bệnh viện và các khoa trong
bệnh viện tại Việt Nam
Bệnh viện/
khoa
Tổng lượng chất thải y tế phát sinh
(kg/giường/ngày)
Lượng chất thải nguy hại phát sinh
(kg/giường/ngày)
BV
TW
BV cấp
tỉnh
BV cấp
huyện
TB
BV
TW
BV cấp
tỉnh
BV cấp
huyện
TB
Khám bệnh

0.97 0.88 0.73 0.86 0.16 0.14 0.11 0.14
Chăm sóc
đặc biệt
1.08 0.27 1.00 1.11 0.30 0.31 0.18 0.26
Khoa dược 0.64 0.47 0.45 0.52 0.04 0.03 0.02 0.03
Trẻ em 0.50 0.41 0.45 0.45 0.04 0.05 0.02 0.04

độ 950
o
C.
- Thành phần vô cơ (tro) là phần tro còn lại sau khi nung rác ở 950
o
C.
(Nguyễn Thị Xuân Thu, 2007)[12]
Theo một số thống kê kết quả điều tra năm 1998 - 1999 của các đơn vị
nghiên cứu. Đặc biệt là dự án hợp tác giữa Bộ Y tế và WHO, thành phần một số rác
thải bệnh viện tại Việt Nam như sau:
Bảng 2.2: Thành phần chất thải rắn bệnh viện ở Việt Nam
Thành phần rác thải bệnh viện Tỷ lệ %
Kim loại, vỏ hộp 0.7
Thuỷ tinh, ống tiêm, chai lọ thuốc, bơm kim tiêm nhựa 3.2
Bông băng, bột bó gãy chân 8.8
Chai, túi nhựa các loại 10.1
Bệnh phẩm 0.6
Rác hữu cơ 52.57
Đất đá và các vật rắn khác 21.03
Giấy các loại 3
(Nguồn: Bộ Y tế, 2006)
8

2.1.5. Một số phương pháp xử lý chất thải rắn y tế
Có nhiều phương pháp có thể áp dụng để xử lý và tiêu hủy chất thải y tế. Mỗi
phương pháp đều có ưu và nhược điểm nhất định. Việc áp dụng các phương pháp
này còn tùy thuộc vào hoàn cảnh và điều kiện của mỗi quốc gia, địa phương, các cơ
sở y tế.
Mục đích của việc xử lý chất thải rắn y tế là loại bỏ những đặc tính nguy
hiểm như lây nhiễm, truyền bệnh để biến chúng thành rác thải thông thường và có

Hiện tại, còn một số bệnh viện, chất thải nhiễm khuẩn nhóm A vẫn được trộn
lẫn với chất thải sinh hoạt mà không được xử lý đặc biệt gì trước khi tiêu hủy và
được thải ra bãi rác của huyện, gây ô nhiễm nghiêm trọng cho môi trường của cộng
đồng sống gần bãi rác.
* Thiêu đốt chất thải rắn y tế
Phương pháp thiêu đốt là một kỹ thuật được áp dụng khi một lượng lớn các
chất thải nguy hại cần được thiêu hủy. Phương pháp này đảm bảo khả năng phân
hủy chất thải có hiệu quả cao đối với hầu hết các chất thải hữu cơ và lượng khí thải
sinh ra với lượng nhỏ có thể kiểm soát được.
Đốt chất thải là quá trình oxy hóa chất thải bằng oxy của không khí ở nhiệt
độ cao bằng oxy không khí. Bằng cách đốt chất thải nguy hại ta có thể giảm thể tích
của nó đến 80-90%. Nếu nhiệt độ lò đốt < 800
o
C dioxin và furan sẽ hình thành.
Nhiệt độ lò đốt từ 900-1200
o
C hợp chất PCB là hợp chất hữu cơ chứa Cl sẽ cháy
hết. Sản phẩm cuối cùng của quá trình đốt phải là các chất không nguy hại như
H
2
O, CO
2

