Nghiên cứu liên kết trong sản xuất và tiêu thụ nông sản tại xã Việt Hùng, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình - Pdf 19

LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là
trung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào.
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ đều đã được cảm ơn và các thông tin
trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc.
Hà nội, ngày 02 tháng 06 năm 2014
Sinh viên
Lê Thanh Tùng
1
1
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành khóa luận tốt nghiệp đại
học, ngoài sự cố gắng nỗ lực của bản thân, tôi đã nhận được sự quan tâm, giúp đỡ
tận tình của nhiều tập thể, cá nhân trong và ngoài trường.
Trước hết, tôi xin cảm ơn đến Ban giám hiệu trường Đại học Nông nghiệp
Hà Nội, các thầy cô giáo trong Khoa KT & PTNT đã trang bị cho tôi những kiến
thức cơ bản, những định hướng đúng đắn trong học tập cũng như tu dưỡng đạo đức
để tôi có được một nền tảng vững chắc trong học tập và nghiên cứu.
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy giáo hướng dẫn trực
tiếp PGS.TS Nguyễn Tuấn Sơn, người đã dành nhiều thời gian, tâm huyết, tận tình
hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu đề tài và hoàn thành
khóa luận.
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Đảng ủy, UBND, các ban ngành,
đoàn thể cùng bà con nhân dân xã Việt Hùng đã cung cấp những số liệu cần thiết
và tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình tìm hiểu, nghiên cứu tại địa
bàn.
Tôi xin đặc biệt cảm ơn ông Trần Quý Bình, Chủ tịch UBND xã Việt Hùng
đã có những gợi ý vô cùng quý báu và tạo những điều kiện tốt nhất để tôi hoàn
thành nghiên cứu của mình.
Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn tới gia đình, người thân, bạn bè đã
khích lệ, động viên, giúp đỡ tôi hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này.

phản ánh đúng các yếu tố ảnh hưởng đến liên kết trong sản xuất và tiêu thụ nông
sản tại địa phương. Từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường liên kết trong
sản xuất , tiêu thụ góp phần thúc đẩy sản xuất nông nghiệp của xã Việt Hùng phát
triển trong thời gian tới.
3
3
Để làm nền tảng cho phân tích của mình, tác giả đã tìm hiểu và góp phần hệ
thống hóa cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn về liên kết trong sản xuất, tiêu thụ nông
sản (cụ thể là mặt hàng rau quả) của một số nước trên thế giới như Thái Lan, Trung
Quốc và thực tế tại Việt Nam. Những lý luận về nguyên tăc, nội dung và lợi ích liên
kết trong sản xuất và tiêu thụ nông sản đem lại được tác giả lồng ghép nhằm thiết
lập một sự logic nhất định cho nhưng phân tích của đề tài.
Trong quá trình tiến hành, đề tài sử dụng phương pháp điều tra trực tiếp bằng
bảng hỏi những tác nhân chính liên quan trong sản xuất và tiêu thụ nông sản tại xã
Việt Hùng như người nông dân, chính quyền địa phương, thương lái, hợp tác xã để
có cái nhìn thực tế, cũng như cung cấp cho đề tài nhiều thông tin có giá trị. Thông
qua quá trình tổng hợp và phân tích, những điểm đạt được, những bất cập còn tồn
tại cần phải giải quyết được chỉ ra.
Qua nghiên cứu thực tế, các liên kết ngang và liên kết dọc trong quá trình sản
xuất và tiêu thụ nông sản, ảnh hưởng của yếu tố thời tiết, vấn đề giá cả tiêu thụ
trong 3 năm 2011-2013 được chỉ ra và phân tích. Tuy mới bắt đầu tiến hành thực
hiện từ năm 2012 nhưng liên kết quan trọng nhất giữa người sản xuất và các doanh
nghiệp thu mua, chế biến và xuất khẩu nông sản đã bước đầu đem lại những dấu
hiệu tích cực: giá bán sản phẩm ổn định, thu nhập bình quân đầu người/ tháng của
người trồng bí xanh và dưa chuột với số giờ lao động trung bình là 4,5 giờ/ ngày đạt
trên mức 2,8 triệu đồng.
Nghiên cứu cũng cung cấp những giải pháp cụ thể đối với chính quyền địa
phương, các cán bộ chuyển giao khoa học kỹ thuật và công nghệ, doanh nghiệp và
các hộ nông dân sản xuất nông sản bí xanh và dưa chuột tại xã Việt Hùng để giải
quyết bất cập và nâng cao hiệu quả các mối liên kết. Trong đó mối liên kết giữa

