Nghiên cứu liên kết trong sản xuất nông nghiệp trên địa bàn xã Thái Tân, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình - Pdf 28

LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan khóa luận “Nghiên cứu liên kết trong sản xuất nông
nghiệp trên địa bàn xã Thái Tân, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình” là kết
quả nghiên cứu trong thời gian thực tập tốt nghiệp của tôi.
Tôi xin cam đoan rằng toàn bộ số liệu và kết quả nghiên cứu trong khóa
luận này là trung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ bất kỳ một học vị
nào.
Tôi xin cam đoan mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện khóa luận này đã được
cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong khóa luận đều được ghi rõ nguồn gốc./.
Hà Nội, ngày tháng năm 2015
Sinh viên
Vũ Thị Minh Tâm
i
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành bài khóa luận này, ngoài sự cố gắng nỗ lực của bản
thân, tôi còn nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của nhiều cá nhân, tập thể
trong và ngoài trường.
Trước hết tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong Khoa Kinh tế &
Phát triển nông thôn – Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã hết lòng giúp đỡ
và truyền đạt cho tôi những kiến thức quý báu trong suốt quá trình học tập tại
trường.
Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất tới ThS. Nguyễn Thị
Minh Thu, giảng viên bộ môn Kế hoạch & Đầu tư - khoa Kinh tế & Phát triển
nông thôn - Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ
tôi trong suốt quá trình thực tập và thực hiện đề tài.
Qua đây tôi xin gửi lời cảm ơn tới toàn thể cán bộ HTXDVNN Thái
Tân và những hộ dân trên địa bàn xã Thái Tân, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái
Bình đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài.
Cuối cùng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới gia đình, bạn bè đã
động viên giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài.
Xin chân thành cảm ơn!

và sản lượng nông sản cũng tăng đều qua từng năm. Về tình hình tiêu thụ, xã
iii
đang khuyến khích hộ sản xuất áp dụng kênh tiêu thụ: Người sản xuất –
Trung gian thu gom – Doanh nghiệp chế biến – Người tiêu dùng, vì nó có
nhiều ưu điểm, mang lại lợi ích cao cho hộ sản xuất.
Về tình hình liên kết, qua điều tra tôi thấy hình thức liên kết được sử
dụng ở địa phương là thỏa thuận miệng và bằng hợp đồng văn bản, trong đó
kí kết hợp đồng văn bản là chủ yếu. Còn về cơ chế liên kết có hai loại đó là
liên kết theo chiều ngang giữa các hộ sản xuất và liên kết theo chiều dọc giữa
hộ sản xuất và các mắt xích còn lại trong chuỗi liên kết. Tôi tiến hành điều tra
phỏng vấn với 45 hộ sản xuất nông nghiệp trong đó 30 hộ tham gia liên kết,
15 hộ không tham gia liên kết và những người có liên quan. Kết quả cho thấy
kết quả và hiệu quả sản xuất của nhóm hộ liên kết cao hơn nhóm hộ không
liên kết. Điều đó nói lên lợi ích và hiệu quả kinh tế của hộ khi tham gia liên
kết.
Tìm hiểu sự ảnh hưởng từ hộ sản xuất, từ chính quyền địa phương và từ
doanh nghiệp tới liên kết.
Liên kết trong sản xuất nông nghiệp ở xã Thái tân đã hình thành và
phát triển theo hướng tích cực, mang lại hiệu quả kinh tế nhất định. Song, để
phát triển rộng mô hình liên kết hơn nữa, các biện pháp cần thực hiện tốt là:
Tăng cường vai trò của các cấp chính quyền bằng cách thực hiện tốt quy
hoạch vùng sản xuất, tuyên truyền để nhiều hộ dân hiểu biết hơn về liên kết,
nâng cao năng lực của hộ sản xuất tham gia liên kết, đồng thời các doanh
nghiệp cũng cần xây dựng và thực hiện tốt kế hoạch thu mua.
iv
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
TÓM TẮT KHÓA LUẬN iii
MỤC LỤC v