Xử lý bằng phương pháp đốt có ý nghĩa quan trọng là làm giảm tới mức nhỏ
nhất chất thải cho khâu xử lý cuối cùng, nếu xử lý công nghệ tiên tiến còn có ý
nghĩa cao bảo vệ môi trường. Đây là phương pháp xử lý rác tốn kém nhất so với
phương pháp chôn lấp hợp vệ sinh thì chi phí đốt 1 tấn rác cao hơn khoảng 10 lần.
Tuy nhiên, đốt rác y tế bao gồm nhiều chất khác nhau sinh khói độc và dễ sinh
dioxin nếu giải quyết việc xử lý khói không tốt (phần xử lý khói là phần đắt nhất
trong công nghệ đốt rác).

hỏi việc xử lý phải được cách ly để tránh bị nhiễm phóng xạ. Việc sử dụng phương
pháp này cần phải được nghiên cứu kỹ càng để đảm bảo an toàn cho người sử dụng.
(Bộ KHCN&MT, Cục môi trường, 1997)[4]
2.1.6. Tác động của chất thải rắn y tế tới môi trường và sức khỏe cộng đồng
2.1.6.1. Đối với môi trường
* Đối với môi trường đất
Khi chất thải y tế được xử lý giai đoạn trước khi thải bỏ vào môi trường
không đúng cách thì các vi sinh vật gây bệnh, hóa chất độc hại, các vi khuẩn có thể
ngấm vào môi trường đất gây nhiễm độc cho môi trường sinh thái, các tầng sâu
trong đất, sinh vật kém phát triển… làm cho việc khắc phục hậu quả về sau lại gặp
khó khăn.
* Đối với môi trường không khí
Chất thải bệnh viện từ khi phát sinh đến khâu xử lý cuối cùng đều gây ra
những tác động xấu đến môi trường không khí. Khi phân loại tại Nguồn, thu gom,
vận chuyển chúng phát tán bụi rác, bào tử vi sinh vật gây bệnh, hơi dung môi, hóa
chất vào không khí. Ở khâu xử lý (đốt, chôn lấp) phát sinh ra các khí độc hại, NO
x
,
đioxin, furan HX… từ lò đốt và CH
4
, NH
3
, H
2
S… từ bãi chôn lấp. Các khí này nếu
11

không được thu hồi và xử lý sẽ gây ảnh hưởng xấu tới sức khỏe của cộng đồng dân
cư xung quanh.
* Đối với môi trường nước

bất kỳ tác nhân vi sinh vật gây bệnh truyền nhiễm nào. Một mối nguy cơ rất lớn hiện
12

nay đó là virus gây hội chứng suy giảm miễn dịch (HIV) cũng như các virus lây qua
đường máu như viêm gan B, C có thể lan truyền ra cộng đồng qua con đường rác thải
y tế. Những virus này thường lan truyền qua vết tiêm hoặc các tổn thương do kim
tiêm có nhiễm máu người bệnh. Các tác nhân gây bệnh này có thể xâm nhập vào cơ
thể người thông qua các cách thức:
- Qua da (qua một vết thủng, trầy xước hoặc vết cắt trên da).
- Qua các niêm mạc (màng nhầy).
- Qua đường hô hấp (do xông, hít phải).
- Qua đường tiêu hoá
Theo Bộ Y tế năm 2006 thống kê, một số bệnh có nguy cơ lây nhiễm từ chất
thải y tế được thể hiện ở bảng 2.3 như sau:
Bảng 2.3. Một số loại bệnh có nguy cơ lây nhiễm từ chất thải y tế
Các dạng
nhiễm khuẩn
Ví dụ về tác nhân gây bệnh Chất truyền
Nhiễm khuẩn đường
tiêu hoá
Vi khuẩn đường tiêu hoá:
Salmonella, shigella, trứng giun
Phân và chất nôn
Nhiễm khuẩn hô hấp Herpes Chất tiết ở mắt
Nhiễm khuẩn da Phế cầu khuẩn Mủ
Bệnh than Trực khuẩn than Chất tiết qua da
AIDS HIV Máu, dịch tiết sinh dục

