Đánh giá hiện trạng và đề xuất biện pháp quản lý chất thải rắn y tế tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bắc Kạn. - Pdf 29


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

ĐÀO THỊ OANH

Tên đề tài:
“ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT BIỆN
PHÁP QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN Y TẾ TẠI BỆNH
VIỆN ĐA KHOA TỈNH BẮC KẠN” KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên ngành : Địa chính Môi trường
Khoa : Quản lý Tài nguyên
Khoá học : 2010 – 2014
Giảng viên hướng dẫn: TS. VŨ THỊ THANH THỦY
Khoa Môi trường – Trường Đại học Nông Lâm THÁI NGUYÊN - 2014

Phần 1.

MỞ ĐẦU 4
1.1. Đ
ặt
vấn
đề
4
1.2. Mục đích tiêu tổng quát 5
1.3. Mục tiêu cụ thể 5
1.4. Ý nghĩa của đề tài 7
Phần 2.

TỔNG QUAN TÀI LIỆU 8
2.1. Cơ sở khoa học 8
2.1.1. Khái niệm về chất thải rắn y tế 8
2.1.2. Thành phần 9
2.1.3. Phân loại chất thải rắn y tế 10
2.2. Cơ sở pháp lý 13
2.3. Thực trạng công tác quản lý và xử lý CTRYT trên thế giới 14
2.3.1. Thực trạng phát sinh chất thải rắn y tế trên thế giới 14
2.3.2. Thực trạng công tác quản lý CTRYT trên thế giới 15
2.3.3. Thực trạng công tác xử lý CTRYT trên thế giới 16
2.4. Thực trạng quản lý và xu hướng xử lý chất thải rắn y tế tại Việt Nam 19
2.4.1. Hiện trạng phát sinh chất thải rắn y tế tại Việt Nam 19
2.4.2. Quản lý chất thải y tế 22
2.4.3. Xu hướng xử lý chất thải rắn y tế tại Việt Nam 22
2.4.4. Nguy cơ và ảnh hưởng của chất thải y tế đến cộng đồng và môi
trường 25
2.4.4.1. Những nguy cơ của chất thải y tế 25

4.1.1.4. Đặc điểm tài nguyên 42
4.1.2. Đặc điểm kinh tế - xã hội tỉnh Bắc Kạn 43
4.1.2.1. Điều kiện kinh tế 43
4.1.2.2. Văn hoá - xã hội 43
4.2. Thực trạng chất thải rắn y tế tại bệnh viện Đa khoa Bắc Kạn 45
4.2.1. Sơ lược hiện trạng môi trường tỉnh Bắc Kạn 45
4.2.1.1. Môi trường không khí 45
4.2.1.2. Môi trường nước 46
4.2.1.3. Môi trường đất 46
4.2.2. Một số đặc điểm của bệnh viện Đa khoa Bắc Kạn 47
4.2.3. Nguồn gốc phát sinh chất thải rắn y tế tại bệnh viện Đa khoa
tỉnh Bắc Kạn 48
4.2.4. Thành phần và phân loại chất thải rắn y tế tại bệnh viện Đa
khoa Bắc Kạn 49
4.2.4.1. Thành phần CTR sinh hoạt phát sinh 49
4.2.4.2. Thành phần CTR y tế 50
4.3. Công tác thu gom và xử lý chất thải y tế tại bệnh viện Đa khoa
tỉnh Bắc Kạn 52
4.3.1. Tải lượng phát sinh chất thải rắn y tế tại bệnh viện Đa khoa tỉnh
Bắc Kạn 52
4.4. Đánh giá sự hiểu biết của người dân về CRTYT tại bệnh viện Đa
Khoa Bắc Kạn 60
4.4.1. Đánh giá nhận thức của bệnh nhân và người nhà bệnh nhân về
CTRYT và công tác quản lý rác thải khu vực bệnh viện Đa
khoa Bắc Kạn 60
4.4.2. Đánh giá nhận thức của người dân xung quanh khu vực bệnh viện về
CTRYT và công tác quản lý rác thải khu vực bệnh viện Đa khoa
Bắc Kạn 62
4.5. Những thuận lợi, khó khăn,và đề xuất giải pháp đạt hiệu quả
trong việc quản lý chất thải rắn y tế 64

