Nghiên cứu một số mô hình khai thác thức ăn gia súc tại xã biển động huyện lục ngạn tỉnh Bắc Giang - Pdf 24

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM
TRẦN THỊ QUỲNH
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ MÔ HÌNH KHAI THÁC
THỨC ĂN GIA SÚC

TẠI XÃ BIỂN ĐỘNG
HUYỆN LỤC NGẠN TỈNH BẮC GIANGChuyên ngành: Sinh thái học
Mã số: 60 42 01 20 LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC
Hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS Hoàng Chung

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu, kết
quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa có ai công bố trong bất
kỳ một công trình nào khác.
Tác giả

Trần Thị Quỳnh

XÁC NHẬN
CỦA KHOA CHUYÊN MÔN
XÁC NHẬN
CỦA GIÁO VIÊN HƢỚNG DẪN

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

i
MỤC LỤC

Trang
Trang bìa phụ
Lời cảm ơn
Lời cam đoan
Mục lục i
Danh mục bảng biểu iv
Danh mục các chữ viết tắt v

2.1.3 Đặc điểm thổ nhưỡng 30
2.1.4. Khí hậu thủy văn 31
2.1.5. Hiện trạng sử dụng đất đai 32
2.2. Tình hình kinh tế xã hội vùng nghiên cứu 32
2.2.1. Dân sinh 32
2.2.2. Sản xuất nông, lâm nghiệp 34
2.2.3 Giao thông thủy lợi 36
2.2.4. Văn hóa, giáo dục, y tế 37
2.2.5 Quốc phòng – An ninh 37
Chƣơng 3. ĐỐI TƢỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN
CỨU 40
3.1 Đối tượng nghiên cứu 40
3.2 Nội dung nghiên cứu 40
3.3 Phương pháp nghiên cứu 41
3.3.1. Các phương pháp nghiên cứu ngoài thiên nhiên 41
3.3.2. Các phương pháp nghiên cứu trong phòng thí nghiệm 42
Chƣơng 4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 45
4.1. Thực trạng nguồn thức ăn gia súc tại xã Biển Động 45
4.2. Kết quả nghiên cứu một số mô hình chăn nuôi gia đình của xã Biển Động
45

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

iii
4.2.1. Mô hình chăn nuôi trâu của gia đình ông Bế Văn Hiệp (xóm Thảo) 46
4.2.2. Mô hình chăn nuôi trâu của gia đình ông Lãnh Văn Sơn (xóm Quéo) 61
4.2.3 Mô hình chăn nuôi trâu của gia đình ông Hoàng Văn Long (xóm Thảo)
74
4.2.4. So sánh 3 mô hình 85
4.3. Đề xuất 91

Bảng 4.4 Sinh khối của thảm cỏ đồi tại xóm Thảo (g/m
2
) 60
Bảng 4.5. Kết quả phân tích mẫu đất rừng 62
Bảng 4.6 Thành phần loài ở tiểu vùng sinh thái rừng 63
Bảng 4.7 Thành phần dạng sống của thảm cỏ dưới tán rừng 70
Bảng 4.8 Sinh khối của thảm cỏ ở rừng phục hồi tự nhiên và rừng trồng keo
xóm Khuyên (g/m
2
) 73
Bảng 4.9 Kết quả phân tích mẫu đất bãi cỏ ven sông 75
Bảng 4.10 Thành phần loài ở bãi cỏ ven sông 76
Bảng 4.11 Thành phần dạng sống ở bãi cỏ ven sông 82
Bảng 4.12 Sinh khối cỏ ở bãi cỏ ven sông (g/m
2
) 84
Bảng 4.13 Giá trị chăn thả tại các điểm nghiên cứu 87

