ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
MAI THANH HUYỀN Tên đề tài:
“
ĐÁNH GIÁ CÔNG TÁC QUẢN LÝ RÁC THẢI SINH HOẠT TẠI
XÃ NGA PHÚ, HUYỆN NGA SƠN, TỈNH THANH HÓA
”
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên ngành : Khoa học Môi trường
Khoa : Môi Trường
Khoá học : 2010 – 2014
Giảng viên hướng dẫn: Th.S Nguyễn Duy Hải
Khoa Môi trường – Trường Đại học Nông Lâm
Bảng 4.1: Hiện trạng sử dụng đất của xã Nga Phú 25
Bảng 4.2: Dân số và lao động của xã Nga Phú 26
Bảng 4.3: Nguồn phát sinh rác thải sinh hoạt tại Xã Nga Phú 29
Bảng 4.4: Lượng rác thải sinh hoạt phát sinh trên địa bàn 30
Bảng 4.5: Phương thức thu gom, xử lý rác thải sinh hoạt 31
Bảng 4.6: Kết quả điều tra nhận thức của người dân về các hình thức thu gom,
phân loại và xử lý rác thải sinh hoạt tại địa bàn xã 34
Bảng 4.7: Ý kiến người dân về việc phân loại rác tại nguồn 35
3
DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang
Hình 2.1: Sơ đồ nguồn phát sinh RTSH 5
Hình 2.2: Sơ đồ công nghệ xử lý chất thải bằng phương pháp Hydromex
Error! Bookmark not defined.
Hình 2.3: Sơ đồ công nghệ xử lý rác thải sinh hoạt của MỹError! Bookmark
not defined.
Hình 2.4: Hệ thống quản lý chất thải rắn 15
1.1. Đặt vấn đề 1
1.2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 2
1.2.1. Mục tiêu chung 2
1.2.2. Mục tiêu cụ thể 2
1.3. Yêu cầu của đề tài 2
1.4. Ý nghĩa của đề tài 3
1.4.1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học 3
1.4.2. Ý nghĩa thực tiễn 3
PHẦN 2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
2.1. Cơ sở khoa học của đề tài 4
2.1.1. Tổng quát về rác thải sinh hoạt 4
2.1.2. Cơ sở lý luận 10
2.1.3. Cơ sở pháp lý của đề tài 10
2.2. Cơ sở thực tiễn của đề tài 12
2.2.1. Hiện trạng quản lý rác thải sinh hoạt trên Thế giới và ở Việt Nam 12
Nga Sơn, Tỉnh Thanh Hóa 23
4.1.1. Điều kiện tự nhiên 23
4.1.2. Đặc điểm kinh tế - xã hội của Xã Nga Phú, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh
Hóa 26
4.2. Đánh giá nguồn phát sinh, lượng phát sinh và thành phần rác thải tại xã
Nga Phú, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa 29
4.2.1. Nguồn phát sinh rác thải sinh hoạt tại Xã Nga Phú 29
4.2.2. Lượng phát sinh và thành phần rác thải sinh hoạt tại xã Nga Phú, huyện
Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa 30
4.3. Đánh giá công tác thu gom, vận chuyển rác thải sinh hoạt trên địa bàn . 31
4.3.1. Phương thức thu gom, xử lý rác thải sinh hoạt trên địa bàn 31
4.3.2. Công tác vận chuyển, tập kết rác thải sinh hoạt trên địa bàn 33
4.3.3. Nhận thức của người dân về công tác thu gom, phân loại, xử lý rác thải
sinh hoạt 34
4.4. Những thuận lợi, khó khăn và đề xuất một số giải pháp quản lý rác thải
sinh hoạt trên địa bàn. 35
4.4.1. Thuận lợi và khó khăn trong công tác quản lý rác thải sinh hoạt 35
4.4.2. Đề xuất một số giải pháp quản lý rác thải sinh hoạt trên địa bàn Xã 37
điều không thể tránh khỏi và có nguy cơ xảy ra là rất cao.