7 DN Doanh nghiệp
8 ĐVT Đơn vị tính
9 FAO Food and Agriculture Organization
10 GAP Good Agriculture Practice
11 HTX Hợp tác xã
12 IPM Integrated pest management
13 KHKT Khoa học kỹ thuật
14 LĐ Lao động
15 NN Nông nghiệp
16 PTNT Phát triển nông thôn
17 SXNN Sản xuất nông nghiệp
18 STT Số thứ tự
19 TBKT Tiến bộ kỹ thuật
20 GDP Tổng sản phẩm quốc nội
21 TNHH Trách nhiệm hữu hạn
22 Tr.đ Triệu đồng
23 TB Trung bình
24 THCS Trung học cơ sở
25 EC Ủy ban châu Âu
26 WTO World Trade Organization
10
10
PHẦN I. MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Nông nghiệp là một phần không thể thiếu trong cơ cấu kinh tế của các nước
phát triển cũng như các nước đang phát triển. Ở nước ta nông nghiệp đóng vai trò
vô cùng quan trọng, thể hiện như nông nghiệp chiếm 30% giá trị xuất khẩu và 25%
trong tổng GDP quốc gia, 76% dân số sống ở nông thôn (Tình hình kinh tế xã hội
Việt Nam mười năm 2001 – 2010- Tổng cục thống kê).
Chính vì thế trong thời gian qua, Đảng và Nhà nước coi nông nghiệp là mặt

sự hiệu quả, thu nhập của người nông dân tuy có chuyển biến nhưng còn thấp, đời
sống gặp nhiều khó khăn.
Từ những lý do trên chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:“Nghiên cứu liên
kết trong sản xuất và tiêu thụ nông sản tại xã Việt Hùng, huyện Vũ Thư, tỉnh
Thái Bình”
1.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
1.2.1 Mục tiêu chung
Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm
bí xanh và dưa chuột tại xã Việt Hùng, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình thời gian qua
đề xuất các giải pháp nhằm tăng cường liên kết trong sản xuất và tiêu thụ nông sản
nhằm thúc đẩy sản xuất nông nghiệp của địa phương phát triển trong thời gian tới.
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
1) Góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về liên kết trong sản
xuất, tiêu thụ nông sản;
2) Đánh giá thực trạng và phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến liên kết trong
sản xuất, tiêu thụ nông sản tại xã Việt Hùng thời gian qua;
3) Đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường liên kết trong sản xuất, tiêu thụ
nông sản góp phần thúc đẩy sản xuất nông nghiệp của địa phương phát triển trong
thời gian tới.
12
12
1.3. Câu hỏi nghiên cứu
Nghiên cứu nhằm trả lời các câu hỏi sau đây liên quan đến liên kết trong sản
xuất và tiêu thụ nông sản ở xã Việt Hùng, Vũ Thư, Thái Bình:
1) Thực trạng sản xuất, tiêu thụ nông sản và thực trạng liên kết trong sản
xuất/tiêu thụ nông sản trên địa bàn xã Việt Hùng thời gian qua diễn ra như thế nào?
2) Những yếu tố ảnh hưởng đến sản xuất, tiêu thụ nông sản cũng như ảnh
hưởng đến liên kết trong sản xuất, tiêu thụ nông sản ở địa phương thời gian qua?
3) Những thuận lợi, khó khăn trong quá trình sản xuất và tiêu thụ nông sản;
trong liên kết sản xuất, tiêu thụ nông sản ở địa phương?

