thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả của công tác bồi thường giải phóng mặt bằng trên địa bàn huyện võ nhai tỉnh thái nguyên - Pdf 22


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn i

LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong Luận văn này là trung
thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào.
Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện Luận văn này đã
được cám ơn và các thông tin trích dẫn trong Luận văn đều đã được chỉ rõ
nguồn gốc./.

Tác giả luận văn Đồng Thị Thúy


Thái Nguyên, ngày 30 tháng 9 năm 2010
Tác giả luận văn Đồng Thị Thúy Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn iii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

STT
Các chữ viết tắt
Ký hiệu
1
Bồi thường
BT
2
Công nghiệp hoá- Hiện đại hoá
CNH-HĐH
3
Giấy chứng nhận
GCN
4
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
GCNQSDĐ
5

Bảng 3.3: Hiện trạng dân số và lao động huyện Võ Nhai năm 2008 36
Bảng 3.4: Tình hình lao động khu vực GPMB 37
Bảng 3.5: Trình độ dân trí trên địa bàn huyện Võ Nhai năm 2008 38
Bảng 3.6 : Hiện trạng sử dụng đất huyện Võ Nhai năm 2008 40
Bảng 3.7: Diện tích đất bị thu hồi của huyện Võ Nhai 44
giai đoạn 2006 – 2008 44
Bảng 3.8: Xác định đối tượng được bồi thường và không được bồi thường tại 2 vùng
nghiên cứu 54
Bảng 3.9: Ý kiến của người có đất bị thu hồi trong việc xác định đối tượng và điều kiện
được bồi thường tại 2 vùng nghiên cứu 55
Bảng 3.10: Tổng hợp đơn giá bồi thường về đất tại 2 vùng 57
Bảng 3.11: Tổng hợp diện tích các loại đất bị thu hồi được bồi thường tại 2 vùng nghiên
cứu 59
Bảng 3.12: Ý kiến của người có đất bị thu hồi trong việc xác định giá bồi thường đất và tài
sản trên đất tại 2 vùng 60
Bảng 3.14: Tổng hợp các khoản hỗ trợ tại các dự án thuộc 2 vùng nghiên cứu 65
Bảng 3.15: Ý kiến của người có đất bị thu hồi trong việc thực hiện các chính sách hỗ trợ66
Bảng 3.16: Thu nhập bình quân của người dân tại 2 vùng nghiên cứu 68
Bảng 3.17: Tình hình thu nhập của các hộ sau khi bị thu hồi đất tại 2 vùng nghiên cứu 69
Bảng 3.18: Tình hình an ninh trật tự xã hội của người dân sau khi thu hồi đất 71
Bảng 3.19: Tình hình sử dụng tiền đền bù của người dân bị thu hồi đất 73
tại 2 vùng nghiên cứu 73 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn v
MỤC LỤC


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn vi
2.3.1. Đánh giá về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện Võ Nhai
23
2.3.2. Thực trạng bồi thường GPMB trên địa bàn huyện Võ Nhai 23
3.3.2.1. Thực trạng bồi thường GPMB vùng đô thị 23
3.3.2.2. Thực trạng bồi thường GPMB vùng khu công nghiệp 23
2.3.3. Đánh giá nội dung chính sách bồi thường GPMB và cách thức tổ
chức thực hiện GPMB của địa phương 24
2.3.4. Đánh giá nội dung giá bồi thường trong công tác GPMB 24
2.3.5. Đánh giá phản ứng của người dân khi bị thu hồi đất 24
2.3.6. Đánh giá những ảnh hưởng của công tác GPMB đến đời sống của
người dân trong khu vực GPMB 25
2.3.7. Đề xuất phương án khả thi cho công tác bồi thường GPMB 25
2.4. Phương pháp nghiên cứu 25
2.4.1. Phương pháp điều tra, thu thập, tài liệu, số liệu thứ cấp. 25
2.4.2. Phương pháp điều tra, thu thập, tài liệu, số liệu sơ cấp. 26
2.4.3. Phương pháp thống kê, phân tích, tổng hợp số liệu điều tra (sử
dụng phần mềm Microsoft Excel) 26
2.4.4. Phương pháp chuyên gia 26
2.4.5. Phương pháp so sánh, đối chiếu kết quả điều tra 26
2.4.6.Phương pháp tham khảo, kế thừa các tài liệu liên quan đến đề tài 26
Chƣơng 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 27
3.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện Võ Nhai 27
3.1.1. Điều kiện tự nhiên 27
3.1.2. Điều kiện kinh tế xã hội 35
3.1.2.1. Điều kiện kinh tế 35
3.1.2.2. Dân số và lao động 36