Hình 4.3: Sơ đồ quy trình thu gom, phân loại, quản lý chất thải rắn y 62
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂUBảng 2.1: Thành phần trong chất thải rắn bệnh viện ở Việt Nam được thống kê 6
Bảng 2.2: Lượng chất thải phát sinh tại các nước theo tuyến bệnh viện 10
Bảng 2.3: Tình hình phát sinh chất thải y tế trên thế giới 11
Bảng 2.4: Khối lượng chất thải y tế của một số địa phương năm 2009 15
Bảng 2.5: Sự biến động về khối lượng chất thải y tế nguy hại phát sinh tại
các loại cơ sở y tế khác nhau 17
Bảng 2.6: Một số bệnh truyền nhiễm và ký sinh thường gặp 23
Bảng 2.7: Nguy cơ mắc bệnh sau khi bị bơm kim tiêm bẩn xuyên qua da 26

chất thải độc hại như phóng xạ, chất gây độc tế bào, hóa chất độc hại phát
sinh trong quá trình chuẩn đoán và điều trị bệnh. Đó là những yếu tố nguy
cơ làm ô nhiễm môi trường, lan truyền từ bệnh viện đến vùng xung quanh,
dẫn tới tăng nguy cơ nhiễm trùng bệnh viện và tỷ lệ bệnh tật của cộng
đồng dân cư sống trong vùng tiếp giáp.
Tuy nhiên, cho đến nay công tác quản lý chất thải tại hầu hết các
bệnh viện chưa thực hiện triệt để từ khâu thu gom, phân loại, vận chuyển
và xử lý. Sự phân công trách nhiệm chưa được cụ thể, thiếu nhân viên được
đào tạo về quản lý chất thải y tế, thiếu phương tiện vận chuyển, thu gom, sử
dụng phương pháp đốt/chôn lấp đơn giản. Theo báo cáo của bộ y tế Việt
Nam hiện nay có xấp xỉ khoảng 1050 bệnh viện, hơn 10000 trạm y tế xã
cùng các viện nghiên cứu y sinh, trung tâm y tế dự phòng, cơ sở sản xuất
dược phẩm, các cơ sở này thải ra lượng thải y tế khổng lồ. Theo nghiên cứu
điều tra mới nhất của Cục Khám chữa bệnh - Bộ Y tế và Viện Kiến trúc,
Quy hoạch Đô thị và Nông thôn - Bộ Xây dựng, năm 2009-2010, tổng
lượng CTR y tế trong toàn quốc khoảng 100-140 tấn/ngày, trong đó có 16-
30 tấn/ngày là CTR y tế nguy hại. Lượng CTR trung bình là 0,86

2

kg/giường/ngày, trong đó CTR y tế nguy hại tính trung bình là 0,14 - 0,2
kg/giường/ngày. Tuy nhiên với lượng rác khổng lồ mới chỉ có 1/3 được đốt
bằng lò điện hiện đại, số còn lại được thiêu ngoài trời, đốt bằng lò thủ công,
chôn trong khuôn viên bệnh viện hoặc thải ra bãi rác chung dẫn đến nguy
cơ gây ô nhiễm môi trường, lây lan mầm bệnh rất cao. Đây là điều hết sức
nguy hiểm cho sức khỏe cộng đồng. Việc quản lý chất thải rắn bệnh viện tại
địa bàn tỉnh Bắc Kạn cũng nằm trong bối cảnh chung, do đó việc cải thiện điều
kiện quản lý chất thải rắn tại bệnh viện Đa khoa tỉnh Bắc Kạn nhằm chủ động
phòng bệnh và bảo vệ môi trường là vấn đề hết sức cấp bách.
Trước những hiện trạng thực tế trên, hiện trạng quản lý CTRYT trên

Giảm tới mức thấp nhất các ảnh hưởng của CTRYT đến môi trường
và sức khoẻ con người. 4

Phần 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1. Cơ sở khoa học
2.1.1. Khái niệm về chất thải rắn y tế
- Chất thải y tế: Theo điều 3 chương I quy chế quản lý chất thải y tế
năm 2007: “ Chất thải y tế là vật chất ở thể rắn, lỏng, khí được thải ra từ
các cơ sở y tế bao gồm chất thải y tế nguy hại và chất thải thông thường.
Chất thải y tế phát sinh từ hoạt động khám chữa bệnh, chăm sóc, xét
nghiệm, phòng bệnh, nghiên cứu, đào tạo y tế.” [1]
- Chất thải rắn y tế thông thường: Là chất thải rắn y tế không chứa
các chất và hợp chất có một trong các đặc tính nguy hại trực tiếp hoặc