2.2.5 Các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài 35
PHẦN III 37
ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 37
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 37
3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 37
v
3.1.1 Đặc điểm tự nhiên 37
3.1.2 Đặc điểm kinh tế xã hội 39
3.1.3 Đánh giá tổng hợp hiện trạng 49
3.2 Phương pháp nghiên cứu 49
3.2.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu và chọn mẫu điều tra 49
3.2.2 Phương pháp thu thập số liệu 50
3.2.3 Phương pháp xử lý thông tin 51
3.2.4 Phương pháp phân tích thông tin 51
3.2.5 Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu 52
PHẦN IV 55
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VỀ LIÊN KẾT TRONG SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP
TRÊN ĐỊA BÀN XÃ THÁI TÂN, HUYỆN THÁI THỤY, TỈNH THÁI BÌNH 55
4.1 Thực trạng sản xuất nông nghiệp của xã Thái Tân 55
4.1.1 Tình hình sản xuất nông nghiệp của xã Thái Tân 55
4.1.2 Tình hình tiêu thụ nông sản của xã Thái Tân 60
4.2 Phân tích liên kết trong sản xuất nông nghiệp ở xã Thái Tân 63
4.2.1 Các hình thức liên kết trong sản xuất nông nghiệp 63
4.2.2 Phân tích các liên kết trong sản xuất nông nghiệp 69
4.3 Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến liên kết trong sản xuất nông nghiệp 77
4.3.1 Từ phía hộ sản xuất 77
4.3.2 Từ phía chính quyền địa phương 82
4.3.3 Từ phía doanh nghiệp 84
4.4 Định hướng và giải pháp nhằm tăng cường mối liên kết trong sản xuất nông
nghiệp ở xã Thái Tân, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình 85

Bảng 4.11 Kết quả, hiệu quả sản xuất bình quân dưa chuột và ớt của hộ điều tra.75
Bảng 4.12 Tình hình chung của các hộ điều tra 78
Bảng 4.13 Tiêu chí lựa chọn nông sản sản xuất của các hộ 79
Bảng 4.14 Chi phí sản xuất trung bình dưa chuột và ớt của các hộ điều tra 80
Bảng 4.15 Hiểu biết của hộ về liên kết 81
Bảng 4.16 Tình hình tham gia tập huấn của các nhóm hộ 82
vii
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, ĐỒ THỊ, HÌNH, HỘP
SƠ ĐỒ
Sơ đồ 2.1 Cơ chế liên kết 12
Sơ đồ 2.2 Sơ đồ phân phối sản phẩm 16
Sơ đồ 2.3 Kênh phân phối sản phẩm 17
Sơ đồ 2.4 Cơ chế, các khâu và các hình thức liên kết giữa các tác nhân 19
Sơ đồ 4.1 Kênh tiêu thụ nông sản xã Thái Tân 60
Sơ đồ 4.2 Hướng liên kết trong sản xuất nông nghiệp trên địa bàn
xã Thái Tân 69
ĐỒ THỊ
Đồ thị 3.1 Cơ cấu kinh tế xã Thái Tân năm 2013 – 2014 46
Đồ thị 4.1 Hình thức thỏa thuận trong liên kết ở xã Thái Tân năm 2014 65
HÌNH
Hình 4.1 Người dân đang chăm sóc dưa chuột 57
Hình 4.2 Ớt vào thời kỳ 57
thu hoạch 57
HỘP
Hộp 4.1 Tìm được đối tác làm ăn lâu dài 62
Hộp 4.2 Nhận định về vấn đề đầu vào, đầu ra 64
Hộp 4.3 Lợi ích mang lại từ liên kết ngang 70
Hộp 4.4 Lợi ích liên kết của đơn vị trung gian thu gom 76
Hộp 4.5 Lợi ích liên kết của doanh nghiệp 77
Hộp 4.6 Tình hình thu gom nông sản của HTXDVNN Thái Tân 84