Rác thải sinh hoạt đang là một trong những vấn đề bức xúc ở nước ta
hiện nay cần được giải quyết.Theo tính toán trong một ngày mỗi người thải ra
môi trường trung bình là 0,5-1,3 kg/người trên toàn thế giới. Nền kinh tế càng
phát triển, dân số gia tăng nhu cầu tiêu thụ của con người cũng tăng theo và
theo đó lượng rác thải phát sinh ngày càng nhiều. Lượng tài nguyên được đưa
vào sản xuất và tiêu dùng có thể đo trường thì khó có thể cân đong, đo, đếm
được.Việc gia tăng chất thải sinh đếm được bằng khối lượng hoặc bằng tiền
nhưng lượng rác thải được thải ra môi hoạt là một trong những nguyên nhân
trực tiếp gây nên ô nhiễm môi trường và ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe
của con người làm mất đi cảnh quan thiên nhiên vốn có.
Nga phú, Nga Sơn, Thanh Hóa là một xã Nga phú nằm trong vùng đồng
bằng ven biển có nền kinh tế đang phát triển. Tuy nhiên, việc đánh giá một 2
cách chưa đầy đủ về rác thải sinh hoạt. Trong quá trình phát triển việc thu gom
và quản lý gặp nhiều khó khăn và cũng chưa có các biện pháp xử lý phù hợp.
Vì vậy, việc đánh giá hiện trạng thu gom và quản lý giảm thiểu, phòng
ngừa các tác động xấu của rác thải sinh hoạt là một vấn đề cấp bách hiện nay
cần được giải quyết.
Xuất phát từ thực tiễn, tầm quan trọng của vấn đề trên và được sự đồng
ý của Ban chủ nhiệm Khoa Môi Trường thuộc Trường Đại Học Nông Lâm
Thái Nguyên, dưới sự hướng dẫn của thầy giáo Th.S Nguyễn Duy Hải, em
tiến hành thực hiện đề tài “Đánh giá công tác quản lý rác thải sinh hoạt tại
xã Nga Phú, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa”.
1.2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
1.2.1. Mục tiêu chung
Dựa trên cơ sở đánh giá hiện trạng thu gom và quản lý rác thải sinh
hoạt trên địa bàn xã Nga Phú, từ đó làm cơ sở khoa học và thực tiễn để hướng
- Việc nghiên cứu đề tài sẽ là cầu nối giữa kiến thức học tập và thực tế
,nâng cao kiến thức, kĩ năng và rút ra kinh nghiêm thực tế phục vụ cho công
tác sau này.
1.4.2. Ý nghĩa thực tiễn
- Đánh giá được lượng rác thải phát sinh, tình hình thu gom,vận chuyển
và quản lý rác thải sinh hoạt trên địa bàn xã.
- Đánh giá được thực trạng rác thải sinh hoạt và công tác quản lý rác
thải trên địa bàn Xã.
- Đề xuất một số biện pháp khả thi để xử lý rác thải sinh hoạt.
- Đề xuất một sồ kiến nghị nhằm tăng cường công tác quản lý rác thải
sinh hoạt trên địa bàn Xã.
- Kết quả của đề tài sẽ là một trong những căn cứ để tăng cường công tác
quản lý, tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức của cộng đồng về môi trường.
4
PHẦN 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. Cơ sở khoa học của đề tài
2.1.1. Tổng quát về rác thải sinh hoạt
2.1.1.1. Khái niệm về chất thải
- Theo khoản 10 điều 3 Luật Bảo Vệ Môi trường 2005 thì khái niệm
chất thải như sau: “ Chất thải là vật chất ở thể rắn, lỏng, khí được thải ra từ
sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc các hoạt động khác”. Hay nói
cách khác chất thải là toàn bộ các loại vật chất được con người loại bỏ trong
các hoạt động kinh tế - xã hội của mình (bao gồm các hoạt động sản xuất, các
hoạt động sống và duy trì sự tồn tại của cộng đồng …).
