HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
KHOA MÔI TRƯỜNG
----------------------------
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
TÊN ĐỀ TÀI:
“ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT BIỆN PHÁP QUẢN
LÝ CHẤT THẢI RẮN Y TẾ TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA HUYỆN
QUỲNH LƯU, TỈNH NGHỆ AN”
Người thực hiện
: NGUYỄN THỊ THU HÀ
Lớp
: MTA
Khóa
: 56
Chuyên ngành
: Khoa học môi trường
Giáo viên hướng dẫn: TS. NGÔ THẾ ÂN
Hà Nội – Năm 2015
1
: Bệnh viện đa khoa huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An
Hà Nội – Năm 2015
2
NHẬN XÉT CỦA CƠ SỞ THỰC TẬP
3
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện khóa luận tốt nghiệp, ngoài sự nỗ lực của bản
thân, tôi đã nhận được nhiều sự quan tâm giúp đỡ của các cá nhân, tổ chức
trong và ngoài trường.
Trước hết tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo khoa Môi trường
cùng các thầy cô giáo Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã truyền đạt cho tôi
những kiến thức và kinh nghiệm quý báu.
Đặc biệt tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất đến TS. Ngô Thế
Ân là người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện
đề tài.
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám đốc, Trưởng khoa Kiểm soát nhiễm
khuẩn, Phó phòng Tổ chức – Hành chính cùng toàn bộ cán bộ công nhân viên
của bệnh viện đa khoa huyện Quỳnh Lưu đã tạo điều kiện và giúp đỡ tôi trong
thời gian thực tập tại đây.
Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, người thân và bạn bè đã
luôn động viên, khích lệ tôi trong suốt quá trình học tập cũng như trong thời
gian thực hiện khóa luận tốt nghiệp.
CT
Chị thị
CTNH
Chất thải nguy hại
CTR
Chất thải rắn
CTRYT
Chất thải rắn y tế
CTYT
Chất thải y tế
PE
Polyetylen
PP
Polypropylen
QĐ
DANH MỤC HÌNH
Hình 2.1: Thành phần CTRYT dựa trên đặc tính lý, hóa, sinh
Hình 2.2: Thành phần CTRYT dựa theo tính chất nguy hại
Hình 2.3: Tình hình xử lý CTR tại một số cơ sở y tế
Hình 4.1: Vị trí địa lý của bệnh viện đa khoa huyện Quỳnh Lưu...................35
Hình 4.2: Sơ đồ cơ cấu tổ chức của bệnh viện................................................41
Hình 4.3: Các nguồn phát sinh CTRYT tại bệnh viện.................................... 44
Hình 4.4: Một số hình ảnh về CTR y tế phát sinh tại bệnh viện.....................45
Hình 4.5: Hệ thống quản lý CTRYT tại bệnh viện......................................... 50
Hình 4.6: Sơ đồ quy trình quản lý CTR y tế tại bệnh viện..............................54
Hình 4.7: Công tác thu gom, phân loại CTR y tế tại bệnh viện...................... 58
Hình 4.8: Công tác vận chuyển CTRYT tại bệnh viện................................... 60
Hình 4.9: Khu lưu trữ rác thải sinh hoạt và nguy hại của bệnh viện...............63
Hình 4.10: Kho lưu trữ rác tái chế của bệnh viện........................................... 63
Hình 4.11: Một số hình ảnh về lò đốt CTR y tế của bệnh viện.......................64
v
vi
Phần 1: ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm gần đây, sự gia tăng dân số và phát triển không ngừng
của nền kinh tế - xã hội dẫn đến nhu cầu khám chữa bệnh của người dân tăng
lên. Sự quan tâm đến y tế cũng được chỉ rõ trong chiến lược phát triển kinh
tế xã hội từ năm 2011 – 2020 của Đại hội đảng lần thứ XI, trong đó đã đề
ra mục tiêu phát triển mạnh sự nghiệp y tế, nâng cao chất lượng công tác
chăm sóc sức khỏe nhân dân, tập trung phát triển hệ thống chăm sóc sức
Xuất phát từ vấn đề thực tiễn nói trên, tôi tiến hành thực hiện đề tài:
“Đánh giá hiện trạng và đề xuất biện pháp quản lý chất thải rắn y tế tại
bệnh viện đa khoa huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An”.