công cụ, giải pháp hiệu quả nhất của Đảng và Chính phủ trong công cuộc xóa
đói, giảm nghèo, nâng cao đời sống của cư dân nông thôn, bảo vệ môi trường,
thực hiện các mục tiêu thiên niên kỷ.
Thái Bình là tỉnh có nhiều tiềm năng trong phát triển nông nghiệp. Năm
2011, trong tổng diện tích đất tự nhiên là 157 nghìn ha, thì đất cho sử dụng
nông nghiệp là 97,2 nghìn ha (chiếm tới 61,9% tổng diện tích đất tự nhiên) và
thu hút gần 60% lao động làm trong lĩnh vực nông nghiệp (Lê Văn Hương,
Trần Hoàng Sa, Nguyễn Thị Hải Yến, 2014). Thực tế, từ những năm đổi mới
cho đến nay, sản xuất nông nghiệp của tỉnh đã giành được nhiều thắng lợi,
tương đối toàn diện cả về trồng trọt, chăn nuôi và kinh tế biển, nó còn là đòn
bẩy cho ngành công nghiệp chế biến, dịch vụ… phát triển tương đối mạnh cả
về chất và lượng. Bộ mặt nông thôn Thái Bình đã có nhiều khởi sắc đáng ghi
nhận trong nhiều lĩnh vực kinh tế, đời sống, văn hóa và xã hội.
1
Với lợi thế về nông nghiệp, những năm qua tỉnh Thái Bình đã thực hiện
nhiều mô hình liên kết nhằm giúp nông dân dễ dàng hơn trong sản xuất nông
nghiệp. Tuy nhiên, một sự thật hiển nhiên dễ thấy rằng một nông dân chỉ có
thể sản xuất theo kiểu tự cấp, tự túc thì được, nhưng muốn sản xuất hàng hóa
thì phải kết hợp nhau lại để có thể sản xuất khối lượng lớn, chất lượng cao,
cung cấp đúng thời điểm và giá cả phải cạnh tranh. Việc xác định mặt hàng
nào cần sản xuất phải được thị trường chấp nhận; không thể dựa vào mắt thấy
láng giềng bán được rồi mình cũng bắt chước sản xuất theo. Do vậy, có thể
nói đây là một mô hình sản xuất liên kết phù hợp với thực tiễn hiện nay.
Thái Tân là một xã thuần nông thuộc huyện Thái Thụy, tỉnh Thái
Bình. Trong những gần đây, tình hình sản xuất nông nghiệp của xã cho hiệu
quả rõ rệt nhờ vào liên kết sản xuất nông nghiệp. Điều đó có ý nghĩa rất lớn
trong việc thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu, góp phần làm cho cuộc sống người
dân được cải thiện, đời sống văn hóa tinh thần ngày càng phong phú Tuy
nhiên, việc hình thành liên kết này còn gặp nhiều hạn chế tồn tại. Vì vậy cần
có những giải pháp để việc sản xuất nông nghiệp tạo thành một mối liên kết

+ Phạm vi không gian:
Đề tài được thực hiện tại xã Thái Tân, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình.
+ Phạm vi thời gian của số liệu:
Đề tài thu thập số liệu trong vòng 3 năm, giai đoạn 2012 – 2014
Thời gian thực hiện đề tài từ tháng 01/2015 - 06/2015
1.4 Câu hỏi nghiên cứu
Để thực hiện các mục tiêu trên đề tài tập trung nghiên cứu, phân tích và
trả lời các câu hỏi sau liên quan đến sản xuất nông nghiệp ở xã Thái Tân,
huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình:
(1) Cơ sở lý luận và thực tiễn nào liên quan đến liên kết trong sản xuất
nông nghiệp?
3
(2) Thực trạng liên kết trong sản xuất nông nghiệp diễn ra như thế nào?
Kết quả và hiệu quả trong sản xuất nông nghiệp nhờ liên kết?
(3) Yếu tố nào ảnh hưởng đến liên kết trong sản xuất nông nghiệp?
(4) Phương hướng và một số giải pháp tăng cường mối liên kết trong
sản xuất nông nghiệp trong thời gian tới?
4
PHẦN II
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ LIÊN KẾT
TRONG SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP
2.1 Cơ sở lý luận về liên kết trong sản xuất nông nghiệp
2.1.1 Một số khái niệm có liên quan
2.1.1.1 Liên kết
Liên kết trong hệ thống thuật ngữ kinh tế nó có nghĩa là sự hợp nhất, sự
phối hợp hay sáp nhập của nhiều bộ phận thành một chỉnh thể. Trước đây khái
niệm này được biết đến với tên gọi là nhất thể hoá và gần đây mới gọi là liên
kết.
Theo từ điển thuật ngữ kinh tế học của Viện Nghiên cứu và phổ biến tri
thức bách khoa: “Liên kết là hình thức hợp tác và phối hợp thường xuyên các

