Lời Mở đầu
Kế toán là một công cụ rất quan trọng trong công tác tính thuế và kiểm tra thuế đối
với Nhà nớc. Đặc biệt là với thuế GTGT, kế toán đã trở thành một công cụ không thể thiếu
cho việc thu thuế của cơ quan thuế. Việc xác định số thuế đầu ra, đầu vào, thuế phải nộp,
đều phải dựa trên số liệu thực tế đợc phản ánh qua hoạt động kế toán. Chính vì vậy, nếu
các doanh nghiệp không tổ chức tốt công tác kế toán theo quy định thì sẽ rất khó khăn cho
việc thực hiện luật thuế GTGT. Việc thực hiện luật thuế GTGT ở nớc ta nhằm mục tiêu là
hình thành cơ chế thuế phù hợp với quá trình tham gia, hội nhập và mở rộng quan hệ kinh
tế thơng mại giữa Việt Nam với các nớc khác trên thế giới. Nhất là khi chúng ta thực hiện
cắt giảm thuế nhập khẩu theo Hiệp định AFTA thì việc thu thuế GTGT càng có ý nghĩa
quan trọng cho việc đảm bảo nguồn thu và bảo hộ hợp lý cho sản xuất trong nớc. Tuy
nhiên, bên cạnh những mặt tích cực, nhiều mặt tiêu cực cũng đã nảy sinh. Đó là hiện tợng
lách luật, sử dụng kế toán nh một phơng tiện để gian lận, trốn thuế, đặc biệt là thông qua
khâu tổ chức chứng từ kế toán. Do đó, việc nghiên cứu đề tài với mục đích nhằm tìm hiểu
sâu hơn về vấn đề tổ chức kế toán thuế GTGT trong các doanh nghiệp để tìm ra những giải
pháp góp phần hoàn thiện công tác kế toán thuế GTGT trong doanh nghiệp, để kế toán
thực sự là công cụ quan trọng cho công tác quản lý thuế. Tuy nhiên, do phạm vi kiến thức
rộng, nên em chỉ tiến hành nghiên cứu công tác tổ chức kế toán thuế GTGT trong các
doanh nghiệp thơng mại.
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, đề án gồm 2 phần chính sau:
Phần I: Cơ sở lý luận về thuế GTGT và kế toán thuế GTGT trong doanh
nghiệp thơng mại ở Việt Nam.
Phần II: Thực trạng vận hành luật thuế GTGT và tổ chức kế toán thuế GTGT
trong doanh nghiệp thơng mại ở Việt Nam.
Phần III: Một số kiến nghị hoàn thiện công tác kế toán thuế GTGT trong
doanh nghiệp thơng mại và công tác quản lý thuế của Nhà nớc tại Việt Nam.
Phần I:
Cơ sở lý luận về thuế GTGT và kế toán thuế GTGT trong
doanh nghiệp thơng mại ở Việt Nam.
1. Những vấn đề cơ bản về thuế GTGT và luật thuế GTGT ở Việt Nam.
Xuất phát từ bản chất của thuế GTGT có một số đặc điểm sau:
_Thuế GTGT có phạm vi thu thuế rất rộng, đối tợng phải nộp thuế là toàn bộ các cơ
sở sản xuất kinh doanh, kể cả gia công chế biến và hoạt động thu tiền, thuế GTGT đợc thu
đối với mọi sản phẩm dịch vụ tiêu thụ trong nớc kể cả hàng hoá nhập khẩu. Tuy nhiên, vẫn
có một số hàng hoá dịch vụ đợc miễn thuế theo quy định mỗi nớc trong từng thời kì cụ
thể.
_Thuế GTGT là một loại thuế gián thu. Bởi vì các cơ sở sản xuất kinh doanh hàng
hoá, dịch vụ, thu thuế GTGT qua việc bán hàng hoá dịch vụ này. Tiền thuế ẩn trong giá
thanh toán của hàng hoá, dịch vụ đợc các cơ sở sản xuất kinh doanh nộp vào ngân sách
Nhà nớc thay cho ngời tiêu dùng.
_ Thuế GTGT không đánh vào đầu t, vì thuế nằm ngoài giá trị TSCĐ và sản phẩm
hàng hoá, dịch vụ. Ngời mua phải trả thêm tiền thuế GTGT và tiền thuế này đợc khấu trừ
khi tính thuế phải nộp ở giai đoạn sau.
_ Một đặc điểm quan trọng của thuế GTGT là cho dù sản xuất có trải qua bao nhiêu
giai đoạn thì tổng thuế phải nộp cũng không đổi. Thuế GTGT ở mỗi khâu nhiều hay ít tuỳ
thuộc vào giá trị gia tăng ở khâu đó. Vì vậy, thuế GTGT không làm tăng giá sản phẩm đột
biến, do đó không gây xáo trộn cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
2
_ Thuế GTGT là loại thuế mang tính trung lập cao. Thuế GTGT không can thiệp
quá sâu vào mục tiêu khuyến khích hay hạn chế sản xuất kinh doanh, cung ứng dịch, tiêu
dùng theo nghành nghề cụ thể.
_ Thuế GTGT có thuế suất căn cứ vào loại hàng hoá, dịch vụ chứ không phân biệt
ngành nghề và giá trị sử dụng của hàng hoá, dịch vụ.
1.3. Luật thuế GTGT và việc vận hành luật thuế GTGT ở Việt Nam.
1.31. Đối t ợng chịu thuế và đối t ợng nộp thuế.
