TRƯỜNG TRUNG CẤP KINH TẾ - TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
KHOA CÔNG NGHỆ KỸ THUẬT MÔI TRƯỜNG
------ ------
CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
Rác thải sinh hoạt và công tác quản lý rác thải sinh hoạt tại khu
vực xã Ngư Lộc – Huyện Hậu Lộc – Tỉnh Thanh Hóa
Tên sinh viên
: Nguyễn Văn Công
Chuyên ngành đào tạo : Công nghệ kỹ thuật môi trường
Lớp
: K4.KTMT
Niên khoá
: 2013 - 2015
Giảng viên hướng dẫn
: Đỗ Văn An
HÀ NỘI - 2015
LỜI MỞ ĐẦU
Hiện nay, đời sống kinh tế xã hội ở các vùng quê đã có nhiều đổi mới.
sống, sinh hoạt hàng ngày của người dân.
Thị trấn Hậu Lộc là một khu vực kinh tế đang trong quá trình xây dựng
và phát triển trong một vài năm trở lại đây, đời sống người dân được cải
thiện, nhu cầu về mọi mặt ngày càng tăng lên. Đặc biệt là về tiêu dùng các
loại hàng hoá phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày, vì vậy mà lượng RTSH
cũng tăng theo mà trong khi đó công tác quản lý RTSH trên địa bàn vẫn chưa
có một phương án cụ thể để thực hiện được một cách hiệu quả.
Như vậy, vấn đề đặt ra ở đây là cần tìm hiểu tình hình RTSH và công
tác quản lý RTSH tại khu vực thị trấn Hậu Lộc hiện nay là như thế nào? Đâu
là nguyên nhân của việc xả rác thải bừa bãi? Và cần có những biện pháp gì để
giải quyết vấn đề một cách tốt hơn?
Xuất phát từ vấn đề này chúng tôi lựa chọn đề tài: “ Rác thải sinh
hoạt và công tác quản lý rác thải sinh hoạt tại khu vực thị trấn Hậu
Lộc,tỉnh Thanh Hóa” để tiến hành nghiên cứu.
CHƯƠNG I
3
MỘT SỐ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ RÁC THẢI SINH HOẠT
1.1CƠ SỞ LÝ LUẬN
2.1.1 Một số khái niệm
Theo Nghị định 59/2007/NĐ – CP ngày 9/4/2007 của chính phủ về
quản lý chất thải rắn
2.1.1.1 Khái niệm chất thải rắn (rác thải)
Chất thải rắn là chất thải ở thể rắn, được thải ra từ quá trình sản xuất,
kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt của các hoạt động khác.
2.1.1.2 Khái niệm chất thải rắn sinh hoạt ( Rác thải sinh hoạt)
Chất thải rắn sinh hoạt: là những chất thải liên quan đến hoạt động
cư và các nhà máy, xí nghiệp.
Cơ quan,
Trường học
Khu dân cư
Công viên
R
TS
H
Chợ, bến
xe
Xây dựng
Bệnh viện
Cơ sở y tế
Nhà máy
Xí nghiệp
Hoạt động
nông nghiệp
Hình 2.1: Sơ đồ nguồn phát sinh RTSH
2.1.1.5 Những tác động của RTSH đến môi trường
a. Làm ô nhiễm môi trường đất
Các chất hữu cơ còn phân hủy được trong môi trường đất tương đối
nhanh chóng trong điều kiện yếm khí và háo khí, khi có độ ẩm thích hợp qua
5
6
phát tán vào không khí gây ô nhiễm trực tiếp. Cũng có loại rác thải trong điều
kiện nhiệt độ và độ ẩm thích hợp (35oC và độ ảm 70 - 80%) sẽ có quá trình
biến đổi nhờ hoạt động của vi sinh vật làm ô nhiễm môi trường không khí.
2.1.2 Lý luận về quản lý RTSH
Theo Nghị định 59/2007/NĐ – CP ngày 9/4/2007 của chính phủ về
quản lý chất thải rắn.