1.2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Đánh giá hiện trạng công tác thu gom, quản lý và xử lý chất thải rắn
y tế tại bệnh viện đa khoa huyện Quỳnh Lưu.
Đánh giá công tác quản lý chất thải rắn y tế tại bệnh viện.
Đề xuất các giải pháp quản lý rác thải y tế tại bệnh viện đảm bảo an
toàn và vệ sinh môi trường.
1.3. Yêu cầu nghiên cứu
Xác định nguồn gốc phát sinh, khối lượng, thành phần chất thải rắn
y tế tại bệnh viện đa khoa huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An.
Đánh giá được ưu, nhược điểm của công tác quản lý CTRYT tại
bệnh viện.
Các giải pháp được đề xuất phải có tính khả thi trong điều kiện của
bệnh viện.
2
Phần 2: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1. Cơ sở lý thuyết về quản lý chất thải rắn y tế
2.1.1.Các khái niệm và thuật ngữ liên quan
- Chất thải: Là vật chất được thải ra từ sản xuất, kinh doanh, dịch vụ,
sinh hoạt hoặc các hoạt động khác (Luật Bảo vệ môi trường, 2014).
- Chất thải nguy hại: là chất thải chứa các yếu tố độc hại, phóng xạ, lây
nhiễm, dễ cháy, dễ nổ, gây ăn mòn, gây ngộ độc hoặc có đặc tính nguy hại
khác (Luật Bảo vệ môi trường, 2014).
Theo định nghĩa của Ngân hàng Thế giới:
- Chất thải y tế:được xác định là chất thải phát sinh trong các cơ sở y tế,
động vật thí nghiệm, máu, dịch thể.
- Chất thải chứa phóng xạ: Chất thải từ các quá trình chiếu chụp X
quang, phân tích tạo hình cơ quan trong cơ thể, điều trị và khu trị khối u…
- Chất thải hóa học: Có thuộc tính độc hại, ăn mòn, gây cháy hay
nhiễm độc gen hoặc không độc.
- Chất thải nhiễm khuẩn: Gồm các chất thải chứa tác nhân gây bệnh
như vi sinh vật kiểm dịch , bệnh phẩm bệnh nhân bị các ly hoặc máu nhiễm
khuẩn…
- Các vật sắc nhọn: Kim tiêm, lưỡi dao, kéo mổ, chai lọ vỡ…có thể
gây thương tích cho người và vật.
- Dược liệu: Dư thừa, quá hạn sử dụng…
• Theo quy chế quản lý chất thải y tế của Bộ Y tế ban hành (Quyết định
số 43/2007/QĐ – BYT ngày 30/11/2007), căn cứ vào các đặc điểm lý học, hóa
học, sinh học và tính chất nguy hại, chất thải trong các cơ sở y tế được phân
thành 5 nhóm sau:
- Chất thải lây nhiễm.
- Chất thải hóa học nguy hại.
- Chất thải phóng xạ.
- Bình chứa áp suất.
- Chất thải thông thường.
4
*)Nhóm chất thải lây nhiễm
Nhóm chất thải lây nhiễm được Bộ Y tế phân thành 4 phân nhóm chất
thải lây nhiễm theo quyết định số 43/2007/QĐ – BYT ngày 30/11/2007.
Bảng 2.1: Phân loại nhóm chất thải y tế lây nhiễm
Nhóm
chất
thải
Là những chất thải bị thấm máu, thấm dịch sinh học
của cơ thể và các chất phát sinh từ buồng bệnh cách ly.
Là quá trình phát sinh trong các phòng xét nghiệm như
bệnh phẩm và dụng cụ đựng, dính bệnh phẩm.
nhiễm cao
Chất thải giải
Bao gồm các mô, cơ quan, bộ phận cơ thể người, các
phẫu
nhau thai, bào thai..
