1
A. PHẦN MỞ ĐẦU
Thực tiễn đã chứng minh rằng, trong các điều kiện vật chất cần thiết, đất đai
giữ vị trí và ý nghĩa đặc biệt quan trọng - là điều kiện đầu tiên, là cơ sở thiên nhiên
của mọi quá trình sản xuất, là nơi tìm được công cụ lao động, nguyên liệu lao động
và nơi sinh tồn của xã hội loài người. Đất đai vừa đóng vai trò là nguồn lực, vừa
đóng vai trò là yếu tố đầu vào không thể thiếu trong hoạt động kinh tế. Trong các
ngành phi nông nghiệp, đất đai giữ vai trò thụ động với chức năng là cơ sở không
gian và vị trí để hoàn thiện quá trình lao động, là kho tàng dự trữ trong lòng đất.
Trong các ngành nông - lâm nghiệp, đất đai là yếu tố tích cực của quá trình sản
xuất, là điều kiện vật chất - cơ sở không gian, đồng thời là đối tượng lao động và
công cụ hay phương tiện lao động. Trong tiến trình đẩy mạnh công nghiệp hóa,
hiện đại hóa hiện nay ở nước ta đã nảy sinh nhiều vấn đề bức thiết cần giải quyết.
Trong điều kiện quỹ đất có hạn nên việc quản lý, sử dụng một cách tiết kiệm có
hiệu quả nguồn tài nguyên này vào việc phát triển kinh tế của đất nước có ý nghĩa
đặc biệt quan trọng.
Liên tục trong nhiều năm qua, câu chuyện đất đai luôn là vấn đề thời sự nóng
bỏng của người dân cũng như các nhà hoạch định chính sách. Cho đến nay, có lẽ
chưa có lĩnh vực nào xảy ra nhiều tranh chấp, khiếu nại, tố cáo, kiện tụng, xung đột
như lĩnh vực đất đai.
Hiện nay, tốc độ phát triển kinh tế cao kéo theo nhu cầu kê khai cấp giấy
chứng nhận, chuyển nhượng, chuyển mục đích sử dụng đất, đăng ký thế chấp gia
tăng, trong khi đó việc thực hiện cập nhật chỉnh lý bản đồ địa chính và hồ sơ địa
chính chưa được thực hiện đầy đủ theo quy định. Từ đó, tạo ra sự khác biệt thông
tin giữa bản đồ, sổ sách địa chính và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
(GCNQSDĐ) trong nhân dân, giữa GCNQSDĐ và hiện trạng đất đang sử dụng.
Với tình hình quản lý cơ sở dữ liệu địa chính, hồ sơ đất đai như hiện nay thì các cơ
quan chuyên môn chưa thể đưa công nghệ thông tin vào áp dụng một cách đầy đủ
3
- Phần Kết luận: Kết luận và những kiến nghị
Nội dung và hình thức của tiểu luận có thể còn nhiều hạn chế, thiếu sót trong
nhận thức lý luận và cách thể hiện, rất mong quý Thầy, Cô thông cảm chỉ dẫn và
đóng góp ý kiến để tiểu luận đạt kết quả tốt và có ý nghĩa thiết thực phục vụ cho
công tác thực tiễn tại đơn vị.
5
- Hoà giải tranh chấp về đất đai, đề nghị xử lý hành chính về đất đai.
1.1.4 Nội dung công tác quản lý hồ sơ địa chính
- Hồ sơ địa chính gồm: Bản đồ địa chính, Sổ địa chính, Sổ mục kê đất đai, Sổ
theo dõi biến động đất đai và bản lưu Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Bản đồ
địa chính, Sổ địa chính, Sổ mục kê đất đai, Sổ theo dõi biến động đất đai có nội
dung được lập và quản lý trên máy tính dưới dạng số (còn gọi là cơ sở dữ liệu địa
chính) để phục vụ cho quản lý đất đai ở cấp tỉnh, cấp huyện và được in trên giấy để
phục vụ cho quản lý đất đai ở cấp xã.