bạc thống nhất, các đơn vị thành viên trong tổ chức liên kết kinh tế cùng nhau
ký hợp đồng về những vấn đề có liên quan đến phần hoạt động của mình để
thực hiện.
Như vậy, liên kết kinh tế là sự phối hợp của hai hay nhiều bên, không
kể quy mô hay loại hình sở hữu. Mục tiêu của liên kết kinh tế là các bên tìm
cách bù đắp sự thiếu hụt của mình, từ sự phối hợp hoạt động với các đối tác
nhằm đem lại lợi ích cho các bên.
2.1.1.2 Quan niệm về liên kết trong sản xuất nông nghiệp
Liên kết là một phạm trù khách quan phản ánh những quan hệ xuất phát
từ lợi ích kinh tế khác nhau của những chủ thể kinh tế cũng như quá trình vận
động và phát triển theo tự nhiên của lực lượng sản xuất, xuất phát từ trình độ,
phạm vi của phân công lao động xã hội và chuyên môn hóa sản xuất kinh
doanh (Trần Văn Hiếu, 2005).
6
Liên kết là những quan hệ kinh tế đạt tới trình độ gắn bó chặt chẽ, ổn
định, thường xuyên, lâu dài thông qua những thỏa thuận, hợp đồng từ trước
giữa các bên tham gia liên kết. Không phải quan kệ kinh tế nào cũng là liên
kết. Những quan hệ kinh tế nhất thời, những trao đổi ngẫu nhiên không
thường xuyên giữa các chủ thể kinh tế không phải là liên kết.
Liên kết là một quá trình làm xích lại gần nhau và gắn kết với nhau,
trên tinh thần tự nguyện giữa các bên tham gia liên kết (Dương Bá Phượng,
1995). Quá trình này vận động, phát triển qua những nấc thang từ quan hệ
hợp tác, liên doanh đến liên hợp, liên minh hợp nhất lại. Như vậy, phân công
lao động và chuyên môn hóa sản xuất kinh doanh là những điều kiện hình
thành các liên kết; còn hợp tác, liên hợp hóa là những hình thức biểu hiện của
những nấc thang, những bước phát triển của liên kết (Lê Văn Lương, 2008).
Liên kết là những hình thức hoặc biểu hiện của sự hành động giữa chủ
thể liên kết thông qua những thỏa thuận, những giao kèo, hợp đồng, hiệp
định, điều lệ, nhằm thực hiện những mục tiêu nhất định trong tất cả các lĩnh
vực khác nhau của hoạt động kinh tế (đầu tư, sản xuất, kinh doanh, ). Tùy

to lớn sau:
+ Chuyển một phần lợi nhuận của người mua bán trung gian hoặc công
ty kinh doanh sang cho người sản xuất trực tiếp đầu tư phát triển vùng nguyên
liệu.
+ Thông qua hợp đồng sẽ tập trung được nhiều hộ sản xuất tiểu nông nhỏ
lẻ thành vùng sản xuất hàng hoá tập trung với chất lượng đồng đều và ổn định.
+ Chia sẻ một phần rủi ro trong sản xuất nông nghiệp sang các cơ sở
chế biến, tiêu thụ tham gia gánh chịu, người sản xuất nông nghiệp chỉ còn
chịu rủi ro trong khâu sản xuất nguyên liệu, hạn chế tối đa rủi ro trong thị
trường giá cả.
+ Nối kết thông tin hai chiều giữa thị trường tiêu dùng với người sản
xuất, nhờ đó sản phẩm đáp ứng đúng yêu cầu về tiêu chuẩn chất lượng, vệ
8
sinh an toàn thực phẩm do thị trường đòi hỏi, trên cơ sở đó tăng cường khả
năng cạnh tranh và nâng cao được giá trị sản phẩm.
+ Gắn kết được công nghiệp chế biến và hoạt động kinh doanh dịch vụ
với địa bàn kinh tế nông thôn, góp phần quan trọng chuyển đổi cơ cấu kinh tế
nông nghiệp nông thôn theo hướng đa dạng hoá, công nghiệp hoá, thúc đẩy
liên kết nông nghiệp – công nghiệp phát triển.
+ Thông qua liên kết các đơn vị kinh tế, các tổ chức có điều kiện hỗ
trợ, giúp đỡ cho các nhóm hộ, hợp tác xã phát triển, tạo ra những khả năng
phát triển năng lực nội tại của kinh tế hộ, đồng thời tạo lập môi trường kinh tế
- xã hội cho kinh tế nông nghiệp, nông thôn phát triển.
2.1.3 Các cơ chế liên kết trong sản xuất nông nghiệp
Liên kết kinh tế là thực hiện một quan hệ xã hội, mà ở đây là quan hệ
kinh tế - kỹ thuật - tài chính giữa hai chủ thể kinh tế độc lập là doanh nghiệp
chế biến và nông dân. Quan hệ đó cần phải được pháp luật điều tiết và bảo vệ
thì mới có cơ sở để thực hiện một cách có hiệu quả, bảo đảm quyền lợi và
nghĩa vụ của hai bên tham gia liên kết. Vì vậy, quan hệ liên kết đó phải được
thực hiện dưới một hình thức pháp lý nhất định, làm cơ sở để ràng buộc trách