2.1.1.1Khái niệm hoạt động quản lý RTSH
Hoạt động quản lý RTSH bao gồm các hoạt động quy hoạch quản lý,
đầu tư xây dựng cơ sở quản lý chất thải rắn, các hoạt động phân loại, thu
gom, lưu giữ, vận chuyển, tái sử dụng, tái chế và xử lý chất thải rắn nhằm
ngăn ngừa, giảm thiểu những tác động có hại đối với môi trường và sức khoẻ
con người.
2.1.2.2 Một số khái niệm liên quan
Thu gom RTSH là hoạt động tập hợp, phân loại, đóng gói và lưu giữ
tạm thời chất thải rắn tại nhiều điểm thu gom tới địa điểm hoặc cơ sở được cơ
quan nhà nước có thẩm quyền chấp thuận.
Vận chuyển RTSH là quá trình chuyên chở chất thải rắn từ nơi phát
sinh, thu gom, lưu giữ, trung chuyển đến nơi xử lý, tái chế, tái sử dụng hoặc
bãi chôn lấp cuối cùng.
Địa điểm, cơ sở được cấp có thẩm quyền chấp thuận là nơi lưu giữ, xử
lý, chôn lấp các loại RTSH được cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền
phê duyệt.
Xử lý RTSH là quá trình sử dụng các giải pháp công nghệ, kỹ thuật
làm giảm, loại bỏ, tiêu hủy các thành phần có hại hoặc không có ích trong
RTSH; thu hồi, tái chế, tái sử dụng lại các thành phần có ích trong RTSH.
Chôn lấp RTSH hợp vệ sinh là hoạt động chôn lấp phù hợp với các
yêu cầu của tiêu chuẩn kỹ thuật về bãi chôn lấp RTSH hợp vệ sinh.
bảo vệ môi trường của nhà nước.
8
Công ty môi trường đô thị là cơ quan trực tiếp đảm nhận nhiệm vụ xủa
lý CTR, bảo vệ vệ sinh môi trường thành phố theo chức trách được sở giao
thông công chính thành phố giao.
Bộ khoa học công
nghệ & MT
Bộ xây
dựng
Sở
GTCC
UBND thành
phố
Sở khoa học công
nghệ & MT
Công ty môi
trường đô thị
UBND cấp
dưới
Nguồn phát sinh CTR
Ủ rác thành phân bón hữu cơ là một phương pháp khá phổ biến ở các
quốc gia đang phát triển. Việc ủ rác sinh hoạt với thành phần chủ yếu là chất
hữu cơ có thể phân hủy được và tiến hành ngay ở các nước đang phát triển
( quy mô hộ gia đình). Ví dụ ở Canada, phần lớn các hộ gia đình ở ngoại ô
các đô thị đều tự ủ rác của gia đình mình thành phân bón hữu cơ để bón cho
vườn của mình.
10
Việc ủ rác thành phân bón hữu cơ có ưu điểm là giảm được đáng kể
khối lượng rác, đồng thời tạo ra được của cải vật chất, giúp ích cho công tác
cải tạo đất. Chính vì vậy, phương pháp này được ưa chuộng ở quốc gia nghèo
và đang phát triển.
Công nghệ ủ rác có thể được chia thành 2 loại:
*Ủ hiếu khí
Công nghệ này được sử dụng rộng rãi ở Việt Nam, Trung quốc. Công
nghệ ủ rác hiếu khí dựa trên sự hoạt động của các vi khuẩn hiếu khí với sự
có mặt của oxy. Các vi khuẩn hiếu khí có trong thành phần rác khô thực hiện
quá trình oxy hóa cacbon thành dioxitcacbon CO2, thường thì chỉ sau 2
ngày, nhiệt độ rác ủ tăng lên khoảng 45oC. Nhiệt độ này đạt được với điều
kiện duy trì môi trường tối ưu cho vi khuẩn hoạt động, quan trọng nhất là
không khí và độ ẩm.