1.311. Đối t ợng chịu thuế.
Theo quy định tại điều 2, Luật thuế GTGT và điều 2 Nghị định số 79/2000/NĐ-CP
ngày 29/12/2000
thì đối tợng chịu thuế GTGT là hàng hoá,dịch vụ dùng cho sản xuất, kinh
a) Thuế GTGT đầu ra = giá tính thuế của hàng hoá dịch vụ bán ra *thuế suất thuế
GTGT của hàng hóa, dịch vụ tơng ứng
Cơ sở kinh doanh thuộc đối tợng tính thuế theo phơng pháp khấu trừ thuế khi bán
hàng hóa, dịch vụ phải tính và thu thuế GTGT của hàng hóa, dịch vụ bán ra. Khi lập hoá
3
đơn bán hàng hóa, dịch vụ, cơ sở kinh doanh phải ghi rõ giá bán cha có thuế, thuế GTGT
và tổng số tiền ngời mua phải thanh toán. Trờng hợp hoá đơn chỉ ghi giá thanh toán,
không ghi giá cha có thuế và thuế GTGT thì thuế GTGT của hàng hoá, dịch vụ bán ra phải
tính trên giá thanh toán ghi trên hoá đơn, chứng từ. Doanh thu cha có thuế đợc xác định
bằng giá bán trừ (-) thuế tính trên giá bán.
b) Thuế GTGT đầu vào bằng (=) tổng số thuế GTGT ghi trên hoá đơn GTGT mua
hàng hóa, dịch vụ (bao gồm cả tài sản cố định dùng cho sản xuất, kinh doanh hàng hoá,
dịch vụ chịu thuế GTGT), số thuế GTGT ghi trên chứng từ nộp thuế của hàng hoá nhập
khẩu (hoặc nộp thay cho phía nớc ngoài theo quy định tại điểm 9 Mục II Phần C Thông t-
122/2000/TT-BTC ngày29/12/2000) và số thuế GTGT đầu vào đợc khấu trừ theo tỷ lệ %
dới đây:
_ Tỷ lệ 3% trên giá mua theo hoá đơn đối với:
+ Hàng hoá, dịch vụ thuộc đối tợng chịu thuế GTGT, mua của đơn vị kinh doanh
nộp thuế GTGT theo phơng pháp tính trực tiếp trên GTGT có hoá đơn bán hàng;
+ Hàng hoá là nông sản, lâm sản, thuỷ sản cha qua chế biến mua vào không có
hoá đơn;
+ Hàng hoá chịu thuế TTĐB cơ sở kinh doanh thơng mại mua của cơ sở sản xuất
để bán ra có hoá đơn bán hàng (kể cả trờng hợp mua của đại lý bán hàng chịu thuế tiêu
thụ đặc biệt theo đúng giá của cơ sở sản xuất, hởng hoa hồng).
+ Tiền bồi thờng kinh doanh bảo hiểm của nghiệp vụ bảo hiểm thuộc đối tợng
chịu thuế GTGT (tính trên giá trị bồi thờng bảo hiểm) thuộc trách nhiệm bồi thờng của cơ
sở kinh doanh bảo hiểm.
_ Tỷ lệ 2% trên giá trị hàng hoá mua vào theo Bảng kê đối với hàng hoá là nông,
lâm, thuỷ sản cha qua chế biến; đất, đá, cát, sỏi, các phế liệu mua của ngời bán không có
hoá đơn. Riêng đối với cơ sở sản xuất sản phẩm là nông sản, lâm sản, thuỷ sản cha qua
vụ chịu thuế và không chịu thuế GTGT nhng cơ sở không hạch toán riêng đợc thuế đầu
vào đợc khấu trừ, thì thuế đầu vào đợc tính khấu trừ theo tỷ lệ (%) doanh số của hàng hóa,
dịch vụ chịu thuế GTGT so với tổng doanh số của hàng hóa, dịch vụ bán ra.
_ Thuế GTGT đầu vào đợc khấu trừ theo tỷ lệ doanh số bán ra của hàng hoá, dịch
vụ chịu thuế GTGT đợc kê khai tạm tính hàng tháng. Khi quyết toán năm, cơ sở phải tính
lại số thuế GTGT đầu vào đợc khấu trừ theo tỷ lệ doanh số của năm quyết toán. Đối với cơ
sở kinh doanh có cơ cấu doanh thu giữa hàng hoá, dịch vụ chịu thuế và không chịu thuế
GTGT tơng đối ổn định, cơ sở kinh doanh có thể đăng ký với cơ quan thuế tỷ lệ tạm tính
hàng tháng theo tỷ lệ doanh số năm trớc, khi quyết toán năm sẽ quyết toán theo thực tế.
Thuế đầu vào của hàng hóa, dịch vụ đợc khấu trừ phát sinh trong tháng nào đợc kê
khai khấu trừ khi xác định số thuế phải nộp của tháng đó, không phân biệt đã xuất dùng
hay còn để trong kho. Trờng hợp hoá đơn GTGT hoặc chứng từ nộp thuế GTGT đầu vào
của hàng hoá, dịch vụ mua vào phát sinh trong tháng nhng cha kê khai kịp trong tháng thì
đợc kê khai khấu trừ vào các tháng tiếp sau, trờng hợp do lý do khách quan thì đợc khấu
trừ trong thời gian tối đa là 03 tháng tiếp sau.