- Nguyên tắc lập hồ sơ địa chính:
+ Hồ sơ địa chính được lập theo đơn vị hành chính cấp xã.
+ Việc lập và chỉnh lý hồ sơ địa chính thực hiện theo đúng trình tự, thủ
tục hành chính quy định tại Chương XI của Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29
tháng 10 năm 2004 của Chính phủ về thi hành Luật Đất đai.
+ Hồ sơ địa chính dạng số, trên giấy phải bảo đảm tính thống nhất nội
dung thông tin thửa đất với Giấy chứng nhận và hiện trạng sử dụng đất.
- Cơ sở dữ liệu địa chính được xây dựng phải bảo đảm các điều kiện tối thiểu
sau:
+ Được cập nhật, chỉnh lý đầy đủ theo đúng yêu cầu đối với các nội dung
thông tin của bản đồ địa chính và dữ liệu thuộc tính địa chính theo quy định của
Thông tư này;
+ Từ cơ sở dữ liệu địa chính in ra được:
. Giấy chứng nhận.
. Bản đồ địa chính theo tiêu chuẩn kỹ thuật do Bộ Tài nguyên và Môi
trường quy định.
. Sổ mục kê đất đai và Sổ địa chính theo mẫu quy định tại Thông tư
này.
6
. Biểu thống kê, kiểm kê đất đai, các biểu tổng hợp kết quả cấp Giấy
. Chỉnh lý dữ liệu bản đồ địa chính và cập nhật, chỉnh lý dữ liệu
thuộc tính địa chính đối với các trường hợp thuộc thẩm quyền cấp, chỉnh lý Giấy
chứng nhận của cấp tỉnh.
. In Bản đồ địa chính, Sổ địa chính, Sổ mục kê đất đai cấp cho Ủy
ban nhân dân cấp xã sử dụng.
. Trong thời gian chưa xây dựng được cơ sở dữ liệu địa chính thì
thực hiện việc lập, chỉnh lý, quản lý hồ sơ địa chính trên giấy và sao hai (02) bộ,
một (01) bộ gửi Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất trực thuộc Phòng Tài
nguyên và Môi trường, một (01) bộ gửi Uỷ ban nhân dân cấp xã để phục vụ yêu
cầu quản lý đất đai ở địa phương.
- Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thuộc Phòng Tài nguyên và Môi
trường chịu trách nhiệm thực hiện các công việc sau đây:
+ Cập nhật, chỉnh lý bản đồ địa chính và dữ liệu thuộc tính địa chính đối
với các trường hợp thuộc thẩm quyền cấp mới hoặc chỉnh lý Giấy chứng nhận của
cấp huyện;
+ Trong thời gian chưa xây dựng được cơ sở dữ liệu địa chính thì thực
hiện việc cập nhật, chỉnh lý hồ sơ địa chính trên giấy theo quy định.
- Ủy ban nhân dân cấp xã chịu trách nhiệm cập nhật, chỉnh lý vào hồ sơ địa
chính trên giấy đang quản lý đối với tất cả các trường hợp biến động về sử dụng
đất.
1.2 Quan điểm của Đảng về quản lý đất đai
Quan điểm của Đảng về quản lý đất đất đai thể hiện tại Hội nghị lần thứ sáu,
Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI đã thông qua Nghị quyết số 19-NQ/TW
về tiếp tục đổi mới chính sách, pháp luật về đất đai trong thời kỳ đẩy mạnh toàn
diện công cuộc đổi mới, tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành
nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Theo đó, tại phần III, Nghị quyết thể hiện
8
quan điểm chỉ đạo của Đảng là tiếp tục đổi mới và hoàn thiện chính sách, pháp luật
về đất đai. Cụ thể như sau:
chế khiếu kiện về đất đai theo phương hướng đầu tư xây dựng cơ sở dữ liệu về đất
đai, hạ tầng thông tin để từng bước chuyển sang giao dịch điện tử trong lĩnh vực đất
đai. 10
CHƢƠNG 2.
THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ HỒ SƠ ĐỊA CHÍNH TẠI VĂN
PHÒNG ĐĂNG KÝ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT THÀNH PHỐ LONG XUYÊN
trong đó dân số thành thị 238.448 người và nông thôn 34.157 người, mật độ dân số
2.364 người/km2.
2.2 Thực trạng công tác lập, quản lý hồ sơ địa chính tại Văn phòng Đăng ký
quyền sử dụng đất thành phố Long Xuyên
2.2.1 Những mặt đạt đƣợc
2.2.1.1 Công tác đo đạc lập bản đồ địa chính:
- Đối với khu vực đất ở:
Tính đến cuối tháng 12 năm 2012, thành phố Long Xuyên đã hoàn thành công
tác đo đạc lập Bản đồ Địa chính khu vực đất ở cho 13 phường, xã trên địa bàn.
Đồng thời, đã tổ chức kê khai, đăng cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được
16.543 giấy, đã phát giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được 15079 giấy, số giấy
chứng nhận còn tồn là 1464 giấy. Còn tồn 2.060 hồ sơ không đủ điều kiện cấp giấy
(chưa xác minh, người sử dụng đất chưa bổ sung hồ sơ hoàn chỉnh).
Bên cạnh đó, thành phố cũng thực hiện thủ tục hành chính về đất đai trên hệ
thống Bản đồ này dạng riêng lẻ là:
+ Thực hiện hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: 28.848 hồ sơ.
+ Thực hiện hồ sơ chuyển quyền sử dụng đất: 6.030 hồ sơ.
+ Thực hiện hồ sơ giao đất, chuyển mục đích sử dụng đất: 1.652 hồ sơ.
+ Thực hiện đo đạc giải quyết tranh chấp: 380 hồ sơ.
+ Thực hiện các hồ sơ khác: 68.629 hồ sơ.
- Đối với khu vực đất nông nghiệp:
Trước đây, khu vực đất nông nghiệp được thành lập hệ thống Bản đồ 22/CT,
và đã cơ bản thực hiện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho 100% thửa đất.
Tuy nhiên, do hệ thống Bản đồ này có sai số lớn, không đảm bảo quy phạm về bản
đồ. Do đó, thành phố Long Xuyên đã có chủ trương đo lập lại hệ thống Bản đồ này
theo quy phạm và thực hiện cấp đổi giấy chứng nhận theo mẫu mới, đảm bảo tính
pháp lý về vị trí, hình thể, và diện tích thửa đất. Đến nay, Đã đo đạc lập bản đồ địa
12
chính, cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nông nghiệp tại phường Bình
thế chưa được cập nhật vào hệ thống cơ sở dữ liệu địa chính chung. Điều này, chưa
phù hợp với quy định, là nguyên nhân dẫn tới các sai sót chuyên môn trong quá
trình thực hiện các thao tác chuyên môn.
2.2.1.3 Công tác xây dựng cơ sở dữ liệu:
Đối với khu vực đất ở, thành phố Long Xuyên hoàn thành công tác chuẩn hóa
dữ liệu xây dựng cơ sở dữ liệu và chỉnh lý biến động hồ sơ địa chính (dạng số) trên
13 phường, xã.
Cơ sở dữ liệu được vận hành dựa trên phần mềm Vilis do Bộ Tài nguyên và
Môi trường xây dựng. Đây là dạng cơ sở dữ liệu đa người dùng, Cơ sở dữ liệu được
đặt trên máy chủ tại Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất thành phố Long
Xuyên, và dữ liệu được chia sẽ đến 13 phường, xã trên địa bàn thông qua phần
mềm được cài đặt trên máy trạm đặt tại UBND các phường, xã.