Sự phân hủy hiếu khí diễn ra khá nhanh, chỉ sau 2-4 tuần là rác được
phân hủy hoàn toàn, các vi khuẩn gây bệnh và côn trùng bị hủy diệt do nhệt
độ ủ dâng cao. Bên cạnh đó mùi hôi cũng bị hủy nhờ qua trình ủ hiếu khí. Độ
ẩm phải được duy trì ở 40-55%, ngoài khoảng nhiệt độ này quá trình phân
hủy sẽ bị chậm lại.
*Ủ yếm khí
Công nghệ này được sử dụng rộng rãi ở Ấn Độ. Qua trình ủ này chủ
việc thu gom và vận chuyển rác từ nơi phát sinh đến bãi rác. Tuy nhiên,
phương pháp này đòi hỏi một diện tích bãi thải lớn, do vậy ở các thành phố
đông dân cư và quỹ đất khan hiếm thì nó lại trở thành phương pháp đắt tiền
cộng với nhiều nhược điểm như trên.
12
c. Bãi chôn rác vệ sinh
Phương pháp này được nhiều đô thị trên thế giới áp dụng trong quá
trình xử lý rác thải. Ví dụ ở Mỹ có trên 80% lượng rác thải đô thị được xử lý
bằng phương pháp này, hay ở một số nước khác người ta cũng hình thành nên
các bãi chôn rác vệ sinh theo kiểu này.
Bãi chôn rác thải vệ sinh được thực hiện bằng nhiều cách, mỗi ngày
trải rác thành lớp mỏng, sau đó nén ép chúng lại bằng các loại xe cơ giới, sau
cùng là trải trên các lớp rác bị nén chặt một lớp đất mỏng khoảng 15cm.
Công việc này cứ thế tiếp tục, việc thực hiện các bãi rác vệ sinh có nhiều ưu
điểm:
- Do bị nén chặt và phủ đất lên trên nên các loài côn trùng, chuột bọ,
ruồi muỗi khó có thể sinh sôi nảy nở, các hiện tượng cháy ngầm hay
cháy bùng khó có thể sảy ra, giảm thiểu được mùi hôi thối, ít gây ô
nhiễm không khí.
- Góp phần làm giảm nạn ô nhiễm nước ngầm và nước mặt.
- Các bãi chôn rác sau khi bị phủ đầy, có thể được xây dựng thành các
công viên giáo dục, làm nơi sinh sống của các loài động thực vật, qua
đó góp phần làm đa dạng tính sinh học cho các đô thị. Nơi đây các thế
hệ trẻ có thể học hỏi về thế giới sinh vật và môi trường sinh thái.
- Chí phí điều hành hoạt động bãi chôn rác không quá cao.
Tuy nhiên, phương pháp này cũng có những nhược điểm sau:
- Các bãi chôn rác kiểu này đòi hỏi diện tích đất đai lớn
e. Chôn rác dưới biển
14
Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng việc chôn rác dưới biển cũng có nhiều
điều lợi. Ví dụ ở thành phố New York, trước đây chất thải rắn được chở đến
các bến cảng, sau đó chúng được các xà lan đem chôn dưới biển ở độ sâu
100feets, nhằm tránh tình trạng lướ đánh cá bị vướng mắc. Ngoài ra ở một số
thành phố ven biển khác của Hoa Kỳ người ta còn xây dựng các bãi ngầm
nhân tạo trên cơ sở sử dụng các khối gạch bê tông phá vỡ từ các công trình
xây dựng, hoặc thậm chí các ôtô thải bỏ. Làm điều này vừa giải quyết được
vấn đề rác thải, đồng thời tạo nên nơi trú ẩn cho các loài sinh vật biển.
f. Chôn rác nhiệt phân
Đây là phương pháp xử lý rác thải tương tự như chúng ta làm than
hầm, có nghĩa là sử dụng nhiệt đốt bên ngoài để loại trừ dần không khí trong
rác, phương pháp này có những ưu điểm sau:
- Quá trình nhiệt phân là một quá trình kins nên ít tạo ra khí thải ô
nhiễm.