Văn phòng Tổng công ty không trực tiếp hoạt động kinh doanh và các đơn vị hành
chính sự nghiệp trực thuộc nh: Bệnh viện, Trạm xá, Nhà nghỉ điều dỡng, Viện, Trờng đào
tạo không thuộc đối tợng nộp thuế GTGT thì không đợc khấu trừ hay hoàn thuế GTGT
đầu vào của hàng hoá, dịch vụ mua vào phục vụ cho hoạt động của các đơn vị này.
Trờng hợp các đơn vị này có hoạt động kinh doanh hàng hoá, dịch vụ chịu thuế
GTGT thì phải đăng ký, kê khai nộp thuế GTGT riêng cho các hoạt động này.
Cơ sở sản xuất hàng hoá chịu thuế TTĐB trực tiếp hoặc uỷ thác xuất khẩu thì thuế
GTGT đầu vào của hàng hoá, dịch vụ dùng để sản xuất các mặt hàng chịu thuế tiêu thụ
đặc biệt xuất khẩu đợc tính khấu trừ hoặc hoàn thuế theo quy định.
d) Đối với hộ kinh doanh nộp thuế GTGT theo phơng pháp trực tiếp trên GTGT
đợc chuyển sang nộp thuế theo phơng pháp khấu trừ thuế, đợc khấu trừ thuế GTGT của
hàng hoá, dịch vụ mua vào phát sinh kể từ tháng đợc áp dụng nộp thuế theo phơng pháp
khấu trừ thuế; đối với hàng hoá, dịch vụ mua vào trớc tháng đợc áp dụng nộp thuế theo
phơng pháp khấu trừ thuế thì không đợc tính khấu trừ thuế GTGT đầu vào.
1.332. Ph ơng pháp tính thuế GTGT trực tiếp trên giá trị gia tăng.
đá quý, ngoại tệ bán ra.
_ Đối với cơ sở kinh doanh thuộc đối tợng tính thuế GTGT theo phơng pháp khấu
trừ thuế có kinh doanh mua, bán vàng, bạc, đá quý, ngoại tệ áp dụng phơng pháp tính trực
tiếp trên GTGT, cơ sở phải hạch toán riêng thuế GTGT đầu vào để kê khai thuế GTGT
phải nộp của hàng hoá, dịch vụ theo từng hoạt động kinh doanh và phơng pháp tính thuế
riêng.
Trờng hợp không hạch toán đợc riêng thì đợc xác định phân bổ thuế GTGT đầu vào
đợc khấu trừ tơng ứng với tỷ lệ doanh thu của hàng hoá, dịch vụ chịu thuế GTGT tính theo
phơng pháp khấu trừ thuế trên tổng doanh thu bán hàng phát sinh trong kỳ.
_ Đối với các hoạt động kinh doanh khác là số chênh lệch giữa tiền thu về hoạt
động kinh doanh trừ (-) giá vốn của hàng hóa, dịch vụ mua ngoài để thực hiện hoạt động
kinh doanh đó.
Doanh số hàng hóa, dịch vụ bán ra quy định trên đây bao gồm cả các khoản phụ
thu, phí thu thêm ngoài giá bán mà cơ sở kinh doanh đợc hởng, không phân biệt đã thu
tiền hay cha thu đợc tiền.
Doanh số hàng hóa, dịch vụ mua vào quy định trên đây bao gồm cả các khoản thuế
và phí đã trả tính trong giá thanh toán hàng hóa, dịch vụ mua vào - Cơ sở kinh doanh
thuộc đối tợng nộp thuế GTGT theo phơng pháp tính trực tiếp trên GTGT không đợc tính
6
giá trị tài sản mua ngoài, đầu t, xây dựng làm tài sản cố định vào doanh số hàng hoá, dịch
vụ mua vào để tính giá trị gia tăng.
b) Ph ơng pháp xác định GTGT làm căn cứ tính thuế GTGT phải nộp đối với từng
cơ sở kinh doanh nh sau:
_ Đối với cơ sở kinh doanh đã thực hiện đầy đủ việc mua, bán hàng hoá, dịch vụ có
hoá đơn, chứng từ, ghi chép sổ sách kế toán thì GTGT đợc xác định căn cứ vào giá mua,
giá bán ghi trên chứng từ.
_ Đối với cơ sở kinh doanh đã thực hiện đầy đủ hoá đơn, chứng từ bán hàng hóa,
dịch vụ, xác định đợc đúng doanh thu bán hàng hóa, dịch vụ theo hoá đơn bán hàng hoá,
dịch vụ nhng không có đủ hoá đơn mua hàng hóa, dịch vụ thì GTGT đợc xác định bằng
doanh thu nhân (x) với tỷ lệ (%) GTGT tính trên doanh thu.
- Số thuế GTGT đợc giảm trừ vào số thuế GTGT phải nộp
7
- Số thuế GTGT đã nộp vào NSNN
- Số thuế GTGT của hàng bán bị trả lại
Bên Có:
- Số thuế GTGT đầu ra phải nộp của hàng hóa, dịch vụ đã tiêu thụ;
- Số thuế GTGT đầu ra phải nộp của hàng hóa, dịch vụ dùng để trao đổi, biếu, tặng,
sử dụng nội bộ;
- Số thuế GTGT phải nộp của thu nhập hoạt động tài chính, thu nhập bất thờng;
- Số thuế GTGT phải nộp của hàng hóa nhập khẩu
Số d bên Có: Số thuế GTGT còn phải nộp cuối kỳ
Số d bên Nợ: Số thuế GTGT đã nộp thừa vào NSNN
_ Tài khoản 3331 có hai Tài khoản cấp 3:
+ Tài khoản 33311 - Thuế GTGT đầu ra: dùng để phản ánh số thuế GTGT đầu ra,
số thuế GTGT phải nộp, đã nộp, còn phải nộp của hàng hóa, sản phẩm, dịch vụ tiêu thụ.