(Nguồn: Quy chế quản lý chất thải y tế – Bộ Y tế, 2007).
*) Chất thải hóa học nguy hại:
Nhóm chất thải hóa học nguy hại được Bộ Y tế phân thành các phân
nhóm chất thải hóa học nguy hại theo quyết định số 43/2007/QĐ – BYT ngày
30/11/2007, trong đó bao gồm:
+ Dược phẩm quá hạn, kém phẩm chất không còn khả năng sử dụng.
+ Các chất hóa học nguy hại sử dụng trong y tế.
5
+ Chất gây độc tế bào, gồm: vỏ các chai thuốc, lọ thuốc, các dụng cụ
dính thuốc gây độc tế bào và các chất tiết ra từ tế bào được điều trị bằng hóa
trị liệu.
+ Chất chứa kim loại nặng: thủy ngân (từ nhiệt kế, huyết áp kế thủy ngân
Chất thải thông thường là chất thải không chứa các yếu tố lây nhiễm, hóa
học nguy hại, phóng xạ, dễ cháy, nổ, bao gồm:
+ Chất thải sinh hoạt phát sinh từ các buồng bệnh (trừ các buồng bệnh
cách ly).
6
+ Chất thải phát sinh từ các hoạt động chuyên môn y tế như các chai lọ,
thủy tinh, chai huyết thanh, các vật liệu nhựa, các loại bó bột trong gãy xương
kín. Những chất thải này không dính máu, dính dịch sinh học và các chất hóa
học nguy hại.
+ Chất thải phát sinh từ công việc hành chính: giấy, báo, tài liệu, vật liệu
đóng gói, thùng các tông, túi nilon, túi đựng phim.
+ Chất thải ngoại cảnh: lá cây và rác từ các khu vực ngoại cảnh.
2.1.3. Một số đặc trưng của chất thải rắn y tế
2.1.3.1. Nguồn gốc phát sinh chất thải rắn y tế
Chất thải y tế phát sinh từ các cơ sở y tế khác nhau, bao gồm: các bệnh
viện, trạm y tế, các cơ sở khám chữa bệnh tư nhân, các trung tâm chăm sóc
sức khỏe, các cơ sở nghiên cứu y dược, y tế dự phòng,…
Các loại chất thải rắn điển hình được tạo thành từ các hoạt động của bệnh
viện bao gồm:
- Các chất thải rắn sinh hoạt.
- Các phế thải trong quá trình phẫu thuật bao gồm các bộ phận cơ thể và
các tổ chức nội tạng.
- Các cặn cống nạo vét từ các hệ thống cống rãnh thoát nước.
- Các bông băng gạc dính máu của bệnh nhân.
- Các vật sắc nhọn và dễ gãy có tiếp xúc với máu mủ trong quá trình mổ
xẻ hoặc giấy thấm đã được sử dụng trong y tế, nha khoa.
- Các loại thuốc quá hạn sử dụng (Nguyễn Thị Kim Thái, 2011).
Nguồn phát sinh chất thải bệnh viện rất phong phú và đa dạng. Thành
phần và khối lượng của từng loại chất thải rắn y tế có đặc trưng theo chức
năng và nhiệm vụ của từng bệnh viện. Chúng có nguồn gốc chủ yếu từ các
phòng khám, khoa chức năng, phòng hành chính – tổng hợp và khu dịch vụ
trong bệnh viện. Ví dụ: từ phòng bệnh nhân phát sinh nhiều chất thải rắn sinh
hoạt như hộp cơm, vỏ trái cây,…; các trạm tiêm phát sinh nhiều chất thải sắc
nhọn; trong khi đó các phòng mổ lại phát sinh nhiều chất thải nguy hại, chất
thải lây nhiễm,…
2.1.3.2. Thành phần chất thải rắn y tế
Hầu hết các CTRYT là các chất thải sinh học độc hại và mang tính đặc
thù so với các chất thải rắn (CTR) khác. Thành phần của CTRYT có đặc
trưng theo chức năng và nhiệm vụ chuyên môn của từng bệnh viện. Theo
nghiên cứu khảo sát của Tổ chức Y tế Thế giới tại các nước đang phát triển,
thành phần chất thải rắn từ các hoạt động y tế như sau:
+ 80% là chất thải thông thường có thể xử lý như chất thải sinh hoạt hay
chất thải đô thị.