Bản đồ địa chính được chuẩn hóa và quản lý trên phần mềm MicroStation.
Bản đồ địa chính cũng được thường xuyên cập nhật biến động đảm bảo thông tin
phù hợp với hiện trạng sử dụng đất.
Dữ liệu biến động đất đai hàng tuần được Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng
đất thống kê gửi về Sở Tài nguyên và Môi trường và UBND các phường, xã để cập
nhật quản lý.
Đối với khu vực đất Nông nghiệp do công tác đo đạc lập lại hệ thống Bản đồ
chưa hoàn chỉnh, nên chưa chuẩn hóa và xây dựng cơ sở dữ liệu như khu vực đất ở.
Hiện nay, Việc xây dựng cơ sở dữ liệu khu vực này thực hiện từng bước, phường,
xã nào đã đo đạc Bản đồ địa chính và thực hiện hoàn thành việc cấp đổi giấy chứng
nhận quyền sử dụng sẽ tiến hành chuẩn hóa, lập cơ sở dữ liệu ghép chung vào sở sở
dữ liệu đất ở.
2.2.1.4 Công tác sắp xếp hồ sơ địa chính lƣu trữ
14
Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất thành phố Long Xuyên được thành lập
vào tháng 04 năm 2007. Khi đó, đã tiếp nhận hồ sơ địa chính lưu trữ từ các đơn vị
quản lý trước đó. Do hồ sơ lưu trữ chưa được phân loại, lưu trữ theo quy định về
của công tác chuẩn hóa cơ sở dữ liệu chưa tốt, nên việc khai thác thông tin chưa đủ
độ tin cậy, chưa tạo được niềm tin cho người sử dụng.
- Mặc dù kho lưu trữ hồ sơ địa chính đã sắp xếp xong, nhưng hiện nay công
tác quản lý, khai thác thông tin từ hồ sơ lưu trữ vẫn còn thủ công, trực tiếp khai
thác thông tin trên hồ sơ giấy, do hồ sơ lưu trữ chưa được số hóa. Do đó, khi cần
khai thác thông tin nhiều lần trên hồ sơ sẽ làm mất nhiều thời gian, hư hỏng hồ sơ,
và đối khi còn làm thất lạc hồ sơ.
- Một bộ phận cán bộ, công chức, viên chức chưa tận tụy với công việc, từ đó
làm cho chất lượng của công tác cập nhật, chỉnh lý hồ sơ địa chính chưa đạt chất
lượng cao, còn để xãy ra sai sót.
- Việc thực hiện biên tập hồ sơ địa chính trên phần mềm Microtation (theo quy
định) phải thao tác nhiều công đoạn mất nhiều thời gian.
- Phần mềm Vilis vận hành cơ sở dữ liệu còn nhiều hạn chế, chưa đáp ứng đầy
đủ theo tiêu chuẩn của bộ Tài nguyên và Môi trường.
2.2.4 Nguyên nhân hạn chế
- Do điều kiện kinh tế ngày càng phát triển, nhu cầu sử dụng đất, giá trị đất
ngày càng cao, các Văn bản quy phạm pháp luật chưa kịp thời điều chỉnh đáp ứng
theo thực tiễn. Do đó, cũng không ít gây khó khăn trong việc thực hiện.
- Do hồ sơ địa chính hình thành qua nhiều giai đoạn lịch sử, đến nay đã hình
thành cơ sở pháp lý, nhưng thông tin không đáp ứng được theo tiêu chuẩn về cơ sở
dữ liệu hiện nay, nên việc chuẩn hóa cơ sở dữ liệu gặp nhiều khó khăn, dẫn tới các
sai sót.
- Một số cán bộ chuyên môn chưa nghiên cứu sâu pháp luật, quy định nên việc
vận dụng còn hạn chế, cứng nhắc.