đáng kể chi phí vận chuyển, chi phí cho khâu trung gian. Hiện nay phương
thức liên kết này được thực hiện rộng rãi và đem lại nhiều hiệu quả. Chẳng
hạn sự liên kết giữa nơi cung ứng nguyên liệu với cơ sở chế biến, giữa cơ sở
chế biến với nơi tiêu thụ sẽ làm giảm bớt một phần chi phí trung gian, chi phí
vận chuyển, giảm giá thành sản phẩm, Mối liên kết bốn nhà đang được quan
tâm và đẩy mạnh trong nông nghiệp cũng chính là mô hình liên kết dọc mà
mỗi tác nhân ở đây là một “nhà”.
Liên kết theo chiều ngang (Liên kết diễn ra giữa các tác nhân hoạt
động trong cùng một ngành) là hình thức liên kết giữa các chủ thể cùng một
cấp, cùng mắt xích, tạo nên sự mở rộng về quy mô, nhằm mục đích làm chủ
10
thị trường và có thể dẫn đến độc quyền trong một số thị trường nhất định. Các
thành viên tham gia liên kết này thường có sản phẩm hay dịch vụ cạnh tranh
lẫn nhau nhưng bằng cách liên kết với nhau họ đã nâng cao sức cạnh tranh
cho từng thành viên cũng như cho tập thể liên kết. Hình thức này được tổ
chức dưới nhiều dạng, có thể thông qua các hội nghề nghiệp hoặc hiệp hội, ví
dụ như Hiệp hội Mía đường… Các cơ sở liên kết với nhau là những cơ sở độc
lập nhưng có quan hệ với nhau và thông qua một bộ máy kiểm soát chung.
Với hình thức liên kết này có thể thấy được hiệu quả đặc biệt đối với những
người kinh doanh quy mô nhỏ hoặc nông dân, liên kết tạo cho họ khả năng
làm chủ thị trường, giúp họ hạn chế được sự ép cấp, ép giá của các cơ sở chế
biến hay tư thương nhờ sự làm chủ thị trường.
Như vậy liên kết kinh tế có thể diễn ra trong mọi ngành sản xuất kinh
doanh, thu hút sự tham gia của tất cả các chủ thể kinh tế có nhu cầu của mọi
thành phần kinh tế và không bị giới hạn bởi phạm vi địa lý, mỗi loại hình liên
kết có những đặc điểm riêng cũng như những ưu điểm riêng của nó.
Người sản
xuất
Người sản
xuất

của con người.
Tư liệu lao động là một vật thể hay hệ thống những vật làm nhiệm vụ
truyền dẫn sự tác động của con người lên đối tượng lao động nhằm biến đổi
đối tượng lao động theo mục đích của mình.
Trong sản xuất nông nghiệp thì đối tượng lao động là hạt giống, phân bón,
thuốc BVTV, Tư liệu lao động là cày, cuốc, quang gánh, xe thồ, Trong quá
trình sản xuất, người nông dân dùng giống để trồng, sử dụng bình phun thuốc để
trừ sâu bệnh, dùng quang gánh để vận chuyển sản phẩm ra chợ,
Cả 3 yếu tố sức lao động, tư liệu lao động và đối tượng lao động đều
được gọi là đầu vào của quá trình sản xuất. Còn sản phẩm của lao động được
12
gọi là đầu ra. Như vậy, có thể định nghĩa: “Sản xuất là một hoạt động của
hãng nhằm chuyển hóa những đầu ra, còn được gọi là những yếu tố sản xuất,
thành những đầu ra” (Robert S.Pindyck và Daniel L.Rubinfeld, 1994). Hay
nói một cách đơn gian hơn thì: Sản xuất là quá trình kết hợp các yếu tố đầu
vào để tạo ra các sản phẩm đầu ra. Sản xuất là quá trình tạo ra của cải vật chất
không có sẵn trong tự nhiên nhưng lại rất cần thiết cho sự tồn tại và phát triển
của xã hội.
Đầu vào (hay yếu tố sản xuất) cũng là một hàng hóa hoặc dịch vụ nào
đó được dùng để sản xuất ra sản phẩm hữu ích. Nó bao gồm sức lao động,
máy móc, nhà cửa, nguyên vật liệu và năng lượng các yếu tố này tác động
qua lại và hỗ trợ lẫn nhau trong quá trình sản xuất.
Đầu ra kết quả của sản xuất là quá trình kết hợp các yếu tố đầu vào như:
lương thực, thực phẩm, rau xanh nhằm đáp ứng nhu cầu cơ bản của con người.
Mối quan hệ giữa khối lượng đầu vào cần thiết và sản lượng đầu ra có
thể được mô tả bằng hàm số, được gọi là hàm sản xuất.
Q = F (X
1
, X
2