+ Tài khoản 33312 - Thuế GTGT hàng nhập khẩu: dùng để phản ánh thuế GTGT
phải nộp, đã nộp, còn phải nộp của hàng nhập khẩu.
2.2. Kế toán thuế GTGT theo ph ơng pháp khấu trừ thuế
2.21. Kế toán thuế GTGT đầu vào
(1) Nhập kho vật liệu dụng cụ hàng hoá:
Nợ TK 152, 153, 156, 611 Giá mua cha có thuế
Nợ TK 133 Thuế GTGT đầu vào
Có TK 111, 112, 131 tổng số tiền thanh toán
(2) Mua vật liệu, dung cụ dùng ngay vào hoạt động bán hàng hoặc quản lý doanh
nghiệp.
Nợ TK 641, 642 Giá mua cha có thuế
Nợ có TK 133 Thuế GTGT đầu vào
Có TK 111, 112, 131 Tổng số tiền thanh toán
(3) Hàng hoá mua bán gửi bán hoặc bán ngay cho khách hàng và chịu thuế GTGT
theo phơng pháp khấu trừ.
của hàng hoá chịu thuế GTGT theo phơng pháp khấu trừ và doanh thu của hàng không
chịu thuế GTGT.
2.22. Kế toán thuế GTGT đầu ra:
(1) Khi bán sản phẩm hàng hoá thuộc đối tợng dựa thuế GTGT theo phơng pháp
khấu trừ KT ghi:
Nợ TK 111 Tổng giá thanh toán
Có TK 511 Doanh thu bán hàng (giá mua cha thuế)
Có TK 33311 thuế GTGT đầu ra phải nộp
(2) Khoản thu nhập hoạt động tài chính,thu nhập khác phát sinh kế toán ghi:
Nợ TK 111, 112, 138 Tổng giá thanh toán
Có TK 515, 711 thu nhập tính theo giá cha thuế.
Có TK 33311 thuế GTGT đầu ra phải nộp
(3) Bán sản phẩm hàng hoá theo phơng thức trả góp, kế toán ghi:
Nợ TK 111, 112, 131 Tổng giá thanh toán
9
Có TK 33311 thuế GTGT đầu ra phải nộp
Có TK 511 Giá bán trả 1 lần cha có thuế GTGT
Có TK 3387 Lãi trả chậm.
(4) Bán hàng hoá chịu thuế GTGT theo phơng pháp khấu trừ thuế để đổi lấy hàng sử
dụng cho hoạt động sản xuất kinh doanh các loại hàng hoá,dịch vụ chịu thuế GTGT theo
phơng pháp khấu trừ thuế, kế toán ghi:
(a) Phản ánh doanh thu bán hàng và thuế GTGT phải nộp:
Nợ TK 131 Tổng giá thanh toán
Có TK 511 Giá bán cha có thuế GTGT
Có TK 3331 thuế GTGT đầu ra phải nộp
(b) Khi nhận vật t hàng hóa trao đổi về có hoá đơn GTGT, kế toán ghi:
Nợ TK 156, 152 Gía cha có thuế
Nợ TK 133 Thuế GTGT đợc khấu trừ
Có TK 131 Tổng giá thanh toán
(5) Khi bán hàng hoá, dịch vụ để đổi lấy hàng hoá dùng cho hoạt động sản xuất
Có TK 33311 thuế GTGT đầu ra phải nộp
Có Tk 152 Giá cha có thuế GTGT
(7) Dùng hàng hoá trả lơng cho nhân viên:
Nợ TK 334 Giá có thuế GTGT
Có TK 512 Giá cha có thuế GTGT
Có TK 33311 thuế GTGT đầu ra phải nộp
2.23. Kế toán quyết toán thuế GTGT:
Cuôí kì kế toán xác định số thuế đầu vào không đợc khấu trừ trong tổng số
thuế GTGT đầu vào khi mua TSCĐ dùng chung cho hoạt động sản xuất kinh doanh chịu
thuế GTGT dựa trên cơ sở tỷ lệ doanh thu chịu thuế GTGT và doanh thu không chịu thuế
GTGT.Số thuế đầu vào không đợc khấu trừ hoạch toán nh sau:
Nợ TK 1421 thuế GTGT đầu vào đợc khấu trừ lớn
Nợ TK 642 thuế GTGT đầu vào không đợc khấu trừ nhỏ
Có TK 133 thuế GTGT đầu vào chờ phân bổ
Và Nợ TK 642
Có TK 1421 thuế GTGT đầu vào không đợc khấu trừ
phân bổ trong kì
Cuối kì phân bố thuế GTGT đầu vào cho doanh thu của hàng chịu thuế GTGT
và không chịu thuế GTGT.