+ 15% là chất thải lây nhiễm và chất thải giải phẫu.
+ 1% là chất thải sắc nhọn.
+ 3% là chất thải dược, chất thải hóa học.
+ Dưới 1% là các chất thải khác: chất thải phóng xạ, chất gây độc tế bào,
bình chứa áp suất, chất thải chứa kim loại nặng (Nguyễn Thị Kim Thái, 2011).
*) Thành phần CTRYT dựa trên đặc tính lý, hóa, sinh học
• Thành phần vật lý:
+ Giấy: hộp đựng dụng cụ, giấy gói, giấy thải từ nhà vệ sinh,…
+ Đồ bông vải sợi: bông băng gạc, quần áo cũ, khăn lau, vải trải,…
+ Đồ thủy tinh: chai lọ, ống tiêm thủy tinh, ống nghiệm,…
8
Dựa theo tính chất nguy hại thì CTR thông thường chiếm tỉ lệ cao nhất
(78%), loại CTR này phát sinh do hoạt động sinh hoạt của bệnh nhân, người
nhà bệnh nhân, các y, bác sĩ, từ các hoạt động khám chữa bệnh. CTR lâm
sàng chiếm 18%, bình áp suất chiếm 3%. Ít nhất là CTR hóa học chiếm 1%.
Như vậy, tuy thành phần nguy hại chỉ chiếm khoảng ¼ tổng lượng
CTRYT nhưng nếu không được quản lý và xử lý tốt thì sẽ gây ô nhiễm môi
trường và ảnh hưởng tới sức khỏe con người.
2.1.4.
Ảnh hưởng của chất thải rắn y tế tới môi trường và sức khỏe
cộng đồng
2.1.4.1. Ảnh hưởng của chất thải rắn y tế tới môi trường
Khi CTRYT không được quản lý và xử lý đúng cách (chôn lấp, thiêu đốt
không đúng quy chế, tiêu chuẩn) thì sẽ dẫn đến ô nhiễm môi trường đất, nước,
không khí. Sự ô nhiễm này có thể gây ra những ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp
đến sức khỏe con người và hệ sinh thái
*) Ảnh hưởng đến môi trường nước.
CTRYT bao gồm cả rác thải sinh hoạt và rác thải y tế nguy hại, 2 loại này
đều có tác động đến môi trường nước ở các mức độ khác nhau. Đặc biệt là chất
thải y tế nguy hại, với đặc tính chứa nhiều mầm bệnh và các chất độc hại nếu
không được quản lý chặt chẽ sẽ lan truyền rất nhanh đến các nguồn nước và gây
10
ô nhiễm nguồn nước mặt. Điều này sẽ gây ra tác động xấu đến cộng đồng khi sử
dụng nguồn nước này (Health Survices Advisory Committee, 1999).
Mặt khác, khi chôn lấp CTRYT không hợp vệ sinh, đặc biệt là chất thải y
tế được chôn lấp chung với chất thải sinh hoạt có thể gây ô nhiễm nguồn nước
+ Những công nhân làm việc trong các dịch vụ hỗ trợ phục vụ cho các cơ
sở khám chữa bệnh và điều trị (ví dụ: giặt là, lao công, vận chuyển bệnh
nhân,...).
+ Những người làm việc trong các cơ sở xử lý chất thải y tế (tại các bãi
đổ rác thải, lò đốt rác) và những người bới rác, thu gom rác,... (Trịnh Thị
Thanh, 2002).