3.4.3.2. Một số hạn chế 67
3.5 Đánh giá tác động kinh tế- xã hội của các hộ gia đình sau khi bị thu hồi
đất và các chính sách đền bù, hỗ trợ việc làm cho các hộ nông dân bị mất
đất nông nghiệp 68
3.5.1. Tác động đến kinh tế 68
3.5.2. Tác động đến xã hội và môi trường 71
3.5.3. Tác động của các chính sách hỗ trộ đền bù 73
3.6. Đánh giá kết quả đạt được 74
3.6.1. Những thuận lợi, khó khăn và tồn tại 74
3.6.2. Kinh nghiệm chỉ đạo trong công tác GPMB 77
3.7. Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác bồi thường
GPMB trên địa bàn huyện Võ Nhai 79
3.7.1. Giải pháp về chính sách ưu đãi 79
3.7.2. Giải pháp về hiệu quả sử dụng đất 80

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn viii
3.7.3. Giải pháp về đào tạo nghề, tạo việc làm, tăng thu nhập, ổn định
cuộc sống cho người có đất bị thu hồi 81
3.7.4. Về quản lý đất đai 84
3.7.5. Về khung giá bồi thường 84
3.7.6. Về tái định cư85
3.7.7. Các giải pháp về bảo vệ môi trường 85
3.7.8. Môi trường xã hội 86
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 88
4.1. Kết luận 88
4.1.1.Về chính sách bồi thường 88
4.1.2. Tác động của việc thực hiện chính sách bồi thường GPMB đến đời

người dân có đất bị thu hồi và những người bị ảnh hưởng khi thu hồi đất để
dẫn đến bùng phát khiếu kiện, đặc biệt là những khiếu kiện tập thể đông
người, sẽ trở thành vấn đề xã hội phức tạp, ảnh hưởng nghiêm trọng đến tình
hình an ninh trật tự, mất ổn định xã hội và phần nào ảnh hưởng đến lòng tin
của người dân đối với các chính sách của nhà nước. Nếu việc thu hồi đất bị
lạm dụng, quỹ đất nông nghiệp bị giảm dần, về lâu dài có thể ảnh hưởng tới
an ninh lương thực quốc gia.
Võ Nhai là một huyện miền núi phía đông bắc tỉnh Thái Nguyên. Võ
Nhai giáp các huyện Chợ Mới và Na Rì (tỉnh Bắc Kạn) về phía bắc; giáp
huyện Đồng Hỷ về phía tây; giáp huyện Yên Thế (tỉnh Bắc Giang) về phía

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 2
nam và giáp tỉnh Lạng Sơn về phía đông (các huyện Bình Gia, Bắc Sơn và
Hữu Lũng). Với diện tích tự nhiên là 845,10km
2
, huyện có 15 đơn vị hành
chính cấp xã/phường gồm 1 thị trấn và 14 xã, dân số là 62.326 người (2005)
mật độ là 73,75 người/km
2
. Trên địa bàn có các dân tộc: Kinh, Tày, Nùng,
Giao, H'mong, Cao Lan, Sán Chí, Hoa sinh sống[20]. Thu hồi đền bù và tái
định cư trong giải phóng mặt bằng không chỉ là mối quan tâm riêng của các
cấp chính quyền và địa phương nào mà đó đang là vấn đề "nóng" trong cả
nước. Hiện nay các vùng đồng bằng và các thành phố đang gặp rất nhiều khó
khăn trong công tác GPMB nhưng với một huyện vùng núi cao với rất nhiều
thành phần dân tộc sinh sống, dân trí còn thấp, tập quán sinh hoạt còn lạc hậu,
là huyện có tỷ lệ hộ nghèo cao nhất tỉnh (năm 2005 là 52,44%) như Võ