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

v
DANH MỤC CÁC CHỮ VÀ KÝ HIỆU VIẾT TẮT

STT
Chữ, ký hiệu viết tắt
Chữ viết đầy đủ
1
DS
Dạng sống
2

11
UBND
Ủy ban nhân dân
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

1
MỞ ĐẦU
1. Đặt vấn đề
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế đất nước , ngành chăn nuôi gia
súc đã có n hiề u tiế n bộ vượ t bậ c cả về số lượ ng lẫ n chấ t lượ ng . Hiện nay cả
nước có khoảng 5,5 triệu con bò và 2,9 triệu con trâu (Bộ Nông nghiệp và
Phát triển Nông thôn, 2006). Chăn nuôi trâu bò đóng vai trò quan trọng
trong đời sống của hàng triệu gia đình nông dân vì nó là nguồn cung cấp thịt,
sữa, sức kéo, phân bón và còn được coi là một loại "ngân hàng di động" cho
nông dân nghèo.
Nhiều nghiên cứu gần đây cho thấy năng suất chăn nuôi trâu, bò còn
thấp vì một số nguyên nhân: thức ăn chưa đảm bảo cả số lượng và chất
lượng; tiềm năng của đàn giống chưa được phát huy tốt; công tác phòng trừ
dịch bệnh chưa được quan tâm thỏa đáng; ngoài ra, đầu tư kỹ thuật và tài
chính cho chăn nuôi thấp, công tác chuyển giao tiến bộ kỹ thuật còn chậm.
Những năm qua, tình trạng trâu bò chết vì rét đậm rét hại do thiếu thức ăn
diễn ra khá phổ biến.
Trong khi đó, nguồn phụ phẩm nông nghiệp như: rơm, rạ, thân lá ngô,
lạc, đậu tương (loại thức ăn chủ yếu của đại gia súc) thì rất nhiều song do
không có biện pháp bảo quản, chế biến nên đã để lãng phí sau thu hoạch.
Mặt khác chăn nuôi trâu bò ở nước ta chủ yếu dựa vào nông hộ với quy
mô nhỏ (dưới 5 con/hộ), tận dụng nguồn thức ăn tự nhiên và phụ phẩm là chủ

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

3
Chƣơng 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Tình hình chăn nuôi trâu bò trên Thế Giới và ở Việt Nam
1.1.1. Tình hình chăn nuôi trâu bò trên Thế Giới
1.1.1.1. Số lượng và phân bố trâu bò
Trâu bò được thuần hóa cách đây khoảng 8-10 ngàn năm và từ đó tới
nay ngành chăn nuôi trâu bò không ngừng phát triển và được phân bố khắp
thế giới. Chăn nuôi trâu bò là cách đơn giản để người dân địa phương khai
thác đất đai nhằm sản xuất thịt, sữa, sức kéo, phân bón và một số sản phẩm
khác. Bảng 1.1 và 1.2 cho thấy diễn biến số lượng trâu và bò trên thế giới mấy
thập kỷ qua. Trâu chủ yếu tập trung ở các nước nhiệt đới châu Á với số lượng
không ngừng tăng. Mười nước có số lượng trâu lớn nhất Thế giới gồm: Ấn
Độ (93.722.000 con), Pakistan (22.700.000 con), Trung Quốc (22.598.620
con), Nêpal (3.500.000 con) Aicâp (3.200.000 con), Philippin (3.018.000
con), Việt Nam (2.897.000 con), Indonesia (2.859.000 con), Myanmar
(2.441.240 con), Thái Lan (2.100.000 con) [17].
Bảng 1.1: Số lƣợng và phân bố đàn trâu trên thế giới (1000 con)
Năm
1965
1975

6
6
Nam Mỹ
82
267
882
1.651
1.150
1.095
Châu Đại Dương
0,5
0,4
0,2
0,2
0,1
0,1
Toàn Thế giới
94.458
113.200
136.339
150.633
164.968
173.921
Nguồn: FAO Statistics (2006)

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

4
Đàn bò có xu hướng ổn định về số lượng đầu con và phân bố khá đều ở
khắp Thế giới (bảng 1.2). Những nước có số lượng bò sữa nhiều nhất (năm

105,9
131,2
Bắc và Trung Mỹ
157,9
190,0
173,9
165,7
160,19
163,9
Nam Mỹ
158,0
211,9
250,6
294,5
297,8
342,0
Châu Đại Dương
026,0
42,7
31,3
35,8
37,3
27,7
Toàn Thế giới
1.008,4
1.187,1
1.259,2
1.311,5
1.319,6
1.372,3

5,8
10,6
12,8
14,3
Châu Âu
7,0
10,2
11,1
9,5
8,8
8,7
Bắc và Trung Mỹ
10,7
13,5
13,5
14,5
15,5
15,1
Nam Mỹ
4,8
6,2
8,2
10,6
11,8
12,8
Châu Đại Dương
1,3
2,1
1,8
2,4