2.1.1.2. Khái niệm về rác thải sinh hoạt
- Rác thải sinh hoạt là các chất rắn bị loại ra trong quá trình sống, sinh
+ Tro và các chất dư thừa thải bỏ khác bao gồm: vật chất còn lại trong
quá trình đốt củi, than, rơm rạ, lá…Ở các gia đình, công sở, nhà hàng, nhà
máy, xí nghiệp.
+ Các chất thải rắn từ đường phố có thành phần chủ yếu là lá cây, que,
củi, nilon, vỏ bao gói.
+ Chất thải trực tiếp của động vật chủ yếu là phân, bao gồm của người
và phân của các động vật khác.
Khu dân cư
Chợ, bến
xe
Xây dựng
Công viên
Bệnh viện
Cơ sở y tế
Nhà máy
Xí nghiệp
Hoạt động
nông nghiệp
RT
SH
Cơ quan,
Trường học 6
- Theo vị trí hình thành: Phân biệt rác hay rác thải sinh hoạt trong nhà,
ngoài nhà, chợ, trên đường phố,…
- Theo thành phần hóa học và vật lí: Phân biệt theo các thành phần vô
cơ và hữu cơ, cháy được, không cháy được, kim loại, phi kim loại,…
2.1.1.5. Thành phần rác thải sinh hoạt
khối lượng không đổi ở 105
0
C (kg)
- Tính chất hóa học
a/ Chất hữu cơ 7
Lấy mẫu, nung ở 950
0
C. Phần bay hơi đi là chất hữu cơ hay còn gọi là
tổn thất khi nung, thông thường chất hữu cơ dao động trong khoản 40 -60%.
Trong tính toán, lấy trung bình 53% chất hữu cơ.
b/ Chất tro
Phần còn lại sau khi nung – tức là các chất trơ dư hay chất vô cơ.
c/ Hàm lượng cacbon cố định
Là lượng cacbon còn lại sau khi đã loại các chất vô cơ khác không phải
là cacbon trong tro, hàm lượng này thường chiếm khoảng 5-12%, trung bình là
7%. Các chất vô cơ khác trong tro bao gồm thủy tinh, kim loại…Đối với chất thải
rắn nông thôn, các chất này có trong khoảng 10- 25 %, trung bình là 15%.
d/ Trị nhiệt
Giá trị nhiệt tạo thành khi đốt chất thải rắn. Giá trị này được xác định
theo công thức Dulông:
Đơn vị trị nhiệt
1
8
2,326.[145,4 620( ) 41. ]
KJ
C H O S
KG
Mùi sinh ra khi tồn trữ chất thải rắn trong thời gian dài giữa các khâu
thu gom, trung chuyển và thải ra bãi rác, nhất là ở những vùng khí hậu nóng
do quá trình phân hủy kỵ khí các chất hữu cơ dễ bị phân hủy có trong chất
thải rắn sinh hoạt. Ví dụ: trong điều kiện kỵ khí, sulfate có thể bị khử thành
sulfide (S
2-
), sau đó sulfide kết hợp với hydro tạo thành H
2
S.
c/ Sự sản sinh ruồi nhặng
Vào mùa hè cũng như tất cả các mùa của những vùng khí hậu ấm áp, sự
sản sinh ruồi nhặng ở khu vực chứa rác là vấn đề đáng quan tâm.
Thông thường chu kỳ phát triển của ruồi ở khu dân cư từ trứng thành
ruồi có thể biễu diễn như sau:
- Trứng phát triển: 8 – 12 giờ
- Giai đoạn đầu của ấu trùng: 20 giờ
- Giai đoạn thứ hai của ấu trùng: 24 giờ
- Giai đoạn thứ ba của ấu trùng: 3 ngày
- Giai đoạn nhộng: 4 – 5 ngày
- Tổng cộng: 9 – 11 ngày
2.1.1.6. Ảnh hưởng của rác thải sinh hoạt
Cùng với quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước, chất lượng
cuộc sống ngày càng tăng, quy mô sản xuất ngày càng mở rộng thì con người
ngày càng thải vào môi trường tự nhiên hàng triệu tấn rác thải. Ta có thể thấy
rác thải ảnh hưởng đến môi trường và ảnh hưởng đến cuộc sống người dân:
- Làm ô nhiễm không khí: Các loại RTSH thường có bộ phận có thể
bay hơi và mang theo mùi làm ô nhiễm không khí. Cũng có những loại rác
thải có khả năng thăng hoa phát tán vào không khí gây ô nhiễm trực tiếp.