Mức phân bổ thuế GTGT doanh thu của hàng
đầu vào cho hàng chịu thuế GTGT Doanh thu của
= X
chịu thuế GTGT theo Tổng doanh thu của hàng chịu hàng chịu thuế
GTGT
phơng pháp khấu trừ thuế GTGT và không chịu thuế
GTGT
Mức phân bổ thuế GTGT Thuế GTGT đầu vào Mức phân bổ thuế GTGT
đầu vào co hàng không chịu = - đầu vào cho hàng chịu
thuế GTGT có liên quan GTGT theo phơng
Có TK 3333 thuế nhập khẩu
Có TK 33312 thuế GTGT phải nộp
Khi nộp thuế nhập khẩu và thuế GTGT của hàng nhập khẩu
Nợ TK 3333
Nợ TK 33312
Có TK 111, 112
(3) Khi bán hàng hoá kế toán ghi:
12
Nợ TK 111, 112, 131
Có TK 511, 512
(4) Khi bán hàng đổi lấy vật t, hàng hoá dùng cho sản xuất kinh doanh chịu
thuế
GTGT theo phơng pháp tính trực tiếp, kế toán ghi:
(a) Doanh thu bán hàng
Nợ TK 131
Có TK 511 Tổng giá thanh toán
(b) Trị giá vật t hàng nhận
Nợ TK 152, 153, 156
Có TK 131
(5) Khi phát sinh các khoản thu nhập hoạt động tài chính, hoạt động khác, kế
toán ghi:
Nợ TK 111, 112, 113
Có TK 515, 711
(6)Cuối kỳ kế toán xác định thuế GTGT phải nộp cho sản phẩm hàng hoá dịch
vụđã bán trong kì.
(a) Đối với hoạt động sxkd ghi:
Nợ TK 511
Có TK 33311
(b) Đối với hoạt động tài chính, bất thờng khác ghi
Nợ TK 515, 711
không đợc khấu trừ
Thuế GTGT đã đợc khấu trừ
111, 112
Thuế GTGT đầu vào
đợc hoàn lại bằng tiền
711
Thuế GTGT đợc giảm đã
nhận đợc tiền của NSNN
Khi nộp thuế
GTGT cho NSNN
Thuế GTGT đợc giảm trừ
số thuế GTGT phải nộp
Thuế GTGT hàng nhập khẩu phải nộp NSNN đợc khấu trừ
Mua vật t, hàng hoá, dịch, TSCĐ
2.4. Tổ chức kế toán thuế GTGT.
2.41.Chứng từ kế toán
a/ Hoá đơn giá trị gia tăng
Các cơ sở kinh doanh thuộc đối tợng nộp thuế GTGT theo phơng pháp khấu
trừ thuế khi bán hàng hoá, dịch vụ phải sử dụng "Hoá đơn GTGT" do Bộ Tài chính
phát hành (trừ trờng hợp đợc dùng chứng từ ghi giá thanh toán là giá có thuế GTGT
Khi lập hoá đơn phải sử dụng mẫu số 01 GTKT 3Llvới trờng hợp bán
hàng hoá với số lợng lớn hoặc mẫu số 01 GTKT 2LL với trờng bán hàng hóa với
số lợng nhỏ.
b/ Hoá đơn bán hàng
Các cơ sở kinh doanh thuộc đối tợng nộp thuế GTGT theo phơng pháp trực
tiếp, khi bán hàng hoá, dịch vụ phải sử dụng "Hoá đơn bán hàng" do Bộ Tài chính
phát hành.
Khi lập hoá đơn bán hàng phải sử dụng mẫu số 02 GTKT 3LN cho trờng
hợp bán hàng hoá với số lợng lớn hoặc mẫu số 02 GTKT- 2LN cho hàng hóa bán
với số lợng nhỏ.
chứng từ gốc, kế toán lập các chứng từ ghi sổ .Từ các chứng từ ghi sổ, kế toán vào
sổ đăng ký chứng từ ghi sổ , sau đó vào sổ cái cho các tài khoản 133,3331. Đồng
thời kế toán mở sổ chi tiết cho tài khoản 133,3331.
Cuối tháng, kế toán tiến hành đối chiếu số liệu trên sổ cái với số liệu trên sổ
tổng hợp chi tiết và từ đó lập bảng cân đối số phát sinh, rồi đối chiếu số liệu giữa sổ
đăng ký chứng từ ghi sổ và bảng cân đối số phát sinh.
_ Với doanh nghiệp áp dụng hình thứcNhật ký chứng từ , kế toán căn cứ vào
chứng từ gốc phản ánh vào sổ chi tiết tài khoản 133,3331 . Từ các sổ chi tiết này, kế
toán mới tiến hành phản ánh vào Nhật ký chứng từ số 10. Cuối tháng, cuối quý
khoá sổ Nhật ký chứng từ và xác định số tổng cộng để tiến hành ghi sổ cái tài
khoản 133, 3331.
Doanh nghiệp dù tiến hành ghi sổ theo hình thức nào cũng phải tiến hành mở
sổ chi tiết thuế GTGT đợc hoàn lại ( Mẫu số S02 DN) và sổ chi tiết thuế GTGT
đợc miễn giảm ( Mẫu số S03 DN ) để hỗ trợ cho cơ quan thuế trong công tác
kiểm tra.
2.422. Doanh nghiệp áp dụng ph ơng pháp tính trực tiếp
Việc ghi sổ theo các loại hình khác nhau cũng có trình tự tiến hành nh trên
nhng chỉ phản ánh cho tài khoản 3331, đồng thời doanh nghiệp phải mở sổ theo dõi
thuế GTGT ( Mẫu số S01 DN ) và sổ chi tiết thuế GTGT đợc miễn giảm ( Mẫu
số S03 DN ) để phục vụ cho việc quản lý thuế của cơ quan thuế.