58,1
89,1
128,5
159,2
172,4
Châu Âu
136,5
156,7
181,7
159,9
161,9
160,7
Bắc và Trung Mỹ
69,2
69,4
83,2
90,0
97,4
99,3
Nam Mỹ
16,8
22,6
27,4
40,4
44,9
46,5
Châu Đại Dương
13,0
12,9
14,2

8.548
Argentina
3.918
Mỹ
8.227
Trung Quốc
3.688
Thụy Điển
7.858
Nga
2.568
Hà Lan
7.860
Pê ru
1.803
Đức
6.110
Mexico
1.395
Australia
4.925
Ấn Độ
1.014
Nguồn: FAO Statistics (2004)
1.1.1.4. Chăn nuôi trâu bò cày kéo
Việc sử dụng gia súc lao tác có đóng góp đáng kể vào sự phát triển kinh
tế bền vững và đặc biệt là góp phần cải thiện đời sống và an ninh của những
tiểu nông ở nhiều khu vực khác nhau trên thế giới nhất là các nước đang phát
triển. Năm 1990 có 52% số bò và 34% số trâu ở các nước đang phát triển
được dùng vào mục đích lao tác. Tuy nhiên cho tới nay không thể thống kê

12,3
3. Bắc Trung Bộ
23,9
20,2
4. Nam Trung Bộ
4,2
18,8
5. Tây Nguyên
1,8
11,1
6. Miền Đông Nam Bộ
3,9
12,2
7. Đồng bằng Sông Cửu Long
1,6
8,5
Tổng số
100
100
Nguồn: Niên giám thống kê (2005)

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

8
Từ năm 1990 đến nay, đàn bò của nước ta phát triển với tốc độ tăng
đàn hàng năm trên 4%. Miền Bắc có Đồng bằng Sông Hồng và miền Nam có
Đông Nam Bộ là hai vùng có tốc độ phát triển đàn bò nhanh nhất so với các
vùng sinh thái khác với tỷ lệ tương ứng là 7,61% và 9,85%. Thịt trâu bò trên
thị trường chủ yếu là thịt của trâu bò nội (kiêm dụng lao tác- thịt). Tính đến
năm 2004, sản lượng thịt hơi trâu bò hàng năm của nước ta chỉ đạt khoảng

16,5
22,0
35,0
104,1
113,0
99,0
SL sữa (1000 tấn)
9,3
13,0
16,2
27,9
52,2
197,7
215,9
134,4
Nguồn: Cục Nông nghiệp (2005), Cục Chăn nuôi (2006)

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

9
1.1.2.3. Tình hình chăn nuôi trâu bò cày kéo
Từ ngàn xưa nghề nuôi trâu bò ở nước ta gắn liền với trồng trọt trong
các hệ thống canh tác hỗn hợp. Trong nông nghiệp, một mặt trâu bò cung cấp
sức kéo phục vụ cho việc làm đất và phân bón để làm tăng độ màu mỡ của
đất. Mặt khác, chúng lại dựa vào các phụ phẩm, đặc biệt là rơm lúa, làm
nguồn thức ăn. Trên cơ sở kết hợp chăn nuôi - trồng trọt này mà nền nông
nghiệp Việt Nam đã tỏ ra rất bền vững trong nhiều đời nay.
Gần đây do sự thu hẹp đất canh tác, do có cơ cấu hóa một phần các
hoạt động nông nghiệp nên nhu cầu về trâu bò cày kéo có xu hướng giảm,
thể hiện về sự giảm về đầu con trâu bò cày kéo trong những năm vừa qua

