DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
UBND : Ủy ban nhân dân
BNN&PTNT : Bộ Nông nghiệp và phát triển Nông thôn
LMLM : Lở mồm long móng
ĐBSH : Đồng bằng Sông Hồng
ĐBSCL : Đồng bằng Sông Cửu Long
TX : Thị xã
KH : Kế hoạch
QCMT : Quy chuẩn môi trường
TCMT : Tiêu chuẩn môi trường
DTM : Đánh giá tác động môi trường
BVMT : Bảo vệ môi trường
DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1. Số lượng lợn phân theo các vùng của Việt Nam 23
Bảng 2.2. Số lượng lợn lái qua các năm 26
Bảng 2.3. Sản lượng thịt lợn hơi qua các năm 27
Bảng 2.4. Số lượng lợn thịt qua các năm 28
Bảng 2.5. Khối lượng phân và nước tiểu của gia súc thải ra trong
1 ngày đêm 32
Bảng 2.6. Một số thành phần vi sinh vật trong chất thải rắn chăn nuôi lợn
33
Bảng 4.1: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế huyện Phổ Yên thời kỳ 2005-2013
40
Bảng 4. 2: Số lượng gia súc, gia cầm huyện Phổ Yên 2010 - 2013 43
Bảng 4.3. Số trang trại ở huyện Phổ Yên, Tỉnh Thái Nguyên 46
Bảng 4.4: Quy mô chăn nuôi của trang trại nghiên cứu năm 2013 46
Bảng 4.5. Số lượng đầu lợn của huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên qua
các năm 47
Bảng 4.6. Sản lượng thịt lợn hơi xuất chuồng của huyện Phổ Yên, tỉnh
Thái Nguyên 47
Bảng 4.7. Mô hình chăn nuôi lợn đang áp dụng tại một số trang trại 48
KH 1
: Kế hoạch 1
QCMT 1
: Quy chuẩn môi trường 1
TCMT 1
: Tiêu chuẩn môi trường 1
DTM 1
: Đánh giá tác động môi trường 1
BVMT 1
: Bảo vệ môi trường 1
DANH MỤC BẢNG 2
DANH MỤC HÌNH 3
MỤC LỤC 4
Phần 1
MỞ ĐẦU 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục đích của đề tài 3
1.3 Yêu cầu của đề tài 3
1.4 Ý nghĩa của đề tài 3
Phần 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU 5
2.1 Cơ sở khoa học của đề tài 5
2.1.1 Cơ sở lý luận 5
2.1.2 Cơ sở pháp lý 6
2.2 Hiện trạng phát triển chăn nuôi trên thế giới và Việt Nam 8
2.2.1 Hiện trạng chăn nuôi trên thế giới 8
2.2.2 Hiện trạng chăn nuôi ở Việt Nam 14
2.3 Hiện trạng môi trường trong chăn nuôi 19
2.3.1 Hiện trạng môi trường chăn nuôi trên Thế giới 19
2.3.2 Hiện trạng môi trường chăn nuôi ở Việt Nam 21
Nguyên 48
4.2.3 Tình hình sử dụng thức ăn và nước uống, nước rửa chuồng trại 49
4.2.4 Các hình thức xử lý chất thải rắn và nước thải của các trang trại chăn
nuôi lợn 50
4.2.5 Đánh giá hiện trạng các biện pháp xử lý chất thải trong chăn nuôi lợn
đang áp dụng tại các trang trại 52
4.3 Đánh giá chất lượng nước thải tại một số trang trại chăn nuôi lợn trên địa bàn
các huyện phía Nam tỉnh Thái Nguyên. 56
4.4. Nhận thức của người chăn nuôi với công tác vệ sinh môi trường 58
4.5 Đề xuất biện pháp giảm thiểu ô nhiễm môi trường từ các trang trại chăn nuôi
lợn. 60
4.5.1. Biện pháp Luật chính sách 60
4.5.2. Biện pháp công nghệ 60
4.5.3. Biện pháp tuyên truyền giáo dục 61
PHẦN 5
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 63
5.1 Kết luận: 63
5.2. Kiến nghị 64
TÀI LIỆU THAM KHẢO 65
Phần 1
MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Chăn nuôi lợn ở Việt Nam đang chuyển dịch nhanh từ hệ thống chăn
nuôi nhỏ lẻ nông hộ sang chăn nuôi trang trại tập trung đáp ứng nhu cầu thực
phẩm ngày càng tăng của người tiêu dùng.