- Có thể thu hồi nhiều vật chất sau nhiệt phân. Ví dụ: rác thải đô thị ở
Hoa Kỳ sau khi nhiệt phân có thể thu lại dầu nhẹ, hắc ín và nhựa
đường, chất ammonium sulfate, than, chất lỏng chưa rượu, tất cả các
chất kể trên có thể tái sử dụng làm nguyên liệu.
2.1.2.7 Yêu cầu của việc quản lý RTSH
Thu gom và xử lý RT dưới bất kỳ hình thức nào thì cũng phải đạt được
hiệu quả. Để có cơ sở đánh giá chất lượng, hiệu quả của hoạt động thu gom
và xử lý RTSH chúng ta phải có những tiêu chí đánh giá. Theo tác giả Phan
Văn Ninh, 2004, về cơ bản các tiêu chí đánh giá có thể được xem xét trên các
khía cạnh sau:
Nâng cao ý thức của các doanh nghiệp tham gia vào công tác vệ sinh
môi trường, trong đó giáo dục ý thức cho các doanh nghiệp phải phân loại
chất thải công nghiệp ngay từ nguồn phát sinh bảo quản trong quá trình lưu
giữ chờ xử lý theo đúng công nghệ theo Bộ kế hoạch đầu tư đã ban hành.
- Tiêu chí về mặt kinh tế tài chính: đây là tiêu chí hết sức quan trọng để
đánh giá hoạt động thu gom và xử lý rác thải đạt hiệu quả hay không. Cùng
một kinh phí đâu tư như nhau mà phương thức thu gom, xử lý nào đạt hiệu
quả tối đa nhất, đảm bảo vệ sinh môi trường nhất, thu hút được đông đảo lực
lượng lao động xã hội tham gia một cách tự nguyện nhất và đạt quy trình kỹ
thuật tốt nhất thì phương thức quản lý rác thải đó có hiệu quả nhất, do đó ảnh
hưởng tốt nhất và kéo theo đó là mức độ thu phí đạt tỷ lệ cao. Thu phí dựa
theo nguyên tắc người gây ô nhiễm cho môi trường phải trả phí để khắc phục
cải thiện nó.
- Tiêu chí về thể chế trong việc thu gom rác thải: tiêu chí này đánh giá
hiệu quả của sự phối hợp giữa các đơn vị làm công tác thu gom và xử lý rác
thải với các tổ chức chính quyền và nhà nước trong việc quản lý rác thải, giải
quyết các vấn đề liên quan đến hoạt động thu gom và xử lý rác thải. Hay
những cơ chế ràng buộc, kìm hãm hoặc khuyến khích sự tham gia của các cá
nhân, tổ chức khác trong hoạt động thu gom và xử lý rác thải.
- Tiêu chí về con người: Đây là nhân tố rất quan trọng có tính quyết
định đến chất lượng hoạt động quản lý nói chung và công tác quản lý chất
thải nói riêng. Vì vậy, quan tâm đến nhân tố con người là nền tảng của mọi
thành công trong mọi lĩnh vực đòi hỏi phải đầu tư vào đào tạo phát triển đội
ngũ cán bộ quản lý giỏi về chuyên môn, nghiệp vụ, có phẩm chất đạo đức
nghề nghiệp, có lòng yêu nghề. Có như vậy mới tạo tiền đề và cơ sở để nâng
cao chất lượng hoạt động thu gom và xử lý rác thải sinh hoạt.
17
lý chất thải được thực hiện theo quy định của Luật này và các quy định khác
của pháp luật có liên quan.
- Chỉ thị số 36-CP/TW của Ban chấp hành Trung ương về việc: Tăng
cường BVMT trong thời kỳ công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước, góp
phần đảm bảo thắng lợi của sự nghiệp CNH-HĐH đất nước, Bộ chính trị yêu
cầu các cấp, các nghành cần đổi mới nhận thức, tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo
công tác bảo vệ môi trường, nắm vững và quán triệt các mục tiêu, quan điểm,
giải pháp về BVMT.