Trong tài khoản quốc gia, Liên hiệp quốc đưa ra khái niệm sản xuất khi xây
dựng phương pháp thống kê tài khoản quốc gia như sau: “Sản xuất là mọi hoạt động
của con người với tư cách là cá nhân hay tổ chức bằng năng lực quản lý của mình,
cùng với các yếu tố tài nguyên, đất đai và vốn (tư bản), sản xuất ra những sản phẩm
vật chất và dịch vụ hữu ích và có hiệu quả nhằm thỏa mãn nhu cầu sử dụng cho sản
xuất, sử dụng cho nhu cầu tiêu dùng cuối cùng của đời sống sinh hoạt hộ gia đình
dân cư, nhà nước, tích lũy tài sản để mở rộng sản xuất và nâng cao đời sống xã hội,
xuất khẩu ra nước ngoài”.
Về thực chất, sản xuất là quá trình chuyển hóa các đầu vào (tài nguyên hoặc
các yếu tố sản xuất) để tạo ra sản phẩm hàng hóa hoặc dịch vụ (đầu ra) (David
Colman & Tre Vor Young, 1994)
Các yếu tố ảnh hưởng tới sản xuất
Trong sản xuất thì có rất nhiều các yếu tố tham gia vào quá trình sản xuất để
tạo ra những sản phẩm phục vụ cho lợi ích của con người. Những yếu tố tham gia
vào quá trình sản xuất còn được gọi là các yếu tố đầu vào và sản phẩm tạo ra được
gọi là các yếu tố đầu ra.
- Các yếu tố đầu vào bao gồm: Lao động, đất đai, vốn, các loại phân bón,
thuốc BVTV … Các yếu tố này tác động qua lại lẫn nhau. Lao động là hoạt động có
mục đích, có ý thức của con người, nhằm tạo ra của cải vật chất hay tinh thần cho
chính bản thân người lao động và xã hội. Đất đai là tư liệu sản xuất không thể thay
14
14
thế được. Vốn sản xuất là giá trị của toàn bộ các đầu vào bao gồm các tài sản, vật
phẩm và tiền dùng trong sản xuất kinh doanh. Vốn là yếu tố cơ bản trong quá trình
sản xuất và lưu thông hàng hóa, giúp nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh đồng
thời tạo điều kiện khai thác tốt hơn các nguồn lực khác. Quy trình công nghệ là
tổng thể các phương pháp sản xuất, chế biến, thay đổi trạng thái, thuộc tính, hình
thức nguyên liệu, vật tư hay bán thành phẩm có liên hệ với nhau trong quá trình sản
xuất. Ngoài ra, còn có các yếu tố khác: nguồn tài nguyên thiên nhiên, quy mô sản
xuất, hình thức tổ chức kinh tế tối ưu, sự tác động qua lại giữa các ngành, các thành