Tuy nhiên, việc chăn nuôi lợn trang trại tập trung ở Việt Nam đã và
đang gây nên ô nhiễm môi trường không khí và nước nghiêm trọng do đào
thải N, P, phát thải khí amoniac, khí gây mùi và khí gây hiệu ứng nhà kính
(GHG) từ chất thải gây nên thách thức sự phát triển bền vững của phương
thức chăn nuôi lợn trang trại tập trung.
Sông Công); trại giống lợn Tân Thái (huyện Đồng Hỷ)
Trước thực tế này, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh đã xây dựng đề
án bảo vệ và cải thiện môi trường nông nghiệp nông thôn đến năm 2020, đồng
thời tiến hành kiểm tra công tác bảo vệ môi trường tại 11 trang trại chăn nuôi
lợn tập trung, xử lý vi phạm 4 trang trại với số tiền hơn 100 triệu đồng. Tuy
nhiên việc yêu cầu các trang trại xử lý chất thải, nâng cấp hệ thống xử lý nước
thải của các trang trại vẫn còn gặp nhiều khó khăn do chi phí đầu tư, vận hành
hệ thống xử lý chất thải, nước thải rất tốn kém, ảnh hưởng đến lợi nhuận của
các trang trại chăn nuôi nên hầu hết các trang rại đều "trốn" đầu tư đầy đủ các
công trình bảo vệ môi trường cần thiết. Bênh cạnh đó, trong quy hoạch phát
triển chăn nuôi chưa có quy hoạch vùng chăn nuôi đảm bảo yêu cầu bảo vệ
môi trường Do đó, thời gian tới, ngành Tài nguyên và Môi trường phối hợp
với ngành Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tăng cường kiểm tra, xử lý,
2
đình chỉ sản xuất đối với các trang trại có hành vi gây ô nhiễm môi trường
nghiêm trọng; yêu cầu các trang trại phải có đầy đủ công trình, bện pháp bảo
vệ môi trường đáp ứng yêu cầu về xử lý ô nhiễm được xác nhận của cơ quan
chức năng trước khi đưa vào hoạt động; khẩn trương quy hoạch vùng chăn
nuôi cho từng loại vật nuôi, từng bước hạn chế, không cho phép chăn nuôi gia
trại, chăn nuôi quy mô nhỏ trong khu dân cư.
Xuất phát từ thực tế đó, em tiến hành đề tài “ Đánh giá hiện trạng và đề
xuất giải pháp quản lý chất thải, nước thải của trang trại chăn nuôi lợn
tại huyện Phổ Yên - tỉnh Thái Nguyên.”
1.2 Mục đích của đề tài
- Đánh giá công tác xử lý chất thải, mức độ ô nhiễm một số yếu tố môi
trường trong chăn nuôi lợn đang áp dụng tại các trang trại, từ đó đề xuất các
giải pháp giảm thiểu ô nhiễm môi trường trong các trang trại chăn nuôi lợn
trong điều kiện thực tế ở địa phương.
1.3 Yêu cầu của đề tài
- Các số liệu điều tra phải chính xác, khách quan và đáng tin cậy.
Với những đặc điểm riêng có, chăn nuôi lợn là hoạt động sản xuất có
thể tận dụng được lao động và thức ăn thừa góp phần tiết kiệm chi phí và tăng
một phần thu nhập cho gia đình, cho nên hoạt động chăn nuôi này chính là
loại hình chăn nuôi phổ biến nhất trong số các loại hình chăn nuôi ở Việt Nam
hiện nay.
Đối với các hộ gia đình sản xuất nhỏ, chăn nuôi lợn là hoạt động chính
để tiết kiệm thức ăn thừa, lao động nhàn rỗi, tạo nguồn phân bón hữu cơ cho
ngành trồng trọt và cải tạo chất đất, tăng sức sản xuất cho đất nông nghiệp.
Hiện nay, với sự phát triển của khoa học công nghệ, chăn nuôi lợn với
quy mô lớn sẽ là biện pháp hiệu quả để tiết kiệm chi phí mua chất đốt và điện
thắp sáng nhờ sử dụng khí Biogas từ chăn nuôi lợn.