Nhiễm khuẩn huyết Tụ cầu Máu
Viêm gan A Virus viêm gan A Phân

- Quyết định số 155/1999/QĐ-TTg ngày 16/07/1999 của Thủ tướng Chính
phủ về việc ban hành Quy chế quản lý chất thải nguy hại.
- Quyết định số 256/2003/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến
lược bảo vệ môi trường quốc gia đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020.
- Quyết định số 33/2006/QĐ-BYT ngày 24 tháng 10 năm 2006 của Bộ
trưởng Bộ Y tế về thuốc phóng xạ và hợp chất đánh dấu dùng trong chẩn đoán và
điều trị.
- Quyết định số 43/2007/QĐ-BYT ngày 30 tháng 11 năm 2007 của Bộ
trưởng Bộ Y tế về việc ban hành quy chế quản lý chất thải y tế.
- QCVN 02:2008/BTNMT quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về khí thải lò đốt
chất thải rắn y tế.
2.3. Tình hình quản lý chất thải rắn y tế trên thế giới và Việt Nam
2.3.1. Hiện trạng quản lý chất thải rắn y tế trên thế giới
Trên thế giới, quản lý chất thải rắn bệnh viện được nhiều quốc gia quan tâm
và tiến hành một cách triệt để từ rất lâu. Về quản lý, một loạt những chính sách quy
định, đã được ban hành nhằm kiểm soát chặt chẽ loại chất thải này. Các hiệp ước
quốc tế, các nguyên tắc, pháp luật và quy định về chất thải nguy hại, trong đó có cả
14

chất thải bệnh viện cũng đã được công nhận và thực hiện trên hầu hết các quốc gia
trên thế giới.
Công ước Basel: Được ký kết bởi hơn 100 quốc gia, quy định về sự vận
chuyển các chất độc hại qua biên giới, đồng thời áp dụng, cả với chất thải y tế.
Công ước này đưa ra nguyên tắc chỉ vận chuyển hợp pháp chất thải nguy hại từ các
quốc gia không có điều kiện và công nghệ thích hợp sang các quốc gia có điều kiện
vật chất kỹ thuật để xử lý an toàn một số chất thải đặc biệt.
Nguyên tắc pollutor pay: Nêu rõ mọi người, mọi cơ quan làm phát sinh chất
thải phải chụi trách nhiệm về pháp luật và tài chính trong việc đảm bảo an toàn và
giữ cho môi trường trong sạch.
Nguyên tắc proximitry: Quy định rằng việc xử lý chất thải nguy hại cần được

nhiệt độ 138
o
C và áp suất 3,8 bar. Ở điều kiện nhiệt độ và áp suất trên là điều kiện
tối ưu cho hơi nước bão hòa. Phế thải được xử lý trong vòng 40 – 60 phút. Sau cùng
phế thải rắn đã được xử lý sẽ được chuyển đến các bãi rác thông thường vì đã đạt
được tiêu chuẩn tiệt trùng. Phương pháp này còn có ưu điểm là làm giảm được khối
lượng phế thải vì được nghiền nát, chi phí ít tốn kém hơn lò đốt, cũng như không
tạo ra khí thải vào không khí.
* Các nước đang phát triển:
Đối với các nước đang phát triển, việc quản lý môi trường nói chung vẫn còn
rất lơ là, nhất là đối với phế thải bệnh viện. Tuy nhiên trong khoảng 5 năm trở lại
đây, các quốc gia như Ấn Độ, Trung Quốc đã bắt đầu chú ý đến việc bảo vệ môi
trường, và có nhiều tiến bộ trong việc xây dựng các lò đốt ở bệnh viện. Đặc biệt ở
Ấn Độ từ năm 1998, chính phủ đã ban hành luật về “Phế thải y tế: Lập thủ tục và
Quản lý”. Trong bộ luật này có ghi rõ rang phương pháp tiếp nhận phế thải, phân
loại phế thải, cùng việc xử lý và di dời đến các bãi rác… Do đó, vấn đề phế thải y tế
độc hại của quốc gia này đã được cải thiện rất nhiều.
2.3.2. Hiện trang quản lý chất thải rắn y tế tại Việt Nam
* Tình hình chung
Theo thống kê của Tổng cục Môi trường, tính đến năm 2012, cả nước hiện
có hơn 1.087 bệnh viện với tổng số hơn 140.000 giường bệnh. Tổng lượng chất thải
rắn phát sinh từ các sơ sở y tế vào năm 2012 khoảng hơn 500 tấn/ngày, trong đó có
60-70 tấn/ngày là chất thải rắn y tế nguy hại phải xử lý. Và cả nước chỉ có hơn 200
chiếc lò đốt chuyên dụng (nhiệt độ cao và có 2 buồng) nhưng chỉ có 80 lò đột 2
buồng đạt tiêu chuẩn môi trường, với công suất từ 300 – 450 kg/ngày, trong đó có
02 xí nghiệp đốt rác tập trung tại Hà Nội và TP. HCM, còn lại là đốt rác cỡ trung
bình và nhỏ.
Trong khi đó, vấn đề môi trường y tế chưa được các địa phương quan tâm
đúng mức. Theo kết quả khảo sát của Cục Quản lý Môi trường y tế - Bộ Y tế vào năm
2012 hiện mới có khoảng 44% các bệnh viện có hệ thống xử lý chất thải y tế nhưng