2.43. Báo cáo và quyết toán thuế GTGT.
2.431. Báo cáo tài chính.
Cuối kỳ doanh nghiệp cần tiến hành lập các báo cáo tài chính trong đó có
phản ánh các chỉ tiêu liên quan đến thuế GTGT. Các báo cáo tài chính này bao gồm:
a/ Bảng Cân đối kế toán ( Mẫu số B 01 DN )
Bảng Cân đối kế toán ( Mẫu số B 01 DN ) có bổ sung chỉ tiêu có Mã số
133 ( thuế GTGT đợc khấu trừ ).
Chỉ tiêu Thuế GTGT đợc khấu trừ ( Mã số 133 ) dùng để phản ánh số thuế
GTGT còn đợc khấu trừ và số thuế GTGT đợc Cơ quan có thẩm quyền chấp nhận
hoàn lại nhng đến cuối kỳ kế toán NSNN cha hoàn trả.
cho Ngân sách Nhà nớc. Do đó, cần đi sâu tìm hiểu những vấn đề này cả từ phía các
doanh nghiệp và phía Nhà nớc.
1. Những tồn tại trong công tác kế toán thuế GTGT tại các doanh nghiệp
th ơng mại hiện nay.
Doanh nghiệp thơng mại là doanh nghiệp có hoạt động chính là mua hàng
vào, bán hàng ra, tiến hành hoạt động kinh doanh trên cả thị trờng trong và ngoài n-
ớc để tìm kiếm lợi nhuận. Với quy mô kinh doanh rộng nh vậy nên trong thực tế
hoạt động đã nảy sinh rất nhiều vấn đề cần đợc xem xét.
1.11. Về chế độ chứng từ hoá đơn
Sau khi Luật thuế GTGT ra đời nhiều hoá đơn đặc thù nhằm thể hiện rõ nội
dung hoat động kinh tế giữa các bên tham gia. Tuy nhiên, số lợng hoá đơn nhiều
nhng cha thật đủ, cụ thể là những trờng hợp sau:
_ Khi doanh nghiệp bán hàng thì sẽ có hoá đơn bán hàng, hoá đơn
GTGT phản ánh hoạt động bán hàng của doanh nghiệp. Nhng vì lý do nào đó,
khách hàng trả lại hàng đã mua cho doanh nghiệp. Hàng hoá trả lại có thể là một
phần hay toàn bộ hàng hóa đã mua. Nhng cho dù giá trị trao đổi của hoạt động này
nhỏ hay lớn, thì hoạt động này cũng có nội dung rõ ràng, thể hiện t cách pháp của
các pháp nhân độc lập. Nh vậy, việc không có một hoá đơn đặc thù để phản ánh
hoạt động này là không hợp lý. Ngoài ra, những hoạt động nh chiết khấu thanh
toán, giảm giá tuy có xảy ra sau giao dịch mua bán nhng cũng có tính chất nh trên,
do vậy cũng cần có hoá đơn đặc thù để phản ánh.
_ Doanh nghiệp thơng mại với hoạt động bán hàng là chủ yếu
nên doanh nghiệp phải thờng xuyên áp dụng hình thức chiết khâú thơng mại để thu
hút khách hàng. Chiết khấu thơng mại phản ánh sự u đãi cho khách hàng khi mua
hàng hoá của doanh nghiệp và đợc tách ra khỏi tổng số tiền thanh toán phải trả. Tuy
nhiên, trên hoá đơn bán hàng hay hoá đơn GTGT hiện nay chỉ ghi tổng giá thanh
toán mà không ghi rõ phần chiết khấu thơng mại ngời mua đợc hởng. Nh vậy, việc
ghi thiếu đã không phản ánh đợc hết nội dung nghiệp vụ kinh tế phát sinh.
_ Một hoạt động khác của doanh nghiệp thơng mại là hoạt động
nhận uỷ thác xuất, nhập khẩu. Theo quy định của Bộ Tài Chính và Tổng cục thuế,
thì tổng số thuế phải nộp cũng không đổi và đều bằng nhau. Tuy nhiên, theo quy
định tính thuế hiện nay thì doanh nghiệp tính thuế theo phơng pháp trực tiếp sẽ phải
nộp nhiều thuế hơn so với doanh nghiệp tính thuế theo phơng pháp khấu trừ.
Xét một ví dụ nh sau:
Doanh nghiệp A mua hàng vào với giá mua không thuế là 20 tr, thuế suất
thuế GTGT đầu vào là 10% ; bán hàng ra với giá bán cha thuế là 40, thuế suất thúê
GTGT là10%. Gỉa sử, toàn bộ thuế GTGT đầu vào đều đợc khấu trừ, toàn bộ thuế
GTGT đầu ra là thuế phải nộp.