vào tạo ra nhằm thỏa mãn nhu cầu của con người. Trong nền kinh tế thị
trường người ta quan niệm sản phẩm là bất cứ cái gì đó có thể cung ứng nhu
cầu của thị trường và đem lại lợi nhuận.
2.1.4.2 Vấn đề tiêu thụ nông nghiệp
Tiêu thụ là quá trình mua bán, trao đổi sản phẩm giữa người mua và
người bán, giúp sản phẩm đi từ người sản xuất đến người tiêu dùng. Theo
nghĩa hẹp, tiêu thụ sản phẩm hay việc bán hàng là quá trình chuyển giao hàng
hóa cho khách hàng và nhận tiền từ họ sau khi mua bán đạt sự thống nhất,
người bán giao hàng, người mua trả tiền quá trình tiêu thụ kết thúc ở đây.
Trong quá trình sản phẩm đi từ người sản xuất đến người tiêu dùng
cuối cùng hai tác nhân này trao đổi trực tiếp với nhau, nhưng cũng có thể
thông qua một vài tác nhân trung gian khác. Hoạt động tiêu thụ đã hình thành
nên các kênh tiêu thụ sản phẩm và các kênh tiêu thụ này có độ dài ngắn khác
nhau phụ thuộc vào số tác nhân tham gia kênh.
 Kênh tiêu thụ
Kênh tiêu thụ là tập hợp các cá nhân hay cơ sở sản xuất kinh doanh độc
lập hay phụ thuộc lẫn nhau tham gia vào quá trình tạo ra dòng vận chuyển
hàng hóa, dịch vụ từ người sản xuất tới người tiêu dùng.
Thành viên của kênh là tất cả những người tham gia vào kênh phân
phối, bao gồm cả người sản xuất, người tiêu dùng. Ngoài hai tác nhân này ra
còn lại được gọi là trung gian thương mại, bao gồm:
- Nhà bán buôn, bán hàng hóa dịch vụ cho các tác nhân trung gian khác
như các nhà bán lẻ hay những nhà sử dụng công nghiệp.
14
- Nhà bán lẻ hàng hóa dịch vụ trực tiếp cho người tiêu dùng cuối cùng.
- Đại lý môi giới có quyền hợp pháp thay mặt cho nhà sản xuất cung
cấp hàng hóa, dịch vụ cho các trung gian khác.
- Nhà phân phối là những người trung gian thực hiện chức năng phân
phối trên thị trường.
 Vai trò của kênh tiêu thụ với người sản xuất

Sơ đồ 2.2 Sơ đồ phân phối sản phẩm
Như hình vẽ ta thấy, ba nhà sản xuất trực tiếp bán hàng cho ba khách
hàng cần 9 lần tiếp xúc. Nhưng nếu sử dụng trung gian phân phối số lần
tiếp xúc giảm xuống còn 6 lần. Thông qua trung gian sẽ làm giảm số lần
tiếp xúc của mỗi người sản xuất đến mỗi khách hàng từ đó làm tăng hiệu
quả phân phối của xã hội.
Như vậy thông qua kênh tiêu thụ có trung gian, người sản xuất giảm
được đầu tư vật lực và nhân lực mà sản phẩm vẫn tới được tay người tiêu
dùng. Mặt khác, người tiêu dùng được tiếp xúc nhiều chủng loại sản phẩm
thông qua trung gian.
 Cấu trúc kênh phân phối
Cấu trúc hoạt động của kênh phân phối là việc thiết lập các thành viên
thực hiện các chức năng phân bổ cho họ. Cấu trúc của kênh xác định bởi ba
yếu tố: trung gian được sử dụng, nhiệm vụ và các hoạt động trung gian phải
thực hiện, số lượng của mỗi loại trung gian. Cấu trúc của kênh được xác định
qua chiều dài và bề rộng của hệ thống kênh.
A B C D
Nhà SX Nhà SX Nhà SX
Nhà SX
Đại lý
Nhà bán
buôn
Nhà bán
buôn
Người
bán lẻ
Người
bán lẻ
Người
bán lẻ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status