của Chính phủ và toàn xã hội.
Trong những năm qua các cơ quan quản lý môi trường đã tổ chức nhiều đợt
tuyên truyền, vận động cán bộ quản lý, cán bộ chuyên môn, nhân viên y tế, bệnh nhân
và thân nhân để thấy rõ trách nhiệm trong vấn đề thu gom, phân loại và xử lý sơ bộ,
giảm thiểu độc hại gây ra do chất thải y tế. Tuy nhiên, nhận thức của cộng đồng về
những nguy cơ tiềm ẩn trong chất thải y tế vẫn còn yếu.
Chất thải y tế được các Công ty Môi trường Đô thị thu gom, xử lý hoặc được
xử lý bằng các lò đốt thô sơ, không đạt tiêu chuẩn vệ sinh môi trường rồi tập trung
chôn lấp tại các nghĩa trang, trong các khuôn viên bệnh viện. Rất nhiều loại chất
17

thải lây nhiễm, độc hại được xả trực tiếp ra bãi rác mà không qua bất kỳ một khâu
xử lý cần thiết nào.
Thấy rõ được yêu cầu cấp thiết phải hoàn thiện công tác thu gom và quản lý
chất thải y tế tại các cơ sở khám chữa bệnh của ngành, năm 1998 Bộ Y tế đã thành
lập ban chỉ đạo xử lý chất thải bệnh viện với nhiệm vụ giúp Bộ trưởng trong công
tác chỉ đạo, xây dựng quy hoạch hệ thống xử lý chất thải bệnh viện trong phạm vi
toàn quốc.
Trên cơ sở đó, ngày 27/08/1999 Bộ trưởng Bộ Y tế đã ban hành “Quy chế
quản lý chất thải y tế” (sau được điều chỉnh lại ngày 30 tháng 11 năm 2007 của Bộ
trưởng Bộ Y tế về việc ban hành quy chế quản lý chất thải y tế), đến năm 2002 Bộ
Trưởng Bộ Y tế ban hành tiếp “Quy chế bảo vệ môi trường tại các cơ sở y tế”.
Theo niên giám thống kê năm 2007, ngành y tế cả nước có 13.438 cơ sở
khám chữa bệnh với 136.542 giường bệnh, trong đó 956 bệnh viện từ tuyến huyện
trở lên, khối y tế tư nhân có 1.631 cơsở y tế từ phòng khám tới bệnh viện tư hoạt
động. Số lượng và mạng lưới y tế như vậy là lớn so với các nước trong khu vực,
song vấn đề đảm bảo vệ sinh môi trường, xử lý chất thải tại các cơ sở từ trung
ương tới địa phương còn quá yếu, hầu hết chưa có hệ thống xử lý chất thải, một
vài nơi tuy có hoạt động nhưng chưa đạt yêu cầu kỹ thuật.
Bảng 2.4: Khối lượng chất thải rắn y tế nguy hại ở các bệnh viện


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status