quyết tốt mối quan hệ về lợi ích giữa nhà đầu tư cần sử dụng đất với người có
đất bị thu hồi. Việc quy định giá đất quá thấp so với giá chuyển nhượng
quyền sử dụng đất thực tế trên thị trường tuy có tác động tích cực tới việc việc
khuyến khích nhà đầu tư nhưng lại gây ra những phản ánh gay gắt của những
người có đất bị thu hồi. Giá đất bồi thường, hỗ trợ nhìn chung chưa sát giá thị
trường trong điều kiện bình thường, trong nhiều trường hợp quá thấp so với
giá đất cùng loại chuyển nhượng thực tế, đặc biệt là đối với đất nông nghiệp
trong khu vực đô thị và liền kề với khu dân cư. Tại vùng giáp ranh giữa các
tỉnh và vùng giáp ranh giữa đô thị và nông thôn còn chênh lệch quá lớn về giá
đất bồi thường, hỗ trợ. Còn thiếu sự phối hợp chặt chẽ giữa các cấp, các
ngành; chưa làm tốt công tác tuyên truyền, vận động, giải thích cho nhân dân
hiểu rõ quy định của pháp luật; hoặc né tránh, thiếu cương quyết, không giải
quyết dứt điểm, làm cho việc GPMB bị dây dưa kéo dài nhiều năm. Do đó,
đòi hỏi phải có các phương án đền bù thật hợp lý, công bằng đảm bảo cho mọi
người dân đều thỏa đáng với chính sách đền bù nhằm đẩy nhanh tiến độ công
tác GPMB.
Xuất phát từ thực tiễn trên, đồng thời được sự nhất trí của Ban giám
hiệu nhà trường - Trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên, Khoa sau đại
học, được sự hướng dẫn của thầy giáo PGS.TS Đặng Văn Minh em tiến
hành nghiên cứu đề tài: "Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả của
công tác bồi thường giải phóng mặt bằng trên địa bàn huyện Võ Nhai
tỉnh Thái Nguyên."
1.2. Mục tiêu
- Xác định được thực trạng của công tác đền bù GPMB của huyện Võ Nhai
- Đánh giá những ưu điểm và hạn chế của hệ thống chính sách mà
UBND huyện Võ Nhai áp dụng trong công tác đền bù GPMB trên địa bàn
huyện Võ Nhai.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 5
CHƢƠNG 1
TỔNG QUAN

1.1. Cơ sở pháp lý
Công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư luôn được Đảng và Nhà nước
quan tâm thể hiện bằng hệ thống các chính sách trong từng thời kỳ của đất
nước. Có thể liệt kê một số chính sách theo từng giai đoạn như sau:
- Nghị định 151/TTg ngày 14/4/1959 quy định thể lệ tạm thời về trưng
dụng ruộng đất;
- Thông tư 1792/TTg ngày 11/1/1970 về bồi thường nhà cửa, đất đai cây
cối lưu niên, các hoa mầu cho nhân dân ở những vùng xây dựng kinh tế, mở
rộng thành phố;
- Quyết định số 186/HĐBT ngày 31/5/1980 về đền bù thiệt hại đất nông
nghiệp, đất có rừng khi chuyển sang sử dụng vào mục đích khác.
- Nghị định số 90/CP ngày 17/8/1984 về việc đền bù thiệt hại khi Nhà
nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc
gia, lợi ích công cộng;
- Nghị định 197/2004/NĐ-CP ngày 12/03/2004 của Chính phủ về bồi
thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất
- Thông tư 116/2004/TT-BTC ngày 12/07/2004 của Bộ Tài chính về
hướng dẫn Nghị định 197/2004/NĐ-CP
- Nghị định 198/2004/NĐ-CP ngày 12/03/2004 của Chính phủ về thu