Cũng có loại rác thải trong điều kiện nhiệt độ và độ ẩm thích hợp (35
o
- Phá hủy cảnh quan môi trường: Rác thải không được thu gom nằm tại
các con hẻm, thôn xóm… gây nên những hình ảnh không đẹp cho các con
đường liên xã.
- Gây hại cho sinh vật và con người: Trong rác thải sinh hoạt có chứa
khá nhiều vi khuẩn, nấm,… Nếu phát tán trong không khí, nguồn nước sẽ ảnh
hưởng đến sức khỏe con người thông qua chuỗi thức ăn hay hô hấp.[14](Trần
Yêm 2002) 10
2.1.2. Cơ sở lý luận
Nguyên lý về tính thống nhất vật chất thế giới gắn với tự nhiên, con
người và xã hội thành một hệ thống lớn “ Tự nhiên - con người - xã hội”, sự
thống nhất của hệ thống trên được thực hiện trong các sinh địa hóa gồm năm
thành phần cơ bản sau:
- Sinh vật sản xuất có chức năng tổng hợp chất hữu cơ từ các chất vô cơ
dưới tác động của quá trình quang hợp.
- Sinh vật tiêu thụ là toàn bộ động vật sử dụng chất hữu cơ có sẵn tạo ra
các chất thải.
- Sinh vật phân hủy có chức năng phân hủy các chất thải, chuyển hóa
thành các chất vô cơ đơn giản.
- Con người và xã hội loài người.
- Các chất vô cơ và hữu cơ cần thiết cho sự sống của sinh vật và con
người với số lượng ngày càng tăng.
Tính thống nhất của hệ thống đời hỏi việc giải quyết các vấn đề về môi
trường và thực hiện công tác quản lý môi trường phải toàn diện và có hệ thống.
Quản lý môi trường là tổng hợp các biện pháp luật, chính sách, kinh tế,
kĩ thuật, xã hội của quốc gia. Các nguyên tắc quản lý môi trường, các công cụ
thực hiện việc giám sát chất lượng môi trường. Các phương pháp xử lý môi
trường bị ô nhiễm được xây dựng trên cơ sở sự hình thành và phát triển của
Chính phủ quy định về Phí bảo vệ môi trường đối với chất thải rắn (CTR).
- Thông tư số 121/2008/TT- BTC ngày 12/12/2008 của Bộ tài chính
hướng dẫn cơ chế ưu đãi và hỗ trợ tài chính đối với hoạt động đầu tư cho
quản lý CTR.
- Nghị Định Số: 04/2009/NĐ - CP ngày 14/01/2009 của Chính phủ về
ưu đãi, hỗ trợ hoạt động bảo vệ môi trường (BVMT).
- QCVN 25:2009/BTNMT ngày 16/11/2009 của bộ Tài Nguyên và Môi
Trường về Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước thải của bãi chôn lấp chất thải rắn.
- Nghị định số 117/2009/NĐ-CP ngày 31 tháng 12 năm 2009 về xử lý vi
phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường.
- Nghị định số 29/2011/NĐ-CP của Chính phủ quy định về đánh giá môi
trường chiến lược (ĐMC), đánh giá tác động môi trường (ĐTM), cam kết bảo vệ
môi trường (CKBVMT)ban hành ngày 18/4/2011 và có hiệu lực thi hành kể từ
ngày 05 tháng 6 năm 2011
- Thông tư số 26/2011/TT-BTNMT ngày 18/07/2011 của Bộ tài nguyên và
Môi trường về việc Quy định chi tiết một số điều của Nghị định số 29/2011/NĐ-12
CP ngày 18/4/2011 của Chính phủ quy định về đánh giá tác động chiến lược, đánh
giá tác động môi trường, cam kết bảo vệ môi trường
- Nghị định số 179/2013/NĐ-CP ngày 14/11/2013 của Chính phủ (sau đây
gọi tắt là NĐ 179) bổ sung và giải quyết cơ bản các nội dung còn thiếu và bất cập
của Nghị định số 117/2009/NĐ-CP (sau đây gọi tắt là NĐ 117).