a. Thành phần vật lý
Thành phần vật lý của CTRYT gồm các dạng sau:
+ Bông vải sợi: Gồm bông băng, gạc, quần áo, khăn lau, vải trải
+ Giấy: Hộp đựng dụng cụ, giấy gói, giấy thải từ nhà vệ sinh
+ Nhựa: Hộp đựng, bơm tiêm, dây chuyền máu, túi đựng hàng
+ Thủy tinh: Chai lọ, ống tiêm, bơm tiêm thủy tinh, ống nghiệm
+ Nhựa: Hộp đựng, bơm tiêm, dây truyền máu,túi đựng
+ Kim loại: Dao kéo mổ, kim tiêm
b.Thành phần hóa học
Thành phần hóa học gồm 2 loại sau:
+ Vô cơ: Hóa chất, thuốc thử
+ Hữu cơ: Đồ vải sợi, phần cơ thể, thuốc
c. Thành phần sinh học: Mũ, bệnh phẩm, bộ phận cơ thể bị cắt bỏ 6

Bảng 2.1: Thành phần trong chất thải rắn bệnh viện ở Việt Nam được thống kê

Thành phần Lượng (%)
Giấy các loại 3,0
Kim loại, vỏ hộp 0,7
Thủy tinh, ống kiêm, chai lọ thuốc,bơm kim tiêm nhựa 3,0
Bông băng, bột bó gãy xương 9,0
Chai, túi nhựa các loại 10,0
Bệnh phẩm 0,6
Rác hữu cơ 52,7
Đất đá và các loại vật rắn khác 21,0
(Nguồn: Bộ Y tế, 2009)[2]


* Chất thải phóng xạ
Tại các cơ sở y tế, chất thải phóng xạ phát sinh từ các hoạt động chuẩn
đoán, hóa trị liệu và nghiên cứu. Chất thải phóng xạ bao gồm: chất thải rắn,
lỏng, khí.

Chất thải phóng xạ rắn bao gồm: các vật liệu sử dụng trong các xét
nghiệm, chuẩn đoán, điều trị: như ống tiêm, bơm tiêm, kim tiêm, kính bảo
hộ, giấy thấm, gạc sát khuẩn, ống nghiệm, chai lọ đựng chất phóng xạ…

Chất thải phóng xạ lỏng bao gồm: dung dịch có chứa nhân phóng
xạ phát sinh trong quá trình chuẩn đoán, điều trị như nước tiểu của người
bệnh, các chất bài tiết, nước súc rửa các dụng cụ có chứa phóng xạ…

Chất thải phóng xạ khí bao gồm: các chất khí dùng trong lâm sàng,
các khí thoát ra từ các kho chứa chất phóng xạ…
* Chất thải hóa học
Các chất hóa học có thể gây ra hàng loạt các nguy hại trong quá trình
tiêu hủy dưới dạng đơn chất hoặc kết hợp với các chất hóa học. Vì vậy,

8

phải phân loại chất thải hóa học thành hai loại, chất thải hóa học không
nguy hại và chất thải hóa học nguy hại.
Chất thải hóa học được coi là nguy hại nếu có ít nhất một trong các
đặc tính sau:
• Gây độc
• Ăn mòn như axít có độ pH < 2 hoặc có độ kiềm >12
• Dễ cháy
• Hoạt hóa (gây nổ, hoạt hóa trong nước)
Chất thải hóa học không nguy hại như đường, axít béo, một số muối

* Chất thải sinh hoạt
Chất thải sinh hoạt không bị nhiễm các yếu tố nguy hại, phát sinh từ
các buồng bệnh, phòng làm việc, hành lang, các bộ phận cung ứng, nhà
kho, nhà giặt, nhà ăn… bao gồm: giấy bao, tài liệu, vật liệu đóng gói, thùng
cát tông, túi nilon, túi đựng phim, vật liệu gói thực phẩm, thức ăn dư thừa
của người bệnh và chất thải quét dọn từ các sàn nhà.
Chất thải ngoại cảnh: Lá cây và chất thải từ các khu vực ngoại cảnh.
2.2. Cơ sở pháp lý
- Luật bảo vệ môi trường 2005
- Quyết định số 43/2007/QĐ-BYT ngày 30 tháng 11 năm 2007 của Bộ
Y tế về việc ban hành Quy chế quản lý chất thải y tế;
- Quyết định số 2149/QĐ/TTg ngày 17 tháng 12 năm 2009 của Thủ
tướng Chính phủ Phê duyệt chiến lược quốc gia về quản lý tổng hợp CTR
đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2050;
- Nghị định số 117/2009/NĐ-CP ngày 31 tháng 12 năm 2009 của Chính
phủ về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ môi trường.
- Thông tư số 12/2011/TT-BTNMT ngày 14/4/2011 của Bộ Tài
nguyên và Môi trường quy định về quản lý chất thải nguy hại;