Mặt khác, theo báo cáo của tổ chức Nông lương Liên Hiệp Quốc
(FAO) cho thấy nghành chăn nuôi đã và đang gây ra những vấn đề về môi
trường nghiêm trọng như thoái hóa đất, biến đổi khí hậu, ô nhiễm không khí,
gây thiếu nước, ô nhiễm nguồn nước, mất đa dạng sinh học. Tổng diện tích
5
cho ngành chăn nuôi chiếm 26% diện tích bề mặt không phủ băng tuyết của
trái đất, thêm vào đó là 33% diện tích đất trồng được dành để sản xuất thức ăn
chăn nuôi. Vì vậy việc mở rộng chăn nuôi dẫn đến mất rừng làm cho đất bị
sói mòn vào mùa mưa và khô hạn vào mùa khô.
Trong quá trình chăn nuôi lượng khí CO
2
thải ra chiếm 9% toàn cầu và
lượng khí CH
4
( một loại khí có khả năng gây hiệu ứng nhà kính cao gấp 23
lần CO
2
) chiếm 37%. Quá trình chăn nuôi còn tạo ra 65% lượng khí Nox (có
khả năng gây hiệu ứng nhà kính cao gấp 296 lần CO
bổ sung một số điều của nghị định số 80/2006/NĐ-CP, ngày 09 tháng 08 năm
2006 của chính phủ về việc quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số
điều của Luật Bảo vệ môi trường.
- Thông tư liên tịch số 69/2000/TTLT-BNN-TCTK ngày 26 tháng 3
năm 2000 của liên Bộ Nông nghiệp và Tổng Cục Thống kê. Quy định về tiêu
chí đánh giá quy mô của một trang trại chăn nuôi.
- Nghị quyết 41/NQ-TU của Bộ chính trị về bảo vệ môi trường trong
thời kì đẩy mạnh công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước.
- QCVN 24:2009-BTNMT: Quy chuẩn kĩ thuật quốc gia về nước thải
công nghiệp.
- QCVN 01-14 -2010/BNN&PTNT: Điều kiện trang trại chăn nuôi lợn
an toàn sinh học
- QCVN 01-15 -2010/BNN&PTNT: Điều kiện trang trại chăn nuôi gia
cầm an toàn sinh học
- QCVN 01-79 -2011/BNN&PTNT: Quy trình đánh giá kiểm tra điều
kiện vệ sinh thú y
- Thông tư 04/2010/TT-BNNPTNT: Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về
điều kiện trại chăn nuôi lợn, trại chăn nuôi gia cầm an toàn sinh học.
- QCVN 01-12:2009/BNNPTNT: Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về Thức
ăn chăn nuôi - Hàm lượng kháng sinh, hoá dược, vi sinh vật và kim loại nặng
tối đa cho phép trong thức ăn hỗn hợp.
7
- QCVN 01 - 39: 2011/BNNPTNT: Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về vệ
sinh nước dùng trong chăn nuôi.
- QCVN 01 - 78: 2011/BNNPTNT: Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về
Thức ăn chăn nuôi - Các chỉ tiêu vệ sinh an toàn và mức giới hạn tối đa cho
phép trong thức ăn chăn nuôi.
- Quyết định 628/QĐ-UBND về việc phê duyệt Đề án phát triển chăn
nuôi tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2013-2020.
2.2 Hiện trạng phát triển chăn nuôi trên thế giới và Việt Nam
là gần 42 kg/năm, chỉ tiêu này vẫn không ngừng tăng lên và rất chênh lệch
giữa các vùng và khu vực. Tại các nước đang phát triển, tiêu thụ bình quân
chỉ là 30 kg, trong khi tại các nước phát triển là trên 80 kg. Các chuyên gia dự
đoán rằng, đến năm 2050, sản lượng thịt toàn thế giới sẽ tăng gấp đôi, vào
khoảng 465 triệu tấn. Sự tăng giá lương thực, thực phẩm trong thời gian gần
đây đã thúc đẩy người tiêu dùng lựa chọn các loại thịt giá rẻ hơn, chẳng hạn
như thịt gà. Sản lượng thịt gia cầm toàn cầu trong năm 2007 là 93 triệu tấn,
tăng 4% hàng năm.
Hoa Kỳ là nước sản xuất các sản phẩm gia cầm lớn nhất thế giới, tiếp
theo là các nướcArgentina, Brazil, Trung Quốc, Philippin, và Thái Lan. Ấn
Độ có mức tăng chậm hơn vì sự lây lan mạnh của vi rút H5N1, dịch cúm gia
cầm đã giết hàng triệu gia cầm.