2.2. Cơ sở thực tiễn của đề tài
2.2.1. Hiện trạng quản lý rác thải sinh hoạt trên Thế giới và ở Việt Nam
* Hiện trạng quản lý rác thải sinh hoạt trên Thế giới
- Vấn đề quản lý, xử lý rác thải sinh hoạt trên thế giới đang ngày được quan
tâm hơn. Đặc biệt tại các nước phát triển, công việc này được tiến hành một cách
rất chặt chẽ, từ ý thức của người dân, quá trình phân loại rác tại nguồn, thu gom
được phân loại, xử lý và bãi chôn lấp chất thải đó không phù hợp, không đảm
bảo các tiêu chuẩn về môi trường theo luật bảo vệ môi trường quy định. (
Hoàng Đức Liên – Lê Ngọc Tuấn,2003). [8]
Trong 20 năm qua, Việt Nam đã đạt được những bước tiến đáng kể về
phát triển kinh tế - xã hội. Từ năm 2005 đến nay, GDP liên tục tăng, bình
quân đạt trên 7%/năm. Năm 2005, tốc độ này đạt 8,43%, là mức tăng trưởng
cao nhất trong vòng 9 năm qua. Đến cuối năm 2005, dân số Việt Nam là
83.119.900 người. Từ năm 2000 – 2005, dân số Việt Nam tăng 5,48 triệu
người, trong đó tỉ lệ dân số thành thị tăng 24,18% năm 2000 – 26,97% năm
2005, tương ứng tỉ lệ dân số nông thôn giảm từ 75,82% xuống 73,93%. Dự
báo đến 2010, dân số thành thị lên tới 30,4 triệu người ,chiếm 33% dân số và
đến năm 2020 là 46 triệu người chiếm 45% dân số cả nước.
Dân số ngày càng tăng, điều kiện kinh tế - xã hội ngày càng phát triển,
nhu cầu tiêu dùng của người dân ở các vùng nông thôn nói chung và khu dân
cư nói riêng ngày càng phong phú và đa dạng. Đây cũng chính là nguyên
nhân chính là gia tăng thành phần và tải lượng rác thải sinh hoạt ở nông thôn.
Chất thải rắn sinh hoạt nông thôn phát sinh từ các nguồn: Các hộ gia đình,
chợ, nhà kho, trường học, bệnh viện, cơ quan hành chính,…chất thải rắn sinh
hoạt khu vực nông thôn có tỷ lệ chất hữu cơ khá cao, chủ yếu là từ thực phẩm
thải, chất thải vườn và phần lớn là chất hữu cơ dễ phân hủy (các thành phần
dễ phân hủy chiếm tới 65% trong chất thải sinh hoạt gia đình ở nông thôn).
Với dân số 60,703 triệu người sống ở khu vực nông thôn (năm 2010),
lượng phát sinh chất thải của người dân ở các vùng nông thôn khoảng
0,3kg/người/ngày, ta có thể ước tính rác thải sinh hoạt phát sinh khoảng 18,21
tấn/ngày, tương đương với 6.6 triệu tấn/năm.
Vùng Đồng bằng sông Hồng và Đồng bằng sông Cửu Long có lượng
CTR sinh hoạt nông thôn phát sinh lớn nhất, do đó có mức hoạt động sản xuất
nông nghiệp cao.