16
- Thu nhập của cán bộ công nhân viên còn thấp, chưa đáp ứng được tiêu chuẩn
sống tối thiểu, từ đó chưa tạo được động lực làm việc cho họ.
2.3 Những vấn đề đặt ra
- Cần nâng cao chất lượng cơ sở dữ liệu, tạo niềm tin cho người khai thác sử
18
CHƢƠNG 3.
MỤC TIÊU VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC QUẢN
LÝ HỒ SƠ ĐỊA CHÍNH TẠI VĂN PHÒNG ĐĂNG KÝ QUYỀN SỬ DỤNG
ĐẤT THÀNH PHỐ LONG XUYÊN ĐẾN NĂM 2015
3.1 Mục tiêu
quyền sử dụng đối với các phường còn lại như: Mỹ Phước, Đông Xuyên, Bình
Khánh, Mỹ Khánh. Ngoài ra, các phường, xã đã đo đạc bản đồ địa chính xong, và
đang thực hiện công tác cấp đổi giấy chứng nhận như: Bình Đức, Mỹ Hòa, Mỹ
Thới, Mỹ Thạnh, Mỹ Quý, Mỹ Hòa Hưng thì tiếp tục thực hiện công tác xét cấp đổi
giấy chứng nhận và đẩy mạnh công tác cấp phát giấy chứng nhận đã thực hiện xong
đến tay người dân bằng cách chuyển các giấy chứng nhận này về phường, xã để
thông báo người dân đến nhận.
- Ba là: Hoàn thành công tác xét cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đại
trà còn tồn đọng khu vực đất ở, hiện còn tồn đọng 2060 hồ sơ, và 1464 giấy chứng
nhận chưa cấp phát đến tay người dân.
+ Đối với các giấy chứng nhận còn tồn đọng: Do các giấy chứng nhận
này còn tồn đọng đã kéo dài. Do đó, tiếp tục đẩy mạnh việc cấp phát giấy chứng
nhận đến tay người dân bằng cách chuyển giao các giấy chứng nhận trên về UBND
phường, xã để kết hợp thông báo trên phương tiện truyền thông và đến từng nhà
phát ra cho người dân.
+ Đối với hồ sơ còn tồn đọng: Do thời gian thực hiện phần công tác này
đã kéo dài từ trước khi thành lập Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất vào tháng
4/2007. Do đó, hiện nay đơn vị chưa nắm được cụ thể lý do tồn đọng. Mặt khác, do
thời gian kéo dài nên một số hộ gia đình cá nhân có nhu cầu gấp nên đã tiến hành
đăng ký xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất dang riêng rẽ, nhưng đến nay
các hồ sơ này vẫn còn được ghi nhận ở dạng tồn đọng. Do đó, Để hoàn thành mục
tiêu này đơn vị cần phải:
20
. Phối hợp với UBND các phường, xã rà soát lại cụ thể số lượng hồ
sơ còn tồn đọng, phân loại lý do tồn đọng, lập danh sách cụ thể có xác nhận của
phường, xã.
. Trên cơ sở danh sách đã phân loại Văn phòng đăng ký quyền sử
dụng đất tiến hành lọc ra các loại hồ sơ còn tranh chấp về quyền sử dụng đất, tranh
chấp ranh đất để chuyển sang phòng Tài nguyên và Môi trường phối hợp với
hiện tốt công tác được giao.
- Sáu là: Công tác lưu trữ hồ sơ địa chính phải đảm bảo đúng quy định về Văn
thư lưu trữ, thông tin kịp thời, chính xác đáp ứng nhu cầu khai thác phục vụ công
tác chuyên môn. Kho lưu trữ hồ sơ địa chính cần được số hóa để đảm bảo mục tiêu.
Để thực hiện được mục tiêu, đơn vị cần phải thực hiện các bước sau:
+ Tham mưu UBND thành phố Long Xuyên để tranh thủ ngân sách thực
hiện công tác.