+ Nếu doanh nghiệp tính thuế GTGT theo phơng pháp khấu trừ:
Thuế GTGT đầu vào đợc khấu trừ = 20*10% = 2 tr
Thuế GTGT đầu ra = 40*10% = 4 tr
Thuế GTGT phải nộp = 4 - 2 = 2 tr
+ Nếu doanh nghiệp tính thuế GTGT theo phơng pháp trực tiếp:
GTGT = 44 22 = 22 tr
Thuế GTGT phải nộp = 22*10% = 2,2 tr
Nh vậy, doanh nghiệp tính thuế theo phơng pháp trực tiếp sẽ phải nộp thuế
nhiều hơn doanh nghiệp tính thuế theo phơng pháp khấu trừ. Nguyên nhân là do
công thức:
20
GTGT = Doanh số của hàng hoá, dịch vụ bán ra Gía vốn của hàng hoá,
dịch vụ mua vào
= (Gía bán không thuế + Thuế GTGT đầu ra) (Gía mua không thuế
+ Thuế GTGT đầu vào)
= (Gía bán không thuế Gía mua không thuế) + (Thuế GTGT đầu ra
Thuế GTGT đầu vào)
Thuế GTGT chỉ tính trên GTGT của hàng hóa. Theo công thức trên, thuế
GTGT đã tính thêm trên phần GTGT của thuế, nh vậy là có hiện tợng tính trùng
thuế, thuế đánh trên GTGT của thuế. Do đó, theo em, công thức xác định GTGT
trong phơng pháp trực tiếp là không hợp lý.
_ Về vấn đề xác định tỷ lệ phân bổ thuế đầu vào, Luật thuế GTGT quy định
Kẽ hở trong luật thuế là những vấn đề cha đợc quy định trong luật hoặc
những quy định trong luật nhng có thể hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau, hay, các
21
quy định riêng cho các trờng hợp đặc biệt nhng không đợc cụ thể, rõ ràng. Do đó,
khi một doanh nghiệp đã có ý đồ vi phạm, doanh nghiệp đó sẽ tìm hiểu những thiếu
sót trong luật, để lách luật nhằm thực hiện mục đích thu lợi cho mình. Một hiện
tợng còn đơn giản là việc các doanh nghiệp chậm nộp thuế. Bởi vì sao? Một đồng
ngày hôm nay sẽ có giá trị hơn một đồng trong tơng lai, vì đồng tiền có khả năng tự
sinh lời. Do đó,các đối tợng nộp thuế cố gắng đi chiếm dụng vốn của khách hàng,
của các đối tợng khác và của cả ngân sách nhà nớc qua việc chậm nộp thuế. Tuy
nhiên, ranh giới giữa việc chậm nộp thuế và gian lận, trốn thuế chỉ rất mong manh,
khi doanh nghiệp có đủ khả năng để hợp lý hoá số liệu, chiếm dụng số thuế phải
nộp. Chậm nộp thuế thì Nhà nớc còn có thể thu hồi đợc, nhng nếu doanh nghiệp
trốn thuế thì Nhà nớc sẽ bị thiệt hại rất nhiều. Và sẽ còn nguy hiểm hơn khi Nhà n-
ớc không những không thu đợc thuế mà còn bị rút tiền từ việc khai khống thuế
GTGT đợc khấu trừ của các doanh nghiệp.
Theo báo cáo của Công an 61 tỉnh và thành phố, tính đến hết tháng 8/2002 cả
nớc đã phát hiện 147 vụ vi phạm thuế GTGT với tổng số tiền bị chiếm đoạt khoảng
480 tỷ đồng. Hiện cơ quan chức năng đã khởi tố 46 vụ, xử lý hành chính 25 vụ và
đang điều tra 76 vụ. Tuy nhiên, đây mới chỉ là số vụ vi phạm bị phát hiện, trên thực
tế chắc chắn sẽ có nhiều tội phạm về thuế "lọt lới". Nhng dầu sao vài con số trên
cũng cho thấy tính chất nguy hiểm, hậu quả nặng nề từ những vi phạm về thuế
GTGT gây ra cho ngân sách và sự phát triển của kinh tế Nhà nớc. Vấn đề này không
chỉ làm vẩn đục nền kinh tế mà còn làm thiệt hại không nhỏ đến lợi ích quốc gia.
Những gian lận này đều có thủ đoạn giống nhau, chỉ khác nhau ở mức độ
tinh vi khi thực hiện, cụ thể nh sau:
_ Trớc hết, đó là những thủ đoạn gian lận cơ bản nh:
+ Mua từ chợ đen hoá đơn GTGT giả mẫu của Bộ Tài Chính phát hành hoặc
hoá đơn thật để ghi chép nhằm trốn tránh nghĩa vụ nộp thuế hoặc đòi đợc hoàn thuế.
+ Ghi chép không trung thực giữa các liên trong cùng một số hóa đơn (liên
chất thì dù chính sách có chặt chẽ đến đâu cũng không thể ngăn cản đợc. Những tr-
ờng hợp gian lận do có sự thông đồng giữa ngời mua và ngời bán, cơ quan thuế
cũng có thể dễ dàng phát hiện thông qua đối chiếu hoá đơn. Tuy nhiên, trờng hợp dễ
thực hiện nhất, khó kiểm tra nhất là lại là hiện tợng doanh nghiệp lập bảng kê mua
hàng theo giá cao để đợc khấu trừ lớn hơn số thực tế. Cơ quan thuế sẽ rất khó khăn
để kiểm tra khi kẻ mua, ngời bán thậm chí ở hai đầu đất nớc.
23
Phần III:
Một số kiến nghị hoàn thiện công tác kế toán
thuế GTGT trong doanh nghiệp thơng mại và công tác
quản lý thuế của Nhà nớc tại Việt Nam
Luật thuế GTGT, sau hơn 3 năm đi vào cuộc sống, đã tạo ra bớc chuyển biến
đáng kể trong hoạt động kinh tế ở các doanh nghiệp. Nó thật sự giải quyết nhiều
khó khăn về vốn, khuyến khích đầu t, XNK. Tuy nhiên, để luật thuế thực sự hoàn
thiện thì có lẽ còn cần rất nhiều những điều chỉnh mới, những điều chỉnh phải xuất
phát từ thực tế hiện nay và giải quyết đợc những vớng mắc còn đang tồn tại. Xuất
phát từ những tồn tại đã nêu ra ở trên, em xin đề xuất một số kiến nghị sau:
1. Đối với công tác kế toán thuế GTGT trong doanh nghiệp th ơng
mại.