- Nghị định số 175 về Hướng dẫn thi hành luật Bảo vệ môi trườngban
hành ngày 18/10/1994. Hướng dẫn các quy định về bảo vệ môi trường đối với
việc lựa chọn địa điểm xây dựng và vận hành bãi chôn lấp rác thải. Thông tư
này hướng dẫn thực hiện các quy định về bảo vệ môi trường trong lựa chọn
địa điểm xây dựng và vận hành bãi chôn lấp rác thải.
- Nghị định số 59/2007/NĐ-CP về các quy định liên quan đến vấn đề
quản lý chất thải rắn như tất cả mọi người dân, đơn vị, tổ chức xã hội phải
chấp hành thực hiện các quy định quản lý CTR, về việc quy hoạch quản lý
CTR, đầu tư quản lý CTR, các yêu cầu trong quá trình phân loại, thu gom,
lưu giữ, vận chuyển và xử lý CTR.
-
Thông
tư
liên
tịch
số
án. Địa phương dành 1.500m2 tương lai 3.000m2) để xây dựng mô hình tại
địa điểm thích hợp xa nhà dân.
- Tổ chức đội thu gom, vận chuyển và xử lý rác.
- Tuyên truyền, tập huấn cho người dân từ khâu phân loại khi bỏ rác vào
thùng và có thói quen đổ rác như ở các thành phố.
20
- Việc phân loại rác được tiến hành từ các gia đình, tại trạm tiếp tục lựa chọn,
phân loại tiếp trong quá trình tập kết, đổ rác.
- Xây dựng trạm xử lý rác cho nông thôn theo qui trình công nghệ của các
nhà khoa học Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam.
Quy trình xử lý
Rác thải của các hộ dân được phân loại sơ bộ ngay tại gia đình, mỗi gia
đình có 2 thùng rác, một thùng đựng rác hữu cơ (thực phẩm thừa, lá cây...),
một thùng đựng rác vô cơ các loại không phân hủy được (thủy tinh, nilon, vỏ
sò, vỏ ốc...). Hàng ngày công nhân của đội thu gom đi thu gom đưa về sân tập
kết. Ở đây, rác đựơc tiếp tục phân loại để loại bỏ các chất vô cơ. Phần hữu cơ
được trộn lẫn với chế phẩm vi sinh BioMicromix rồi đưa vào bể ủ. Chế phẩm
vi sinh BioMicromix là chế phẩm vi sinh vật ưa nhiệt, có tác dụng thúc đẩy
nhanh quá trình phân hủy chất hữu cơ, làm nhanh mất mùi hôi, không có ruồi
muỗi. Mỗi bể ủ có thể tích từ 30-40m3.
Thôn Lai Xá có khoảng 5.000 dân, lượng rác thải khoảng 3 tấn/ngày.
Do kinh phí ít nên trạm xử lý rác không thể đầu tư máy móc qui mô lớn như
có băng truyền hoặc máy nén khí. Do lượng rác thải hàng ngày ít, nên không
có hệ thống bơm khí cung cấp oxy làm cho quá trình phân hủy nhanh. Để giải
quyết lên men ủ rác với các vi sinh vật hiếu khí, chịu nhiệt, đảm bảo phân
hủy rác triệt để, các giải pháp khắc phục như sau: xây 4 bể ủ rác, mỗi bể dung
tích 30 - 40m3. Để làm đầy được 1 bể cần thời gian khoảng 10 - 12 ngày, rác
thành công, thì công tác tuyên truyền cho nhân dân thay đổi thói quen vứt rác
bừa bãi và công tác tổ chức thu gom là hết sức quan trọng, quyết định sự
thành công của mô hình.
2.2.2.3 Mô hình thu gom rác thải ở Thái Bình
22
Thái Bình là một tỉnh đất chật, người đông, với hơn 90% dân số sống ở
khu vực nông thôn có nghề chính là làm ruộng. Trong chính sách mở cửa để
phát triển kinh tế ở Thái Bình nói riêng và cả nước nói chung theo hướng
CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn, hàng trăm làng nghề, xã nghề được khôi
phụth và hoạt động trở lại, cùng nhiều trung tâm thương mại, chợ lớn nhỏ
mọc lên tại các thị trấn, thị tứ, vùng nông thôn đã thu hút hàng vạn lao động.