10
- Nghị định số 29/2011/NĐ-CP ngày 18 tháng 4 năm 2011 của Thủ
tướng Chính phủ quy định về đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác
động môi trường, cam kết bảo vệ môi trường;
- Quyết định số 2038/QĐ-TTg ngày 15 tháng 11 năm 2011 của Thủ
tướng Chính phủ phê duyệt đề án tổng thể xử lý chất thải Y tế giai đoạn
2011 - 2015 và định hướng đến năm 2020;
- Thông tư số 26/2011/TT-BTNMT ngày 18 tháng 7 năm 2011 của Bộ
Tài nguyên và Môi trường Quy định chi tiết một số điều của Nghị định số
29/2011/NĐ-CP ngày 18 tháng 4 năm 2011 của Chính phủ về đánh giá môi
trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường, cam kết bảo vệ môi trường;


Châu lục
Tổng lượng chất
thải (Kg/giường
bệnh/ngày)
CTRYT nguy hại

(Kg/giường
bệnh/ngày)
Bắc Mỹ 7 – 10 0,7 – 2,0
Mỹ La tinh 3 – 6 0,3 – 1,2
Đông Á
Các nước có thu nhập cao
Các nước có thu nhập trung bình

2,5 – 4
1,8 – 2 2

0,3 – 0,8
0,2 – 0,5
Đông Âu 1,4 – 2 0,2 – 0,4
Trung Đông 1,3 – 3 0,2 – 0,6
(Nguồn: Tổ chức Y tế thế giới, 2009)[4]
2.3.2. Thực trạng công tác quản lý CTRYT trên thế giới
Trên thế giới, quản lý rác thải bệnh viện được nhiều quốc gia quan
tâm và tiến hành một cách triệt để từ rất lâu. Về quản lý, một loạt những
quy định đã được ban hành nhằm kiểm soát chặt chẽ loại chất thải này. Các
hiệp ước quốc tế, các nguyên tắc, pháp luật quy định về chất thải nguy hại,
trong đó chất thải bệnh viện cũng đã được công nhận và thực hiện ở hầu hết
các quốc gia trên thế giới.

trùng và có thể giảm khối lượng rác thải y tế tới 90%. Tuy nhiên công nghệ
đốt để lại nhiều vấn để môi trường phải xử lý thêm như tạo ra tro bụi và
đồng thời phát ra khí dioxin gây bệnh ung thư. Với lý do này các tổ chức
thế giới đã khuyến nghị không tiếp tục sử dụng công nghệ lò đốt để xử lý

13
rác thải y tế lây nhiễm, thay vào đó là sử dụng các công nghệ thay thế khác
có khả năng xử lý triệt để hơn.
* Công nghệ lò hấp
Lò hấp được sử dụng rộng rãi nhất trong ngành y tế để tiết trùng các
thiệt bị y tế và xử lý rác thải y tế lây nhiễm trở thành rác thải thông thường.
Công nghệ lò hấp sử dụng sự kết hợp giữa xử lý ở nhiệt độ cao, hấp hơi và
tạo áp lực lớn để khử vi trùng, vi rút gây bệnh và các mầm sinh học để biến
rác thải y tế độc hại trở thành rác thải thông thường có thể được xử lý theo
quy trình bình thường như chôn xuống đất. Công nghệ lò hấp có mức độ
tiêu diệt virus và tác nhân gây bệnh cao nhất so với các loại hình công nghệ
khác. Vì những ưu điêm trên, Công nghệ lò hấp được lựa chọn phổ biến sử
dụng trong các bệnh viện để thay thế dần cho công nghệ lò đốt.
* Tiệt trùng bằng hóa chất
Xử lý rác thải y tế bằng hóa chất tức là sử dụng hóa chất để loại bỏ
sự độc hại của rác thải y tế, biến chúng thành rác thải thông thường. Hóa
chất được kết hợp với nước nóng để khử trùng. Các loại hóa chất hay sự
dụng là Chlorine, khí Ozone, Formaldehyde, Ethylene, khí oxit,
khí propylene oxide và axít periacetic. Công nghệ này cho phép xử lý triệt
để một số loại rác thải, tuy nhiên nó vẫn tạo ra những hiệu ứng phụ đối với
phần rác thải sau xử lý. Vì vậy việc sử dụng cách thức tiệt trùng bằng hóa
chất ít được sử dụng trong các bệnh viện do các loại rác thải y tế rất đa
dạng dẫn tới khó đảm bảo rác thải sau xử lý hoàn toàn đã tiệt trùng.
* Xử lý bằng công nghệ vi sóng
Công nghệ xử lý bằng vi sóng được sử dụng khá phổ biến tại các cơ