Năm 2007, sản lượng thịt lợn đã tăng gần 2 %, đạt 101 triệu tấn. Cũng
năm này, dịch bệnh về đường hô hấp đã làm giảm ít nhất 1 triệu con ở Trung
Quốc. Tuy vậy, nước này vẫn tiếp tục dẫn đầu thế giới về sản xuất thịt lợn,
cho dù ngành chăn nuôi lợn đang được mở rộng ở Nam Mỹ: Argentina,
Brazil, và Chilê… nhờ vào lợi thế có thức ăn dồi dào, giá rẻ.
9
Trong năm 2007, sản lượng thịt bò tăng 2,3 %, đạt gần 67 triệu tấn.
Hoa Kỳ vẫn là nước lớn nhất thế giới sản xuất các sản phẩm thịt bò. Mặc dù
vậy, 56 % sản lượng thịt bò vẫn do các nước đang phát triển cung cấp.
Về thức ăn, hơn 1/3 ngũ cốc và 90% đậu tương trên thế giới không phải
để làm thức ăn cho người mà để làm thức ăn gia súc. Sản xuất đậu tương làm
thức ăn gia súc ước tính tăng 60% trong năm 2020. Sự gia tăng này đã làm
mất đi nhiều cánh rừng đại ngàn quý giá ở Bra-xin, Pa-ra-goay vàArgentina,
làm mất đi môi trường sống hoang dã và đa dạng sinh học. Việc trồng đỗ
tương đã làm mất đi 8 tấn đất/ha/năm do sói mòn và rửa trôi (WWF), nhiều
cánh rừng bị thu hẹp lại, nhường chỗ cho các cánh đồng đậu tương bạt ngàn.
Chăn nuôi tức là chuyển đạm thực vật thành đạm động vật. Việc sản
xuất protein động vật từ thực vật đã giảm hiệu quả đi rất nhiều. Trên một diện
Giống lợn: trên khắp thế giới, có rất nhiều giống lợn bản địa đang tồn
tại, chúng thích nghi tốt với các điều kiện địa phương. Lợn thương phẩm bao
gồm các giống chủ yếu: Landraces (Đan Mạch, Đức, Hà Lan, Ý…), các giống
Đại bạch ở châu Âu, được lai với giống Pietrain của Bỉ. Ở châu Á, có các
giống lợn đen Bắc Kinh, Meissan, của Trung Quốc và Móng Cái của Việt
Nam rất phổ biến.Cũng như ở gà, hầu hết lợn thương phẩm đều là con lai.
2.3.1.2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ trứng
Từ 1990 -2005, sản lượng trứng của toàn thế giới đã tăng gấp đôi, đạt
64 triệu tấn, thấp hơn 1% so với năm 2004. Ngày nay, cả thế giới đang nuôi
khoảng 4,93 tỷ con gà đẻ, năng suất trung bình là 300 trứng/năm. Theo dự
kiến của FAO, đến năm 2015, thế giới sẽ sản xuất 72 triệu tấn trứng .
Trong hơn bốn thập kỷ vừa, sản xuất trứng liên tục tăng lên ở Hoa Kỳ, Nhật
Bản, Ấn Độ, và Mê-hi-cô. Hầu hết các nước đang phát triển cũng có sản
lượng trứng tăng nhằm đáp ứng nhu cầu của sự tăng dân số. Từ 1990 đến
2005, Trung Quốc chiếm 64 % sự tăng trưởng sản lượng trứng của toàn thế
11
giới. Năm 2005, một mình Trung Quốc sản xuất gần 44% sản lượng trứng
toàn cầu, đạt 28,7 triệu tấn, gấp năm lần nước đứng tiếp theo trong bảng phân
loại, xu hướng này sẽ còn tiếp tục. Dự đoán, đến năm 2015, sản lượng trứng của
nước này sẽ tăng lên 23%. Năm 2000, các nước đang phát triển ở châu Á đã sản
xuất gấp hai lần sản lượng trứng của tất cả các nước công nghiệp phát triển.