nhiên liệu, trâu bò cày kéo còn có lợi thế hơn máy móc ở chỗ chúng còn có
khả năng tự sinh sản, cung cấp phân bón, không bị han rỉ, và khi cần “thanh
lý” thì vẫn có thể bán như một nguồn thực phẩm có giá trị.
1.2. Các loại thức ăn cho gia súc
Thức ăn cho gia súc rất đa dạng về chủng loại và biến động về giá trị
dinh dưỡng, thông thường chúng được phân thành 3 nhóm lớn: Thức ăn
thô, thức ăn tinh và thức ăn bổ sung. Gần đây do áp lực về đất đai, rất
nhiều phế phụ phẩm công nông nghiệp đã được sử dụng làm thức ăn cho
gia súc. Vì lí do này có thêm một nhóm thức ăn nữa là các phế phụ phẩm
công nông nghiệp.
1.2.1. Thức ăn thô
Là những thức ăn chứa ít chất dinh dưỡng trong một đơn vị thể tích.
Chúng thường là những thức ăn có khối lượng và thể tích lớn, cồng kềnh chứa
nhiều chất xơ, ít prôtêin, tỷ lệ tiêu hóa dao động từ thấp đến vừa phải. Thức
ăn thô gồm cỏ tự nhiên (cỏ tự nhiên cắt dọc bờ sông, bờ đê, bãi đất hoang ),
cỏ trồng (Pennisetum purpureum, Tripsacum laxum, Brachiaria
ruziziensis, ), các loại cây thức ăn khác như cây ngô Thức ăn thô cũng bao
gồm các dạng cỏ khô, cây cỏ ủ chua.
1.2.2. Thức ăn tinh
Người ta gọi thức ăn tinh vì chúng chứa nhiều chất dinh dưỡng trong
một đơn vị thể tích. Nhóm thức ăn này bao gồm:
- Các loại hạt ngũ cốc (ngô) có hàm lượng cacbonhydrate cao, hạt các
cây họ đậu (đậu tương) có hàm lượng prôtêin cao.
- Các phụ phẩm sau khi ép dầu các loại hạt (khô dầu đậu tương, khô
dầu hạt bông, ) có hàm lượng prôtêin cao.

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

11
- Các phế phụ phẩm của công nghiệp chế biến ngũ cốc làm thức ăn cho con

Hoàng Chung (2008) [10]).
Họ hòa thảo quan trọng không những vì nó phân bố rộng rãi chiếm tỉ lệ
cao trong số thực vật trên đồng cỏ mà nó còn có giá trị dinh dưỡng cao, nhất
là lượng hydratcacbon và đặc biệt là các chất dinh dưỡng được bảo tồn, ít hao
hụt khi thu hoạch. Các cây họ Đậu tuy chiếm tỉ lệ ít hơn trong số cây cỏ làm
thức ăn cho gia súc nhưng có vai trò quan trọng vì giá trị dinh dưỡng cao,
nhất là lượng protein và khoáng thích hợp cho việc chế biến thức ăn tinh bổ
sung. Ở bãi cỏ tự nhiên với điều kiện thổ nhưỡng tốt thì 1kg cỏ tươi cung cấp
16g protein tiêu hóa và 32g lipit, 8kg loại cỏ này tương đương 1 đơn vị thức
ăn (Theo Trịnh Văn Thịnh và các cộng sự (1974) [35]).
1.3.1 Tình hình nghiên cứu cây thức ăn gia súc trên Thế giới
Hiện nay trên thế giới, ngoài việc tuyển chọn, lai tạo, di nhập các giống
cỏ tốt từ vùng này sang vùng khác, người ta còn tập trung giải quyết vấn đề
năng suất, chất lượng cỏ.
Ở Indonexia, trong tình hình thức ăn của trâu, bò chiếm 56% là cỏ tự
nhiên, 21% là rơm, 16% là cây lá khác và 7% là phụ phẩm thì trong 4 giải
pháp để giải quyết thức ăn là thâm canh, trồng giống cỏ tốt (cỏ voi và cây
đậu) (Theo Dr. Sochadji (1994) [44]).
Tại Thái Lan sản lượng vật chất khô của các giống Digitaria
decumbens, Paspalum atratum, Brachiaria mutica và Paspalum plicatulum
khoảng từ 15 - 20; 18 - 25; 9 - 15 và 6 - 10 tấn/ha (bảng 1.9).

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

13
Bảng 1.9: Sản lƣợng VCK và chất lƣợng những loại cỏ
trên vùng đất thấp vào 45 ngày cắt
Loài
Năng suất (tấn/ha)
Protein (%)