dụng đất, thu hồi đất, thực hiện quyền sử dụng đất, trình tự, thủ tục bồi
thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại về
đất đai.
- Nghị định số 44/2008/NĐ-CP ngày 09/4/2008 Về sửa đổi, bổ sung một
số điều cảu Nghị định 198/2004/NĐ-CP ngày/12/2004 của CP về thu tiền sử
dụng đất.
Kèm theo các quyết định, nghị định, thông tư, văn bản hướng dẫn thực
hiện của các Bộ ngành chức năng là các Biểu giá đất của địa phương; Biểu giá
bồi thường hoa màu,tài sản, vật kiến trúc khi thu hồi đất của địa phương; các
văn bản về bồi thường, GPMD, di dân , tái định cư của địa phương (nếu có).
Có thể nói hệ thống chính sách của Nhà nước đã thay đổi để phù hợp với
từng thời kỳ phát triển, phục vụ tốt công tác Quản lý nhà nước về đất đai nói
chung và công tác bồi thường GPMB nói riêng để đi đến một mục tiêu cuối
cùng là phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 7
1.2. Cơ sở khoa học
1.2.1. Cơ sở lý luận công tác bồi thường GPMB
Giải phóng mặt bằng là quá trình đa dạng và phức tạp. Nó thể hiện khác
nhau đối với mỗi một dự án, nó liên quan trực tiếp đến lợi ích của các bên
tham gia và lợi ích của toàn xã hội.
- Tính đa dạng thể hiện: mỗi dự án được tiến hành trên một vùng đất
khác nhau với điều kiện tự nhiên kinh tế, xã hội và trình độ dân trí nhất định.
Đối với khu vực nội thành, khu vực ven đô, khu vực ngoại thành, mật độ
dân cư khác nhau, ngành nghề đa dạng và đều hoạt động sản xuất theo một
đặc trưng riêng của vùng đó. Do đó, giải phóng mặt bằng cũng được tiến hành
với những đặc điểm riêng biệt.

03/12/2004 của Chính Phủ.
- Quyết định 2550/2007/QĐ-UBND ngày 14/11/2007 của UBND tỉnh
Thái Nguyên V/v sửa đổi điều 21 quy định kèm theo Quyết định
2044/2005/QĐ-UBND về thực hiện bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà
nước thu hồi đất do UBND Tỉnh Thái Nguyên ban hành
1.3. Thực trạng về công tác bồi thƣờng GPMB trên thế giới, trong nƣớc
và trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên
1.3.1. Thực trạng về công tác bồi thường GPMB trên thế giới
- Trung Quốc [33]
Ở Trung Quốc, đất đai thuộc chế độ công hữu, gồm sở hữu toàn dân và sở
hữu tập thể. Đất đai ở khu vực thành thị và đất xây dựng thuộc sở hữu nhà
nước. Đất ở khu vực nông thôn và đất nông nghiệp thuộc sở hữu tập thể, nông
dân lao động. Theo quy định của Luật đất đai Trung Quốc năm 1998, đất đai
thuộc sở hữu nhà nước được giao cho các tổ chức, cá nhân sử dụng theo các
hình thức giao đất không thu tiền sử dụng đất (cấp đất), giao đất có thu tiền sử
dụng đất và cho thuê đất.
Đất thuộc diện được cấp bao gồm đất sử dụng cho cơ quan nhà nước,
phục vụ mục đích công cộng, xây dựng cơ sở hạ tầng và phục vụ cho mục
đích quốc phòng, an ninh. Đất sử dụng vào mục đích sản xuất kinh doanh thì
được Nhà nước giao đất theo hình thức giao đất có thu tiền sử dụng đất hoặc
là cho thuê đất.
Trong trường hợp Nhà nước thu hồi đất của người đang sử dụng để sử
dụng vào mục đích công cộng, lợi ích quốc gia thì Nhà nước có chính sách

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 9
bồi thường và tổ chức TĐC cho người bị thu hồi đất.
Vấn đề bồi thường cho người có đất bị thu hồi được pháp luật đất đai