1.1. Về hoá đơn, chứng từ kế toán
_ Đối với chiết khấu thơng mại, để phản ánh đợc nội dung này trong hoạt
động bán hàng, thì cần phải đợc thể hiện trên hoá đơn khi tiến hành giao dịch mua
bán. Do đó, nên bổ sung dòng Trừ chiết khấu thơng mại dới dòng cộng tiền hàng
và trớc dòng tính thuế GTGT. Việc bổ sung nh vậy vừa giảm đợc số lợng chứng từ
phải lập vừa phản ánh đợc đầy đủ nội dung của nghiệp vụ kinh tế phát sinh.
_ Đối với các nghiệp vụ chiết khấu thanh toán, giảm giá hàng bán, hàng bán
bị trả lại cũng nên xây dựng các hóa đơn: Hoá đơn hàng bán trả lại, Hoá đơn chiết
khấu thanh toán, Hoá đơn giảm giá hàng bán và những hóa đơn này cũng phải đợc
xếp vào hệ thống chứng từ bắt buộc bởi nó phản ánh mối quan hệ kinh tế giữa các
pháp nhân độc lập. Đặc biệt, với hoá đơn hàng bán trả lại còn có thể giúp cơ quan
Cuối kỳ, khi tính ra số thuế phải nộp, kế toán ghi:
Nợ TK 33311: Số thuế GTGT đầu ra còn lại
Có TK 1331:Thuế GTGT đầu vào đợc khấu trừ
Có TK 33312:Số thuế phải nộp ngân sách nhà nớc
Nếu đợc miễn giảm thuế, kế toán ghi:
Nợ TK 33312
Có TK 711
_ Với doanh nghiệp tính thuế theo phơng pháp trực tiếp, theo em nên thay đổi
cách tính GTGT nh sau:
GTGT = Doanh số của hàng hóa, dịch vụ (đã loại bỏ thuế GTGT đầu ra)
Gía vốn của hàng hoá, dịch vụ mua vào (đã loại bỏ thuế GTGT đầu vào
2. Đối với cơ chế tài chính và công tác quản lý của Nhà n ớc.
Để hạn chế những gian lận đang xảy ra, theo em, về phía Nhà nớc cần tiến
hành một số biện pháp sau:
_ Điều chỉnh lại cơ chế tài chính, thay đổi những điểm còn tạo ra kẽ hở trong
luật thuế
+ Việc áp dụng hai phơng pháp tính thuế khác nhau đã tạo ra kẽ hở cho
doanh nghiệp ẩn lậu thuế. Về lâu dài cần nhanh chóng hoàn thiện để tiến đến áp
dụng duy nhất một phơng pháp tính thuế. Trớc mắt, nên mở rộng đối tợng hộ kinh
doanh nộp thuế theo phơng pháp khấu trừ, thu hẹp đối tợng hộ kinh doanh nộp thuế
theo phơng pháp trực tiếp, đồng thời phân loại chuyển các hộ kinh doanh này sang
phơng pháp khấu trừ thuế sử dụng hoá đơn GTGT. Trớc tiên là áp dụng với hộ kinh
doanh có doanh số lớn, địa điểm cố định và có nhiều hàng hoá dịch với các doanh
nghiệp sử dụng hoá đơn GTGT.
+ Nhà nớc nên cho phép khấu trừ khống với trờng hợp hàng hoá mua vào
không có hoá đơn làm nguyên liệu để sản xuất hàng hoá dùng cho xuất khẩu, để tạo
ra sự bình đẳng giữa các doanh nghiệp, không tạo ra kẽ hở để các doanh nghiệp lợi
dụng đợc khấu trừ thuế.
+ Thay đổi cách xác định tỷ lệ phân bổ thuế GTGT đầu vào, để xây dựng đợc
tỷ lệ hợp lý hơn, không tạo ra sự biến động qua mức của thuế GTGT đầu vào đợc
cơ quan thuế ở địa phơng, nơi doanh nghiệp nộp thuế, sẽ thông qua mạng internet
và các chơng trình tin học ứng dụng để kiểm tra số liệu tại từng cục thu mua theo số
liệu khách hàng cung cấp thông qua bảng kê mua hàng. Nh vậy, việc kiểm tra sẽ dễ
dàng hơn và cũng dễ phát hiện ra gian lận sai sót hơn.
+ Nhà nớc nên khuyến khích việc giao dịch qua ngân hàng, bởi khi ngời mua,
ngời bán có tài khoản và tiến hành giao dịch qua ngân hàng, cơ quan thuế sẽ dễ
dàng kiểm tra số tiền khách hàng thanh toán, hoặc số tiền chi ra mua hàng hoá đầu
vào qua các giấy báo nợ, giấy báo có của ngân hàng kết hợp đối chiếu số liệu tại
ngân hàng. Nh vậy, các doanh nghiệp sẽ rất khó khăn trong việc ghi giá thấp khi
bán, ghi giá cao khi mua, vì lúc này còn có cả bên thứ ba tham gia xác nhận, đó là
ngân hàng, từ đó có thể hạn chế phần nào gian lận thuế nh hiện nay.
26