Đời sống người dân nông thôn được cải thiện, bộ mặt nông thôn có nhiều
thay đổi. Bên cạnh những mặt tích cực, quá trình phát triển cũng làm nảy sinh
nhiều vấn đề môi trường nghiêm trọng ở nông thôn như: cung cấp nước sinh
hoạt,rác thải, nước thải tại các làng nghề, thị trấn, thị tứ...
Hiện tại nông thôn Thái Bình do tập trung dân số với mật độ cao, chủ
yếu hoạt động sản xuất nông nghiệp, một số kết hợp sản xuất làng nghề, dịch
vụ nông nghiệp, nông thôn. Phụ phẩm trong sản xuất nông nghiệp ngoài một
phần làm thức ăn gia súc, phân bón, chất đốt, phần còn lại bị vương vãi trong
đường làng, ngõ xóm rất cần thiết phải thu gom chuyển đến nơi tập trung để c
ó biện pháp xử lý phù hợp bảo đảm vệ sinh môi trường (VSMT). Việc xây
dựng chuồng trại chăn nuôi chưa hợp lý, chăn thả gia súc tự do, cho nên chất
thải từ chăn nuôi cũng là nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường nông thôn
hiện nay. Việc sử dụng thuốc bảo vệ thực và thải ra một lượng đáng kể vỏ
bao bì gồm: túi ni-lông, chai lọ thuỷ tinh, chai nhựa, bị vứt bỏ bừa bãi trên
đồng ruộng, kênh mương, ao hồ sau khi sử dụng. Bên cạnh đó, thực trạng
hoạt động sản xuất của phần lớn làng nghề, xã nghề đều ở quy mô nhỏ, công
và điều kiện của từng địa phương. Bố trí bãi chôn lấp cách xã nguồn nước
mặt, các dòng chảy. Ngăn chặn sự rò rỉ của nước bãi rác thải với nước ngầm
bằng các lớp lót chống thấm và thành đê bao của bãi chôn lấp. Các yêu cầu
thiết kế về mặt bằng, đường vào ra, rào chắn, biển hiệu phải tuân thủ đúng
quy định, chú ý lớp lót chống thấm, hệ thống đê kè chung quanh bãi rác. Lớp
24
lót chống thấm có thể được sử dụng bằng đất sét có độ dày từ 0,5 m trở lên.
Bãi chôn lấp được chia thành các ô nhỏ và có độ sâu trung bình hơn 1m.
Các chỉ dẫn khi chôn lấp rác thải: khu vực chôn lấp rác cần chia thành
những ô nhỏ thường bắt đầu chôn lấp từ các ô phía cuối bãi chôn lấpra Rác
thải sau khi được đổ vào vị trí quy định được trải thành những lớp dày 20-40
cm lên đáy bãi chôn lấp và tiếp tục trải những lớp khác lên trên. Mỗi lớp rác
thải phải được đầm nén 5-6 lần. Cuối ngày cần phủ lên một lớp đất dày 5-10
cm rồi lại đầm nén. Mỗi ô hoàn chỉnh phải kết thúc trước khi bắt đầu ô tiếp
theo. Phun hoá chất diệt côn trùnth và rắc vôi bột vào lớp rác thải đã đầm nén
trước khi phủ đất lên trên. Khi đóng bãi cần có lớp phủ đất cuối cùng. Đây là
phương pháp chôn chất thải rắn có kiểm soát, dễ thực hiện và tuân thủ các
quy định về bảo vệ môi trường. Thu từ nhân dân theo đơn vị gia đình bằng
tiền mặt hoặc thóc để mọi người dân đều có ý thức, trách nhiệm gìn giữ vệ
sinh môi trường và có nguồn tài chính trả công cho nhân viên lao động trực
tiếp thu gom và xử lý chất thải rắn ( Báo Nhân dân, 2004).
CHƯƠNG II
ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU VÀ THỰC
TRẠNG QUẢN LÝ RÁC THẢI SINH HOẠT KHU
VỰC THỊ TRẤN HẬU LỘC