Trong thị trường, người bán sẵn sàng bán sản phẩm hàng hóa của mình. Họ có khả
năng cung ứng hàng hóa và họ có cầu về tiền tệ. Người mua có khả năng mua và có cầu
về hàng hóa.
Vai trò của tiêu thụ sản phẩm
Tiêu thụ sản phẩm có vai trò quan trọng trong việc cân đối giữa cung và cầu
hàng hoá trên thị trường. Tiêu thụ sản phẩm giúp cho cung và cầu sản phẩm hàng
hoá dịch vụ cân bằng trên thị trường, tránh hiện tượng cung cầu chênh lệch nhau
quá lớn gây bất ổn định thị trường cũng như xã hội.
Tiêu thụ sản phẩm là khâu hết sức quan trọng đối với bản thân nhà sản xuất
và đối với nền kinh tế quốc dân, chỉ qua tiêu thụ tính chất hữu ích của sản phẩm hay
hàng hoá mới được xác định một cách hoàn toàn. Tiêu thụ sản phẩm có vai trò
quan trọng phản ánh kết quả cuối cùng của hoạt động sản xuất kinh doanh.
Thông qua việc tiêu thụ sản phẩm, dựa trên kết quả đó hạch toán kinh doanh,
lỗ, lãi để đánh giá kết quả sản xuất, từ đó giúp các đơn vị xác định được
phương hướng và bước đi của kế hoạch sản xuất cho giai đoạn tiếp theo.
Tiêu thụ sản phẩm giúp cho doanh nghiệp trong việc cung cấp các sản phẩm
hàng hoá dịch vụ cho xã hội, gắn sản xuất với tiêu dùng, đồng thời hướng dẫn, tư
vấn tiêu dùng. Doanh nghiệp sản xuất ra hàng hoá, dịch vụ, nhưng để đưa nó đến
được với người tiêu dùng, với xã hội cần phải có hoạt động tiêu thụ sản phẩm. Có
hoạt động tiêu thụ sản phẩm thì người tiêu dùng, cũng như xã hội mới biết được vai
trò, công dụng của hàng hoá dịch vụ đó.
Tiêu thụ sản phẩm là cầu nối gắn người sản xuất với người tiêu dùng. Thông
qua tiêu thụ, người sản xuất hiểu rõ nhu cầu của khách hàng, từ đó đưa ra đối sách
16
16
H H’
Cầu tiền Khả năng thanh toán
Sẵn sàng bán Sẵn sàng mua
Tối đa hoá lợi ích mỗi bên
Người bán

phù hợp với yêu cầu thị trường sẽ dễ dàng trong tiêu thụ. Số lượng, chất lượng nông
sản và giá thành sản xuất sẽ ảnh hưởng đến giá trị sản phẩm và giá nông sản bán ra.
- Nhóm nhân tố về chính sách vĩ mô: Một số chính sách tạo điều kiện thuận
lợi trong việc khai thông thị trường, ảnh hưởng tốt đến tiêu thụ nhưng ngược lại một
số chính sách lại gây cản trở cho quá trình tiêu thụ nông sản như chính sách đầu tư,
tiêu dùng và ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào nông nghiệp (Từ Thị Thanh
Hiệp, 2003).
2.1.1.3 Kênh tiêu thụ
Khái niệm
Kênh tiêu thụ sản phẩm hay kênh phân phối sản phẩm là sự kết hợp giữa người
sản xuất, người tiêu dùng và giới trung gian để chuyển giao quyền sở hữu đối với một
hàng hoá cụ thể hay một dịch vụ nào đó từ người sản xuất đến người tiêu dùng.
Kênh tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp: Việt Nam là nước có nhiều loại hàng nông
sản đáp ứng thị trường trong và ngoài nước. Tuy nhiên, chất lượng nông sản của nước ta
hiện nay còn thấp, giá thành sản xuất cao, công nghệ bảo quản chế biến chưa đáp ứng
được yêu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu…dẫn đến hiện tượng ứ đọng, không
tiêu thụ được, giá cả bấp bênh và bị ép giá gây thiệt hại không nhỏ cho người sản xuất
kinh doanh và các doanh nghiệp. Để tạo dựng vị thế trên thị trường trong nước và thế
giới cần có nhiều giải pháp, các giải pháp này phải được giải quyết đồng bộ có lựa chọn,
có mục tiêu, có bước đi vững chắc, trong đó lựa chọn kênh tiêu thụ nông sản phẩm trong
thị trường tiêu thụ đóng vai trò rất quan trọng.
18
18
Chức năng của kênh tiêu thụ
Nhờ có mạng lưới kênh tiêu thụ mà người sản xuất khắc phục được những
khó khăn về thời gian, địa điểm, khoảng cách trong quá trình tiêu thụ sản phẩm. Các
thành viên của kênh phải thực hiện các chức năng chủ yếu sau:
- Nghiên cứu thu thập thông tin cần thiết để lập kế hoạch và tạo ra những điều
kiện thuận lợi cho việc trao đổi hàng hoá, dịch vụ.
- Thiết lập mối quan hệ với khách hàng mới