+ Lập phương án thực hiện, trong đó cần xác định rõ tiến độ thực hiện,
phần mềm quản lý, thông tin cần số hóa, phân quyền cho đối tượng được khai thác
thông tin, nhân sự thực hiện.
+ Xây dựng quy chế nội bộ về khai thác, sử dụng thông tin lưu trữ hồ sơ
địa chính.
- Bảy là: Các hồ sơ đăng ký thế chấp, xóa thế chấp cần được cập nhật vào hệ
thống cơ sở dữ liệu hồ sơ địa chính chung nhằm tránh các sai sót trong quá trình
thao tác chuyên môn. Nguyên nhân, do cơ sở dữ liệu địa chính chưa được chuẩn
hóa hoàn thiện, nên thông tin trên cơ sở dữ liệu còn thiếu so với hiện trạng. Mặt
khác, chức năng đăng ký thế chấp trên phần mềm vận hành cơ sở dữ liệu chưa hoàn
chỉnh, nên phần công tác này chỉ được thực hiện sau khi đã chỉnh sửa phần mềm
Vilis. Do đó, để thực hiện được mục tiêu, đơn vị cần phải thực hiện các bước sau:
+ Đề nghị Sở Tài nguyên và Môi trường sớm hoàn thiện phần mềm quản
lý cơ sở dữ liệu địa chính về chức năng cập nhật dữ liệu đăng ký thế chấp, xóa thế
chấp đảm bảo thông suốt, dễ dàng cho cán bộ chuyên môn thực hiện.
22
+ Cập nhật cơ sở dữ liệu đã đăng ký thế chấp, xóa thế chấp đã thực hiện
trước đây.
+ Trước mắt đơn vị cần ban hành quy định thực hiện việc quản lý, cập
nhật thông tin thế chấp vào phần mềm Vilis đối với các giấy chứng nhận thuộc khu
vực đất ở cho tất các phường, xã và khu vực đất Nông nghiệp của phường Bình
Đức. Các phường, xã chưa hoàn chỉnh cơ sở dữ liệu tạm thời thực hiện trên phần
24
C. KẾT LUẬN
Đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành
phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư,
xây dựng các khu công trình kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh quốc phòng. Do đó
Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm, coi quản lý đất đai là vấn đề hết sức hệ trọng
của đất nước, thường xuyên sửa đổi bổ sung chính sách đất đai, luật đất đai cho phù
- Xây dựng và hoàn chỉnh hệ thống văn bản pháp luật nhà nước về quản lý đất
đai.
- Tăng cường tuyên truyền pháp luật về đất đai cho người dân được thông suốt
bằng nhiều hình thức như: thông tin đại chúng, phát thanh, tờ bướm, hỏi đáp pháp
luật, …
- Tập trung giải quyết dứt điểm việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở,
cấp đổi đất nông nghiệp trên địa bàn thành phố, nhằm tạo cơ sở pháp lý trong công
tác quản lý.
- Tăng cường công tác kiểm tra, rà soát lại các đơn thư khiếu nại đúng thẩm
quyền giải quyết nhanh chóng theo luật định. Phân công rõ rang trong việc giải
quyết, xử lý khiếu nại, tranh chấp về đất đai, tránh làm sai quy định, không đúng
thẩm quyền, đùn đẩy trách nhiệm.
- Tăng cường công tác đăng ký, điều tra, thống kê, khảo sát, đo đạc, lập hồ sơ
địa chính và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụg đất cho người sử dụng đất.
- Tăng cường năng lực đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức về phẩm chất,
đạo đức, chuyên môn nghiệp vụ. Nâng cao nhận thức của đội ngũ cán bộ, công
chức, viên chức thấm nhuần đạo đức, tư tưởng Hồ Chí Minh “ Nâng cao ý thức
trách nhiệm, hết lòng hết sức phụng sự tổ quốc, phục vụ nhân dân “./.