10
Tuy nhiên, ở thành thị, cá biệt cũng có một số gia đình sau khi được bồi
thường cũng không mua nổi một căn hộ để ở. Những đối tượng trong diện
giải toả mặt bằng thường được hưởng chính sách mua nhà ưu đãi của Nhà
nước, song trên thực tế họ thường mua nhà bên ngoài thị trường.
Về tổ chức thực hiện và quản lý giải toả mặt bằng: Cục quản lý tài
nguyên đất đai ở các địa phương thực hiện việc quản lý giải toả mặt bằng.
Người nhận khu đất thu hồi sẽ thuê một đơn vị xây dựng giải toả mặt bằng
khu đất đó, thường là các đơn vị chịu trách nhiệm thi công công trình trên khu
đất giải toả.
Nhìn chung hệ thống pháp luật về bồi thường và TĐC của Trung Quốc đều
nhằm bảo vệ những người mà mức sống có thể bị giảm do việc thu hồi đất để
thực hiện các dự án. Theo một nghiên cứu gần đây của WB thì các luật về
TĐC của Trung Quốc đối với các dự án phát triển đô thị, công nghiệp và giao
thông "đã đáp ứng đầy đủ các yêu cầu của WB trong tài liệu hướng dẫn thực
hiện TĐC".[12]
- Australia
Luật đất đai của Australia quy định đất đai của quốc gia thuộc sở hữu Nhà nước
và sở hữu tư nhân. Luật đất đai bảo hộ tuyệt đối quyền lợi và nghĩa vụ của chủ
sở hữu đất đai. Chủ sở hữu có quyền cho thuê, chuyển nhượng, thế chấp, thừa kế
theo di chúc mà không có sự cản trở nào, kể cả việc tích luỹ đất đai.
Theo luật của Australia 1989 có hai loại thu đất, đó là thu đất bắt buộc và thu
đất tự nguyện.
Thu hồi đất tự nguyện được tiến hành khi chủ đất cần được thu hồi đất.
Trong thu hồi đất tự nguyên không có quy định đặc biệt nào được áp dụng mà
việc thoả thuận đó là nguyên tắc cơ bản nhất. Chủ có đất cần được thu hồi và
người thu hồi đất sẽ thoả thuận giá bồi thường đất trên tinh thần đồng thuận
và căn cứ vào thị trường. Không có bên nào có quyền hơn bên nào trong thoả
thuận và cũng không bên nào được áp đặt đối với bên kia.

Trong mỗi kiểu Nhà nước tuỳ theo tình hình kinh tế, chính trị, xã hội và
những đặc điểm truyền thống, huyết thống, tập tục mà các hình thức sở hữu
đất đai luôn được giai cấp thống trị chú trọng. Ngay từ thời kỳ phát triển Nhà
nước trung ương tập quyền đến thời Nguyễn, chính sách bồi thường cho
người bị thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất đã được xác lập và chủ yếu tập

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 12
trung vào bồi thường cho ruộng đất canh tác, đất ở không được quan tâm
nhiều so với các loại đất khác. Hình thức bồi thường chủ yếu bằng tiền, mức
bồi thường được quy định chặt chẽ, tương ứng với những thiệt hại của người
bị thu hồi đất
Sau cách mạng tháng 8/1945, với mục tiêu người cày có ruộng, ngày 04
tháng 12 năm 1953, Luật cải cách ruộng đất ra đời nhằm thủ tiêu quyền chiếm
hữu ruộng đất của thực dân Pháp và tay sai bán nước ở Việt Nam, xoá bỏ chế
độ phong kiến về chiếm hữu ruộng đất, thực hiện chế độ sở hữu ruộng đất của
nông dân, đồng thời tịch thu, trưng thu, trưng mua ruộng.
Khi trưng thu ruộng đất, Nhà nước xác định, cách bồi thường tốt nhất là
vận động nông dân điều chỉnh hoặc nhượng ruộng đất cho người bị trưng
dụng để họ tiếp tục sản xuất. Trường hợp không làm được như vậy, về đất sẽ
được bồi thường bằng tiền từ 1- 4 năm sản lượng thường niên của ruộng đất
bị trưng dụng. Mức bồi thường căn cứ vào thực tế ở mỗi nơi, đời sống của
nhân dân cao hay thấp, ruộng đất ít hay nhiều, tốt hay xấu mà định. Có thể
nói, Nghị định số 151/TTg ra đời phần nào đáp ứng nhu cầu trưng dụng ruộng
đất trong những năm 1960. Tuy nhiên, Nghị định này chưa có quy định cụ thể
về mức bồi thường mà chủ yếu dựa vào sự thoả thuận giữa các bên.
Ngày 11 tháng 01 năm 1970, Thủ tướng Chính phủ ban hành Thông tư
1792/TTg quy định một số điểm tạm thời về bồi thường nhà cửa, đất đai, cây