vào thương trường, doanh nghiệp đã phải xác định rõ sản xuất cái gì? Sản xuất như
thế nào? Sản xuất cho ai?
Xác định được sản xuất rồi, phải lập chiến lược tiêu thụ sản phẩm như thế
nào để sản xuất có thể tồn tại. Từ đó có thể nâng cao năng suất lao động, giảm chi
phí sản xuất. Không chỉ tăng về số lượng, mà chất lượng, chủng loại, mẫu mã cũng
được cải thiện, tăng tính cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường.
20
20
Thông qua hoạt động tiêu thụ sản phẩm, nhà sản xuất sẽ nhận được thông tin
phản hồi từ phía khách hàng về chất lượng, giá cả, mẫu mã… để từ đó có những
điều chỉnh sản xuất kinh doanh cho phù hợp với nhu cầu, thị hiếu của người tiêu
dùng, đó là cơ sở để doanh nghiệp tồn tại và phát triển.
Đối với doanh nghiệp sản xuất kinh doanh, cần gắn liền khâu sản xuất với
khâu tiêu thụ một cách ăn khớp, nhịp nhàng. Nếu tách rời, doanh nghiệp tất yếu bị
đào thải bởi sự cạnh tranh khốc liệt của thương trường.
2.1.3 Liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm
2.1.3.1 Giới thiệu về liên kết kinh tế
Khái niệm
Liên kết kinh tế là một trong những hình thức hợp tác ở trình độ cao của con
người trong quá trình sản xuất, kinh doanh. Về mặt khái niệm, liên kết kinh tế được
hiểu “là sự thiết lập các mối quan hệ giữa các chủ thể sản xuất, kinh doanh, có thể
giữa các doanh nghiệp thuộc cùng lĩnh vực hoạt động, giữa các đối tác cạnh tranh
hoặc giữa các doanh nghiệp có các hoạt động mang tính chất bổ sung, nhằm tiết
kiệm thời gian, tiết kiệm chi phí, đạt hiệu quả cao trong sản xuất – kinh doanh, tạo
ra sức cạnh tranh, cùng nhau chia sẻ các khả năng, mở ra thị trường mới” (Tạp chí
khoa học và công nghệ, ĐH Đà Nẵng – số 6(29), 2009)
Liên kết kinh tế đã xuất hiện từ lâu, xã hội càng phát triển, trình độ hợp tác
của con người trong xã hội cũng ngày càng được nâng cao và chuyển hóa thành các
hình thức liên kết phong phú và đa dạng. Chính các mối quan hệ liên kết đã đưa đến
cho con người những cơ hội để nhận thức được những lợi ích lớn hơn, an toàn hơn