*) Tác động từ CTRYT
Tác động đến sức khỏe con người của CTR y tế được gây ra từ nhiều loại
chất thải khác nhau như từ chất thải truyền nhiễm và các vật sắc nhọn, từ chất
thải hóa học và dược phẩm, từ chất thải gây độc tế bào hay từ chất thải
phóng xạ. Nhưng dù là từ nhóm chất thải nào thì ảnh hưởng của nó đối
với con người là rất nguy hiểm và không thể xem nhẹ. Một trong những
mối hiểm họa mà CTR y tế gây ra cho con người là nguy cơ bị nhiễm HIV
từ các vật sắc nhọn như bơm kim tiêm. Không những thế CTR y tế còn có
thể dẫn đến khả năng mắc các bệnh từ vi sinh vật truyền nhiễm có chất
thải như viêm gan B, viêm gan siêu vi B, viêm gan siêu vi C, và các bệnh
về đường hô hấp, viêm da hay có những biểu hiện bất thường như đau
đầu, hoa mắt, chóng mặt, buồn nôn,...
Theo tài liệu của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), trong tổng số 35 triệu
nhân viên y tế trên thế giới, mỗi năm có 2 triệu người tiếp xúc qua da với
bệnh truyền nhiễm. Trong đó khoảng 40% bị phơi nhiễm viêm gan B, 40%
phơi nhiễm viêm gan C, 2,5% phơi nhiễm HIV do tổn thương vì kim đâm.
Cũng theo một cuộc khảo sát của Viên Y học lao động và môi trường ghi
nhận 35% số cán bộ, nhân viên y tế bị thương tích do vật sắc nhọn gây nên và
70% trong số đó bị tổn thương do vật sắc nhọn trong sự nghiệp y tế (Nguyễn
Võ Hinh, 2013).
2.1.5. Quản lý chất thải rắn y tế
Quản lý chất thải y tế bắt đầu ngay từ quá trình sinh ra chất thải đến quá
trình xử lý và khâu cuối cùng là thải bỏ chất thải. Khi phát sinh chất thải cần
12
tư tiêu hao ngay từ khi nhập hàng và trong quá trình sử dụng (BKHCN&MT,
1998).
2.1.5.4. Thu gom, phân loại và vận chuyển
• Tách, phân loại:
13
Điểm chủ yếu của biện pháp này là phân loại và tách ngay từ đầu một
cách chính xác chất thải y tế nguy hại và chất thải rắn thông thường. Việc tách
và phân loại chính xác chất thải y tế tạo điều kiện thuận lợi cho các quá trình
tiếp theo như quá trình vận chuyển và lưu giữ tại bệnh viện, hay quá trình vận
chuyển đến nơi tiêu hủy và quá trình tiêu hủy.
Việc tách và phân loại CTRYT đòi hỏi phải có thùng chứa, túi lót trong
thùng chứa được buộc chặt, hộp đựng vật sắc nhọn. Yêu cầu màu sắc phải
thống nhất theo quy định để dễ quản lý chất thải y tế đã được phân loại thu
gom trong suốt quá trình lưu thông (BKHCN&MT, 1998).
Bảng 2.4: Bảng quy định màu sắc của túi, thùng đựng và nhãn chỉ chất
thải y tế.
Loại chất thải
Màu và đánh dấu nhãn
Chất thải lây nhiễm cao Vàng, kí hiệu nhiễm
khuẩn cao
Chất thải lây nhiễm, Vàng, có logo nhiễm
bệnh phẩm, giải phẫu
khuẩn
Vật sắc nhọn
Vàng, đề chữ vật sắc nhọn
Loại thùng, túi
Thùng nhựa, túi nhựa
liên tục. Nhân viên chịu trách nhiệm thu gom chất thải y tế từ các khoa chuyên
môn về thùng lưu giữ tập trung sau đó vận chuyển về khu vực lưu giữ chất thải
y tế nguy hại của bệnh viện hàng ngày. Thùng chứa đã chứa đầy chất thải khi
vận chuyển phải có nhãn ghi rõ chất thải từ khoa, bệnh viện, ngày giờ; và phải
có thùng, túi chứa rác đặt ngay vào vị trí khi đã chuyển thùng cũ đi.