Trung ương 30%, còn lại 70% thuộc ngân sách địa phương để sử dụng việc
khai hoang, phục hoá, cải tạo đất nông nghiệp và định canh, định cư cho nhân
dân vùng bị lấy đất. Người có đất bị thu hồi chỉ được bồi thường thiệt hại tài
sản trên đất, trong lòng đất. Nếu Nhà nước thu hồi đất vào đất làm nhà ở, việc
bồi thường thiệt hại về đất không được đặt ra và người bị thu hồi đất làm nhà
ở sẽ phải tự lo liệu.
Có thể nhận thấy thời kỳ này đất đai chưa được thừa nhận là có giá cho nên
các chính sách bồi thường GPMB còn có nhiều hạn chế, thể hiện trong cách
tính giá trị bồi thường, phương thức thực hiện. Tuy nhiên, nhìn nhận một cách
công bằng thì những chính sách này cũng đã đóng vai trò tích cực trong việc
GPMB để dành đất cho việc xây dựng các công trình quan trọng trong hệ
thống cơ sở hạ tầng ban đầu của đất nước.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 14
1.3.2.2. Thời kỳ từ năm 1993 đến năm 2003
Hiến pháp 1992 đặt nền móng cho việc xây dựng chính sách bồi thường
GPMB qua những điều 17, 18, 23.
Trên cơ sở Hiến pháp 1992, Luật đất đai 1993 được Quốc hội thông
qua và có hiệu lực từ ngày 15 tháng 10 năm 1993. Với quy định "đất có giá"
và người sử dụng đất có các quyền và nghĩa vụ, đây là sự đổi mới có ý nghĩa
rất quan trọng đối với công tác bồi thường GPMB của Luật đất đai năm 1993.
Những quy định về bồi thường GPMB của Luật đất đai năm 1993 đã
thu được những thành tựu quan trọng trong giai đoạn đầu thực hiện, nhưng
càng về sau, do sự chuyển biến mau lẹ của tình hình kinh tế xã hội, nó đã dần
mất đi vai trò làm động lực thúc đẩy phát triển. Để tạo điều kiện đẩy nhanh
tốc độ GPMB đẩy nhanh tiến độ thi công công trình, đồng thời bảo đảm
quyền lợi hợp pháp của người sử dụng đất, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều

quy định rõ phạm vi áp dụng bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất, đối
tượng phải bồi thường , đối tượng được bồi thường, phạm vi bồi thường
thiệt hại và các chính sách cụ thể về bồi thường về đất, tài sản gắn liền với
đất, việc lập khu TĐC cũng như việc tổ chức thực hiện.
1.3.2.3. Từ khi có Luật đất đai năm 2003
Luật đất đai năm 2003 được Quốc hội thông qua và có hiệu lực ngày 01
tháng 7 năm 2004. Để hướng dẫn việc bồi thường GPMB theo quy định của
Luật đất đai năm 2003, một số văn bản sau đã được ban hành:
- Nghị định số 188/2004/NĐ-CP ngày 16 tháng 11 năm 2004 về
phương pháp xác định giá đất và khung giá các loại đất;
- Nghị định số 197/2004/NĐ-CP ngày 03 tháng 12 năm 2004 của Chính
phủ về bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất;
- Nghị định số 17/2006/NĐ-CP ngày 27 tháng 01 năm 2006 của Chính
phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định hướng dẫn thi hành
Luật đất đai và Nghị định số 187/2004/NĐ-CP về việc chuyển công ty Nhà
nước thành công ty cổ phần;
- Thông tư số 116/2004/TT-BTC ngày 07 tháng 12 năm 2004 của Bộ
Tài Chính hướng dẫn thực hiện Nghị định số 197/2004/NĐ-CP ngày 03 tháng
12 năm 2004 của Chính phủ về bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất.
- Thông tư số 69/2006/TT-BTC ngày 02 tháng 8 năm 2006 của Bộ Tài