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

14
1.3.2. Tình hình nghiên cứu cây thức ăn cho gia súc ở Việt Nam
Trong thời gian 10 năm trở lại đây thông qua các hoạt động hợp tác
quốc tế và từ nhiều nguồn khác nhau chúng ta đã nhập trên 100 giống cây
thức ăn hoà thảo và cây họ đậu có nguồn gốc nhiệt đới (CSIRO, HIAT,
Philipin, Indonesia, Thailand) nhằm tăng khả năng sản xuất thức ăn xanh cho
chăn nuôi.
Ở Việt Nam kết quả những công trình nghiên cứu về cây thức ăn chăn
nuôi cũng chưa nhiều.Trong những năm gần đây, một số nhà khoa học mới
tập chung vào nghiên cứu một số giống cây thức ăn hòa thảo, họ đậu nhập nội
ở một số vùng như Long Mỹ, Sơn Thành, Ba Vì (Lê Hòa Bình và cộng sự
(1992) [5]).
Các tác giả Phan Thị Phần và cộng tác viên (1999) [30], Vũ Thị Kim
Thoa và Khống Văn Đĩnh (2001) [36]. Khi nghiên cứu cỏ Ghine TD 58 ở khu
vực miền Bắc và Miền Nam cho kết quả:
- Ở khu vực phía Bắc trên 2 loại đất của vùng đồng bằng và vùng đất
đồi trong điều kiện trung tính, đất tốt, hoặc đất chua nghèo lân và kali cỏ đều
có tốc độ sinh trưởng khá tốt (1,96 - 2,01 cm/ ngày). Năng suất đạt 90 - 100
tấn/ha/năm, cỏ ghinê có khả năng cho hạt năng suất hạt đạt 450kg/ha, tỷ lệ, sử
dụng của gia súc đối với cỏ cao: Trâu 94%, bò sinh trưởng 100%, bò sữa
77%, ngựa 85%.
- Ở khu vực miền Nam: Địa điểm tại vùng đất xám Bình Dương với
liều lượng phân bón 20 tấn phân chuồng, 80kg K
2
O và 500kg vôi /ha/ năm,
lượng phân đạm bón từ 60 - 90 kg/ha. Năng suất chất xanh cỏ TD 58 đạt
64,59 - 83,33 tấn/ha/lứa cắt và thích hợp là 40 ngày/lứa/ tỷ lệ tiêu hoá của dê

Nam Á còn hạn chế. Các công trình tập trung nghiên cứu thành phần loài
họ hoà thảo Whyte R.O (1975); Nguyễn Minh Thuật (1958); Bor N.L (1960);
Gibliland N.B (1971) và một số tác giả khác (Theo Hoàng Chung (1980) [6]) .

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn

16
Việt Nam, những nghiên cứu về thành phần loài trong đồng cỏ, savan
hoặc một số loại hình thuộc thảo khác mới chỉ được tiến hành từ những năm
1950 trở về đây. Các tác giả đã tiến hành nghiên cứu thành phần loài trong
đồng cỏ như:
Nguyễn Đình Ngỗi, Võ Văn Chi (1964) [27] nghiên cứu kiểu savan ở
huyện Hữu Lũng - Lạng Sơn.
Dương Hữu Thời, Hoàng Chung, Doãn Ngọc Chất, Phạm Quang Anh
(1969) [38] nghiên cứu thành phần loài của đồng cỏ ở Ngân Sơn - Bắc Kạn.
Hoàng Chung (1980) [6] nghiên cứu thành phần loài và dạng sống của
đồng cỏ vùng núi Bắc Việt Nam đã đưa ra bảng phân loại các kiểu đồng cỏ,
savan, thảo nguyên. Tác giả đã công bố thành phần loài thu được là 233 loài
thuộc 54 chi và 44 họ. Trong cuốn “Đồng cỏ vùng núi phía Bắc Việt Nam”
năm 2004 là 79 họ, 402 loài. (Theo Hoàng Chung (2004) [8]).
Trong công trình tổng kết các kết quả nghiên cứu đồng cỏ Bắc Việt
Nam của Dương Hữu Thời (1981) [37] đã công bố 213 loài của 5 vùng thuộc
Bắc Việt Nam, ông đã phân tích các điều kiện tự nhiên của đồng cỏ Bắc Việt
Nam, sự biến đổi của nó ở một số vùng trong qua trình nghiên cứu, trong mỗi
vùng ông mô tả khá nhiều các quần xã đặc trưng.
Nguyễn Thế Hưng, Hoàng Chung (1995) [19] khi nghiên cứu về một số
đặc điểm sinh thái, sinh học của savan Quảng Ninh và các mô hình sử dụng đã
phát hiện được 60 họ với 131 loài thực vật khác nhau.
Lê Ngọc Công, Hoàng Chung (1997) [13] nghiên cứu thành phần loài
và dạng sống của cây bụi ở vùng đồi trung du Bắc Thái (cũ) đã phát


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status