Xe vận chuyển chất thải phải đảm bảo các tiêu chuẩn: có thành, có nắp,
có đáy kín, dễ cho chất thải vào, dễ lấy chất thải ra, dễ làm sạch, dễ tẩy uế, dễ
làm khô.
Khu lưu giữ chất thải y tế phải được xây dựng riêng, tách biệt với khu
khám chữa bệnh của bệnh viện. Chất thải y tế nguy hại và chất thải thông
thường phải lưu giữ trong các buồng riêng biệt. Tốt nhất là vận chuyển
CTRYT nguy hại đi xử lý ngay trong ngày. Thời gian lưu giữ chất thải trong
các cơ sở y tế không quá 48 giờ (BKHCN&MT, 1998).
2.2. Cơ sở thực tiễn về quản lý chất thải rắn y tế
2.2.1. Hiện trạng phát sinh, quản lý, xử lý chất thải rắn y tế trên Thế giới
Trong nhiều năm trở lại đây, do lượng phát sinh ngày càng nhiều cùng
với những đặc tính nguy hại của chúng, CTRYT đã trở thành một trong
những đối tượng nghiên cứu của các nhà môi trường. Nghiên cứu về chất thải
y tế đã được tiến hành tại nhiều nước trên thế giới, đặc biệt ở các nước phát
triển như Anh, Mỹ, Nhật, Pháp... Các nghiên cứu đã quan tâm đến nhiều lĩnh
vực như tình hình phát sinh; phân loại CTYT; quản lý CTYT,…
2.2.1.1. Hiện trạng phát sinh CTRYT
Khối lượng CTYT không chỉ thay đổi theo từng khu vực địa lý mà còn
phụ thuộc vào các yếu tố khách quan khác như: cơ cấu bệnh tật bình thường,
dịch bệnh, thảm họa đột xuất; loại và quy mô bệnh viện, phạm vi cứu chữa; số
lượng bệnh nhân khám, chữa bệnh, tỷ lệ bệnh nhân điều trị nội trú và ngoại
trú; điều kiện kinh tế xã hội của khu vực; phương pháp và thói quen chăm của
nhân viên y tế trong việc khám, điều trị và chăm sóc; số lượng người nhà
được phép đến thăm bệnh nhân (Nguyễn Huy Nga, 2004).
0,3-0,6
Nước thu nhập thấp
0,5-3
0,3-0,4
(Nguồn: Phạm Ngọc Châu, 2004).
Ở các nước có thu nhập cao, lượng chất thải bệnh viện nói chung và chất
thải y tế nguy hại nói riêng luôn cao hơn từ 2 – 4 lần so với các nước có thu
nhập trung bình và thấp. Sở dĩ có hiện tượng này là bởi vì đối với các nước có
thu nhập cao, nhu cầu cũng như yêu cầu về sức khỏe và các dịch vụ liên quan
đến y tế của họ rất cao, thêm vào đó là sự đầu tư các trang thiết bị y tế hiện
đại để phục vụ nhu cầu khám chữa bệnh của người dân ở đây rất được coi
trọng, vì vậy số lượng người đến các trung tâm y tế để khám chữa bệnh rất
lớn, điều đó dẫn đến lượng chất thải y tế phát sinh nhiều. Còn ở các nước có
thu nhập trung bình và thấp do cơ sở hạ tầng của các cơ sở y tế chưa thật sự
đầy đủ, cùng với trở ngại về kinh tế làm cho số lượng người điều trị ngoại trú
khá cao.
Không những thế, lượng chất thải y tế phát sinh còn phụ thuộc theo
tuyến, quy mô bệnh viện.
Bảng 2.6: Chất thải y tế theo giường bệnh trên thế giới
Đơn vị: Kg/giường bệnh/ngày đêm
Tuyến bệnh viện
Tổng lượng chất thải y Chất thải y tế nguy hại
16