Tổng lượng phát sinh CTR sinh hoạt tại các vùng nông thôn 30.500
tấn/ngày (năm 2012). Tỷ lệ thu gom, xử lý trung bình khoảng 20 – 30%. Sở tài nguyên và
môi trường
UBND
Tỉnh
Sở xây dựng
Phòng, Ban quản lý
Công ty môi trường đô thị
UBND qu
ận, huyện,
Các đ
ội dịch vụ chuy
ên 15
Hình 2.4: Hệ thống quản lý chất thải rắn
Tình hình quản lý rác thải tại một số tỉnh, thành phố trong cả nước:
Tại TP.Hồ chí Minh: Theo số liệu thống kê của Sở Tài Nguyên Môi
Trường TP. Hồ Chí Minh cho thấy mỗi ngày có hơn 6.500 tấn rác các loại được
phát sinh với tốc độ gia tăng khoảng 8%/năm. Xuất phát từ thực tế trên, UBND
TP. Hồ Chí Minh đã quy hoạch nhiều khu liên hợp xử lý rác thải sinh hoạt tại các
địa điểm phù hợp để có thể tiếp nhận nguồn thải từ các khu đô thị, khu công
nghiệp trên địa bàn Thành phố. Xã Đa Phước, huyện Bình Chánh, được quy
hoạch thành khu liên hợp xử lý có diện tích 258ha. Trong đó có 200ha dành cho
hoạt động xử lý rác thải do công ty TNHH xử lý chất thải rắn Việt Nam(VWS)
làm chủ đầu tư, với công xuất tiếp nhận 3.000 tấn rác thải sinh hoạt/ngày. Công
đ/người/tháng, không được hưởng các chế độ bảo hiểm y tế, xã hội và bảo hộ
lao động. Hoạt động không chuyên nghiệp, số lần thu gom trung bình 1
lần/tuần, có nơi thì 2 lần/tuần chủ yếu thu gom rác cho khu vực ven đường
chính và khu tập trung dân cư.
- Mô hình thu gom do xã, thôn tổ chức: Đã có sự quan tâm của chính
quyền địa phương như hỗ trợ về phương tiện thu gom, nhiều địa phương đã
quy hoach được điểm tập kết, bãi chôn rác. Tuy nhiên, các mô hình này cũng
chỉ dừng lại ở nhiệm vụ thu gom rác thải từ khu dân cư đến các điểm tập kết
chưa có các biện pháp kỹ thuật phân loại, xử lý rác thải. Chưa xây dựng được
cơ chế và nguồn tài chính để duy trì công tác thu gom, xử lý rác thải. Số lần
thu gom rác 2-3 lần/tuần. Thu nhập của người thu gom trung bình 200.000-
300.000đ/tháng, người thu gom chưa được hưởng các chế độ bảo hiểm y tế,
xã hội. Hoạt động thiếu chuyên nghiệp dẫn đến hiệu quả thấp. Trách nhiệm
của các cấp địa phương chủ yếu là hỗ trợ (nên có đến đâu hỗ trợ đến đấy) mà
chưa xây dựng được quy trình thu gom, xử lí rác thải đảm bảo các yêu cầu vệ
sinh môi trường.
- Mô hình hợp tác xã dịch vụ VSMT: Được coi là mô hình hoạt động
hiệu quả nhất ở vùng nông thôn. Hoạt động theo luật hợp tác xã, có điều lệ
hoạt động, phương án sản xuất dịch vụ, kết hợp nhiều loại dịch vụ môi trường
như thu gom rác thải, thoát nước, cây xanh,… Hình thức này chủ yếu ở các
thì trấn, rất ít ở các xã có hình thức dịch vụ này. Hầu hết các hợp tác xã dịch
vụ môi trường đã được đầu tư xe thu gom rác, một số nơi đã được đầu tư xe
vận chuyển rác. Thu nhập người làm dịch vụ môi trường trung bình từ 17
500.000-1.000.000đ/người/tháng, người lao động được trang bị bảo hộ lao
động, bảo hiểm y tế và bảo hiểm xã hội. Số lần thu gom rác 3-7 lần/tuần.
2.2.3. Thành phần rác thải.
Khác với rác (phế thải) công nghiệp, rác thải sinh hoạt là một tập hợp không