Sản lượng trứng ở Hoa Kỳ năm 2005 tăng 13% so với năm 1995 (trong
khi ở Trung quốc là 34% cùng kỳ). Các nước Anh, Nhật Bản, Hung-ga-ri, và
Đan Mạch, sản lượng trứng năm 2000 thấp hơn năm1998. Từ năm 1961 -
2000, ở các nước công nghiệp phát triển tốc độ tăng trưởng khá thấp, chỉ đạt
1,6%; tăng từ 18 triệu đến 20 triệu tấn, do cung đã bão hòa và vượt quá nhu
cầu trong nước.
Ở các nước công nghiệp, người dân tiêu thụ trứng gấp 2 lần so với các
nước đang phát triển, trung bình là 226 quả/năm. Có 30 quốc gia có tốc độ
tăng trưởng bình quân đầu người nhanh nhất, trong đó có Trung Quốc,
cơ bản chuyển từ sản xuất tại các nông trại truyền thống, chăn thả nhỏ lẻ
sang trang trại quy mô lớn, gần 60 % trứng của Trung Quốc sản xuất năm
2005 đã được sản xuất trong các trang trại có từ 500 mái đẻ trở lên. Ở các
nước đang phát triển, các trang trại chăn nuôi lớn chủ yếu nằm trong các khu
vực gần hay ngay trong các thành phố lớn, gây ô nhiễm môi trường nặng nề,
đây cũng là thách thức lớn của thế kỷ 21.
Trong thời gian gần đây, trên thế giới xuất hiện ngày càng nhiều bệnh
dịch mới, điển hình là dịch cúm gia cầm, cúm lợn, tai xanh, bò điên…chúng
lây lan rất nhanh trong điều kiện chăn nuôi chật chội, tập trung đông đúc.
13
Việc sử dụng thuốc kháng sinh tràn lan trong các trang trại công nghiệp đã
làm cho hiện tượng nhờn thuốc trở nên phổ biến. Ở Hoa Kỳ, ngành chăn nuôi
tiêu thụ đến 70% tổng lượng thuốc kháng sinh hàng năm.
Từ giữa tháng 11/2003 đến tháng 2/2004, ở Thái Lan, để ngăn chặn sự
lây lan của dịch cúm gia cầm, người ta đã hủy diệt của gần một nửa trong
tổng số đàn gà đẻ 30 triệu con của nước này.
Ngành chăn nuôi đang thải ra 18 % lượng khí gây hiệu ứng nhà kính
(greenhouse gas -GHG), lượng carbon dioxide do chăn nuôi thải ra cao hơn
nhiều so với ngành giao thông vận tải. Bên cạnh đó, ngành này còn thải ra 37
% khí methane (làm nóng trái đất, tác hại gấp 20 lần ảnh hưởng của khí
carbon dioxide), 65% nitơ oxide, một trong những loại khí gây hiệu ứng nhà
kính mạnh nhất, hầu hết đều từ phân động vật. Phần lớn chất thải của các
trang trại chăn nuôi công nghiệp đã vượt quá nhu cầu sử dụng của các trang
trại trồng trọt lân cận. Kết quả là, phân, từ chỗ là một nguồn phân bón cólợi
trở thành chất thải độc hại: nitrat, kim loại nặng, thuốc kháng sinh … trong
phân thấm vào nước ngầm, gây ô nhiễm nước bề mặt, đe dọa nghiêm trọng
sức khỏe cộng đồng.
Thái Lan đã thành công khi đưa ra chính sách đánh thuế rất cao đối với
những trang trại trong vùng có bán kính cách trung tâm thủ đô Bangkok 100
km, nhờ vậy, trong hơn một thập kỉ qua, số lượng gia súc trong khu vực này
dân vẫn là chủ yếu. Các hộ nông dân thường nuôi từ 2 đến 3 con trâu bò, 5
đến 10 con lợn và 20 đến 30 con gia cầm/hộ. Đây là hình thức chăn nuôi
truyền thống đã có từ lâu đời ở nông thôn Việt Nam, việc chăn nuôi nhỏ lẻ
theo hộ gia đình này có thể kết hợp được với trồng trọt, tận dụng các phế
phẩm thừa của nông nghiệp, quy mô nhỏ, ít gây ô nhiễm cho môi trường và
15
hiệu quả kinh tế không cao.