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn 16
chính sửa đổi, bổ sung Thông tư số 116/2004/TT-BTC ngày 07 tháng 12 năm
2004 của Bộ Tài Chính hướng dẫn thực hiện Nghị định số 197/2004/NĐ-CP
ngày 03 tháng 12 năm 2004 của Chính phủ về bồi thường, hỗ trợ khi Nhà
nước thu hồi đất.
Về cơ bản, chính sách bồi thường GPMB theo Luật đất đai 2003 đã kế thừa

góp phần rất quan trọng để phát triển kinh tế - xã hội nhưng đây cũng là một
trong những vấn đề nổi cộm nhất trong công tác quản lý đất đai hiện nay.
Tại Hà Nội, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (BNNPTNT) kết
hợp với Bộ Tài nguyên và Môi trường đã tổ chức hội thảo đánh giá tình hình
thu hồi đất của nông dân để thực hiện CNH-HĐH.
* Về diện tích đất nông nghiệp, đẩt ở bị thu hồi để phát triển các
khu công nghiệp, đô thị và các công trình công cộng
Trong 5 năm, từ năm 2001-2005, tổng diện tích đất nông nghiệp đã thu
hồi là 366,44 nghìn ha (chiếm gần 4 % tổng diện tích đất nông nghiệp của cả
nước). Trong đó diện tích đất nông nghiệp đã thu hồi để xây dựng các khu
công nghiệp và cụm công nghiệp là 39,56 nghìn ha, xây dựng đô thị là 70,32
nghìn ha và xây dựng kết cấu hạ tầng là 136,17 nghìn ha.
Các vùng kinh tế trọng điểm và khu vực có diện tích đất nông nghiệp
thu hồi lớn nhất, chiếm khoảng 50% diện tích đất thu hồi trên toàn quốc.
Những địa phương có diện tích đất thu hồi lớn là Tiền Giang (20.308 ha),
Đồng Nai (19.752 ha), Bình Dương (16.627 ha), Quảng Nam (11.812 ha), Cà
Mau (13.242 ha ), Hà Nội (7.776 ha), Hà Tĩnh (6.391 ha), Vĩnh phúc (5.573
ha). Theo số liệu điều tra của BNNPTNT tại 16 tỉnh trọng điểm về thu hồi đất,
diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi chiếm khoảng 89% và diện tích đất thổ cư
chiếm 11%. Đồng bằng sông Hồng là vùng có diện tích đất bị thu hồi lớn
nhất, chiếm 4,4% tổng diện tích đất nông nghiệp của cả nước, tỷ lệ này ở
Đông Nam Bộ là 2,1%, ở nhiều vùng khác là dưới 0,5%.
Mặc dù diện tích đất nông nghiệp, đất ở bị thu hồi tại mỗi tỉnh chiếm tỷ
lệ nhỏ trong tổng số diện tích đất tự nhiên của địa phương nhưng lại tập trung
vào một số huyện, xã có mật độ dân số cao. Diện tích bình quân đầu người
thấp, có xã diện tích đất bị thu hồi chiếm tới 70%-80% diện tích đất canh tác
1.3.3. Thực trạng về công tác bồi thường GPMB trên địa bàn tỉnh Thái
Nguyên [30]
Thái Nguyên là một tỉnh trung du miền núi, tỉnh Thái Nguyên có 9 đơn vị
hành chính gồm 1 thành phố Thái Nguyên, 1 thị xã Sông Công và 7 huyện:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status