15
2.4. Thực trạng quản lý và xu hướng xử lý chất thải rắn y tế tại Việt Nam
2.4.1. Hiện trạng phát sinh chất thải rắn y tế tại Việt Nam
Theo nghiên cứu điều tra mới nhất của Cục Khám chữa bệnh - Bộ Y
tế và Viện Kiến trúc, Quy hoạch Đô thị và Nông thôn - Bộ Xây dựng, năm
2009-2010, tổng lượng CTR y tế trong toàn quốc khoảng 100-140
tấn/ngày, trong đó có 16-30 tấn/ngày là CTR y tế nguy hại. Lượng CTR
trung bình là0,86 kg/giường/ngày, trong đó CTR y tế nguy hại tính trung
bình là 0,14 - 0,2 kg/giường/ngày. CTR y tế phát sinh ngày càng gia tăng ở
hầu hết các địa phương, xuất phát từ một số nguyên nhân như: gia tăng số
lượng cơ sở y tế và tăng số giường bệnh; tăng cường sử dụng các sản phẩm
dùng một lần trong y tế; dân sốgia tăng, người dân ngày càng được tiếp cận
nhiều hơn với dịch vụ y tế.
Bảng 2.4: Khối lượng chất thải y tế của một số địa phương năm 2009
Loại
đô thị
Tỉnh/Tp
Lượng
CTR y tế
(tấn/năm)
Loại
đô thị
Tỉnh/Tp
Lượng
CTR y tế
(tấn/năm)
Loại
đô thị
Tỉnh/Tp


Bình
Dương
1.241

Sóc
Trăng
266,7

Lâm
Đồng
209,3

Điện Biên 79,1

Sơn La 175

Nam
Định
488

Hà Giang 405

TràVinh 400 (**)

Nghệ An 187,6

Hà Nam 967

Vĩnh

Đồng
Nai
430,8

Long An 369

Tp. Hồ
Chí
Minh

2800(**)

Phú Thọ 126,54

Quảng
Nam
602,25(Nguồn: Báo cáo môi trường quốc gia, 2011)
Ghi chú: (*) Số liệu năm 2006; (**) Số liệu năm 2007 16

Trong CTR y tế, thành phần đáng quan tâm nhất là dạng CTNH, do
nguy cơ lây nhiễm mầm bệnh và hóa chất độc cho con người. Lượng
CTNH y tế phát sinh không đồng đều tại các địa phương, chủ yếu tập trung
ở các tỉnh, thành phố lớn. Xét theo 7 vùng kinh tế trong cả nước (trong đó
vùng Đông Bắc và vùng Tây Bắc Bắc Bộ được gộp chung vào 1 vùng),

nhiều so với các CTR sinh hoạt, do vậy đòi hỏi việc phân loại chất thải phải
đạt hiệu quả và chính xác (bảng 2.4).
Bảng 2.5: Sự biến động về khối lượng chất thải y tế nguy hại phát sinh
tại các loại cơ sở y tế khác nhau
(ĐVT: kg/giường bệnh/ngày)
Loại bệnh viện Năm 2005 Năm 2010
Bệnh viện đa khoa TW 0,35 0,42
Bệnh viện chuyên khoa TW 0,23 - 0,29 0,28 - 0,35
Bệnh viện đa khoa tỉnh 0,29 0,35
Bệnh viện chuyên khoa tỉnh 0,17 - 0,29 0,21 - 0,35
Bệnh viện huyện, ngành 0,17 - 0,22 0,21 - 0,28
(Nguồn: Báo cáo môi trường quốc gia, 2011)[11]
Quy trình phân loại, thu gom, vận chuyển và lưu giữ chất thải
rắn y tế đã có nhiều tiến bộ, nhiều cơ sở y tế thực hiện đúng theo quy chế
quản lý chất thải y tế. Nhiều bệnh viện đã xây dựng khu lưu giữ chất thải
tập trung tại bệnh viện.
Tuy nhiên, sự hỗ trợ của các ban, ngành trong việc cấp kinh phí đầu
tư trang bị phương tiện cho hoạt động thu gom, vận chuyển chất thải y tế
nguy hại còn hạn chế và chưa đồng bộ.[
Năm 2010, đã phát hiện nhiều hiện tượng đưa CTR y tế ra ngoài bán,
tái chế trái phép thành các vật dụng thường ngày. Việc tái sử dụng các găng
tay cao su, các vật liệu nhựa đã và đang tạo ra nhiều rủi ro cho những người

Trích đoạn Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Công tác thu gom và xử lý chất thải yt ết ại bệnh viện Đa khoa
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status