Trong những năm gần đây việc phát triển chăn nuôi theo quy mô trang
trại tập trung phát triển mạnh: xu hướng chuyển từ chăn nuôi nhỏ lẻ, phân tán
theo hộ gia đình dần chuyển theo chăn nuôi trang trại tập trung theo hướng
sản xuất hàng hóa diễn ra mạnh ở nước ta. Trong giai đoạn 2006 đến 2010 thì
số lượng các trang trại chăn nuôi ở nước ta phát triển mạnh mẽ về số lượng
cũng như quy mô. Năm 2006 cả nước có khoảng 17.721 đến năm 2010 đã
tăng lên 23.558 trang trại. Việc tập trung chăn nuôi theo trang trại đem lại
hiệu quả kinh tế cao đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế hàng hóa nhưng những
trang trại theo hướng chuyên môn hóa cao đã gây ra sự ô nhiễm môi trường.
Do các chất thải chăn nuôi đã làm ảnh hưởng trực tiếp tới hệ sinh thái, chuỗi
thức ăn và sức khỏe con người. Trong quá trình chăn nuôi gia súc và gia cầm,
quá trình lưu trữ và sử dụng chất thải tạo nên nhiều chất độc như là SO2,
H2S, CO2, NH3,…. Và các vi sinh vật có hại như Enterobacteracea, E.coli,
Salmonella,…. Hay các ký sinh trùng gây bệnh cho người. Các yếu tố này có
thể gây ô nhiễm khí quyển, nguồn nước thông qua các quá trình lan truyền
độc tố và các nguồn gây bệnh hay quá trình sử dụng các sản phẩm chăn nuôi.
Những vấn đề này cần được giải quyết và quản lý chặt chẽ
* Những thuận lợi và khó khăn của ngành chăn nuôi ở Việt Nam
-Thuận lợi
Trong thời gian gần đây, Đảng và Nhà nước rất quan tâm đến vấn đề
bảo vệ môi trường. Ngoài Luật môi trường, nhiều văn bản của Chính phủ, các
bộ ngành đã được ban hành phục vụ công tác bảo vệ môi trường. Bộ Nông
nghiệp & Phát triển nông thôn đã quan tâm đến công tác bảo vệ môi trường
17
Chưa có tổ chức (phòng hoặc bộ phận) quản lý công tác bảo vệ môi
trường của cục Thú y và các địa phương. Hoạt động bảo vệ môi trường từ
trước đến nay được thực hiện dưới dạng các đề tài, dự án nghiên cứu theo đòi
hỏi của thực tế. Trình độ chuyên môn về bảo vệ môi trường của cán bộ chưa
đáp ứng yêu cầu, chưa được đào tạo về chuyên môn nghiệp vụ nên họ gặp
nhiều khó khăn khi thực thi công việc. Cơ sở vật chất và trang thiết bị tuy đã
được đầu tư nhưng chưa đầy đủ, đặc biệt các địa phương.
* Định hướng phát triển chăn nuôi tại Việt Nam
Trong số các nước thuộc khối ASEAN, Việt Nam là nước chịu áp lực
về đất đai lớn nhất. Tốc độ tăng dân số và quá trình đô thị hóa đã làm giảm
diện tích đất nông nghiệp. Để đảm bảo an toàn về lương thực và thực phẩm,
biện pháp duy nhất là thâm canh chăn nuôi trong đó chăn nuôi lợn là một
thành phần quan trọng trong định hướng phát triển.
Theo “Chiến lược phát triển chăn nuôi đến năm 2020” thì:
- Phát triển ngành chăn nuôi trở thành ngành sản xuất hàng hóa, từng
bước đáp ứng nhu cầu thực phẩm cho tiêu dùng trong nước và xuất khẩu.
- Tổ chức lại sản xuất ngành chăn nuôi theo hướng gắn sản xuất với thị
trường, bảo đảm an toàn dịch bệnh, vệ sinh thú y, bảo vệ môi trường và cải
thiện điều kiện an sinh xã hội, nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả
và vệ sinh an toàn thực phẩm.
- Tập trung phát triển sản phẩm chăn nuôi có lợi thế và khả năng cạnh tranh
như lợn, gia cầm, bò; đồng thời phát triển sản phẩm chăn nuôi đặc sản của vùng,
địa phương.
- Khuyến khích các tổ chức và cá nhân đầu tư phát triển chăn nuôi theo
hướng trang trại, công nghiệp; đồng thời hỗ trợ, tạo điều kiện hộ chăn nuôi theo
phương thức truyền thống chuyển dần sang phương thức chăn nuôi trang trại,
công nghiệp.
18