ưu thế riêng biệt của các bên;
- Giảm thiểu các rủi ro nhờ cơ chế chia sẻ trách nhiệm giữa các bên tham gia.
Mặc dù những lợi ích của liên kết kinh tế là rất lớn, tuy nhiên nó cũng tồn tại
một vài bất lợi nếu không có cơ chế kiểm soát để khắc phục:
- Có thể tạo ra sự độc quyền, cản trở cạnh tranh làm phương hại đến lợi ích
của cá thành phần khác trong xã hội;
- Dễ dẫn tới tình trạng sụp đổ dây truyền khi một trong những chủ thể tham
gia liên kết bị khủng hoảng, phá sản.
22
22
Vì vậy, để đảm bảo cho sự thành công của liên kết kinh tế, ngoài việc phải
nâng cao trình độ tổ chức quản lý, năng lực kinh doanh, thiện chí hợp tác của các
doanh nghiệp trong nền kinh tế, còn cần phải có một hệ thống pháp luật chặt chẽ,
điều chỉnh khi cần thiết.
Các nguyên tắc cơ bản của liên kết kinh tế
Liên kết kinh tế đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh của các chủ thể
tham gia không ngừng tăng và đạt hiệu quả ngày càng cao. Đây cũng vừa là nguyên
tắc cũng vừa là mục tiêu của mọi hoạt động xuyên suốt của mọi liên kết kinh tế. Dù
được tiến hành dưới hình thức và mức độ nào thì các quan hệ kinh tế cũng phải đáp
ứng được yêu cầu phát triển bền vững của các bên tham gia.
Liên kết kinh tế phải được hình thành trên tinh thần tự nguyện tham gia của
các bên, khi đó các liên kết mới đem lại thành công và hiệu quả giúp giải quyết
những khó khăn hoặc tìm kiếm lợi ích cao hơn (Dương Đình Giám, 2007).
Các bên tham gia được dân chủ, bình đẳng trong các quyết định của liên kết.
Do các nguồn lực của liên kết được hình thành dựa trên sự đóng góp của các chủ
thể tham gia, mặt khác các liên kết có liên quan chặt chẽ đến lợi ích của của chủ thể
tham gia nên hoạt động quản lý, điều hành, giám sát và phân phối lợi ích phải đảm
bảo dân chủ bình đẳng.
Kết hợp hài hòa lợi ích kinh tế giữa các bên tham gia. Trong liên kết thì lợi ích
kinh tế là động lực thúc đẩy là chất keo dán lâu dài các bên tham gia. Việc chia sẻ

yêu cầu sản xuất và đời sống. Việc mua bán được thực hiện trên thị trường theo
quan hệ cung cầu. Thị trường có vai trò là người định giá, giá cả được định đoạt tại
mỗi thời điểm giao dịch.
Hợp đồng miệng (thỏa thuận miệng)
Hợp đồng miệng là các thỏa thuận không được thể hiện bằng văn bản giữa
các tác nhân cam kết cùng nhau thực hiện một số hoạt động, công việc nào đó. Hợp
đồng miệng cũng được hai bên thống nhất về số lượng, chất lượng, giá cả, thời hạn
và địa điểm giao nhận hàng. Cơ sở của hợp đồng miệng là niềm tin, độ tin nhiệm,
trách nhiệm cam kết thực hiện giữa các tác nhân tham gia hợp đồng.
Tuy nhiên, hợp đồng miệng thường chỉ là các thỏa thuận trên nguyên tắc về
số lượng, giá cả, điều kiện giao nhận hàng hóa. Hợp đồng miệng cũng có thể có
hoặc không có đầu tư ứng trước về tiền vốn, vật tư, cũng như các hỗ trợ và giám sát
24
24
kỹ thuật. So với hợp đồng bằng văn bản thì hợp đồng miệng lỏng lẻo và có tính chất
pháp lý thấp hơn.
Hợp đồng bằng văn bản (hợp đồng)
Liên kết theo hợp đồng là quan hệ mua bán chính thức được thiết lập giữa
các tác nhân trong việc mua nguyên liệu hoặc bán sản phẩm. Theo Eaton and
Shepherd (2001), “Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa nông dân và các cơ sở chế biến
hoặc tiêu thụ sản phẩm nông sản về việc tiêu thụ sản phẩm trong tương lai và
thường với giá đặt trước”.
Hợp đồng được ký kết giữa các doanh nghiệp, tổ chức ngân hàng, tín dụng,
trung tâm khoa học kỹ thuật… và hộ theo các hình thức:
- Ứng trước vốn, vật tư, hỗ trợ kỹ thuật, công nghệ và mua lại nông sản hàng
hóa.
- Bán vật tư, mua lại sản phẩm
- Trực tiếp tiêu thụ sản phẩm, thuê mướn, tư vấn kỹ thuật, mua vật tư, thiết
bị, nguyên liệu đầu vào, vay vốn…
- Liên kết sản xuất bằng việc góp vốn cổ phần, liên doanh, liên kết với các


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status