Nghiên cứu hoạt động sinh kế nhằm phát triển sản xuất nông nghiệp tại xã Xuân Trạch huyện Bố Trạch tỉnh Quảng Bình - Pdf 22

Số hóa bởi trung tâm học liệu


Số hóa bởi trung tâm học liệu

ii Số hóa bởi trung tâm học liệu

i
LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành bản đề tài này ngoài sự cố gắng, sự nỗ lực của bản thân, tôi
luôn nhận được sự giúp đỡ tận tình của nhiều cá nhân và tập thể.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Dương Văn Sơn, người đã
tận tình chỉ bảo, hướng dẫn giúp đỡ tôi thực hiện và hoàn thành đề tài này.
Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu, Phòng Quản lý đào tạo sau đại
học, phòng ban của Trường Đại học Nông lâm đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi
trong quá trình học tập và nghiên cứu tại trường.
Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của UBND xã Xuân Trạch
huyện Bố Trạch tỉnh Quảng Bình và đặc biệt là Trường Đại học Nông lâm nơi
tôi đang công tác đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và
viết luận văn tốt nghiệp này.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến bà con nông dân các xã Xuân Trạch
những người đã giúp tôi trong quá trình thực hiện luận văn.
Tôi xin cảm ơn sự động viên, giúp đỡ của bạn bè, đồng nghiệp và gia đình
đã chia sẻ những khó khăn và động viên tôi hoàn thành luận văn này.
Tôi xin bày tỏ sự cảm ơn sâu sắc đối với mọi sự giúp đỡ quý báu đó.

Tác giả luận văn Lành Ngọc Tú
Số hóa bởi trung tâm học liệu

iii
DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 2.1. Các thôn lựa chọn trong tổng số các thôn của xã Xuân Trạch
27
Bảng 2.2: Số hộ điều tra tại 4 thôn xã Xuân Trạch
29

36
Bảng 3.2 Thông tin chung về chủ hộ được điều tra

Bảng 3.16 Cơ cấu thu nhập từ phi nông nghiệp trong tổng thu nhập của hộ
nôngdân
54
Bảng 3.17 Cơ cấu thu nhập từ trồng trọt trong tổng thu nhập nông nghiệp của hộ
nông dân
57
Bảng 3.18 Số hộ trồng và thu nhập trung bình từ cây trồng
58
Bảng 3.19 Cơ cấu thu nhập từ chăn nuôi trong tổng thu nhập nông nghiệp của hộ
nông dân
59
Bảng 3.20 Số hộ nuôi và bình quân số đầu vật nuôi
61
Bảng 3.21 Tỷ lệ giành toàn bộ thời gian cho nông nghiệp của thành viên gia đình
trong một năm

64
Bảng 3.22 Tỷ lệ giành một phần thời gian cho nông nghiệpcủa thành viên gia đình
trong một năm

66
Bảng 3.23 Tỷ lệ giành toàn bộ thời gian cho phi nông nghiệp của thành viên gia
đình trong một năm

67
Bảng 3.24 Tỷ lệ giành một phần thời gian cho phi nông nghiệp của thành viên gia
đình trong một năm

68



DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT

Số hóa bởi trung tâm học liệu

v

3PAD:
Dự án Quan hệ Đối tác vì Người nghèo trong phát triển Nông
Lâm nghiệp tỉnh Bắc Kạn
4FGF:

Dự án lương thực, thức ăn chăn nuôi, nhiên liệu và sợi cho
tương lai xanh tươi hơn
CIAT:
MỤC LỤC
Trang
Mở đầu
1
1. Tính cấp thiết của đề tài
1

Số hóa bởi trung tâm học liệu

vi
2. Mục tiêu của đề tài
3
2.1 Mục tiêu chung
3
2.2 Mục tiêu cụ thể
3
3. Ý nghĩa của luận văn
3

3
3.2 Ý nghĩa trong thực tiễn
4
Chương 1. Tổng quan tài liệu
5
1.1 Cơ sở lý luận
5
1.1.1 Nông nghiệp
5

2.3 Nội dung nghiên cứu
24
2.3.1 Đánh giá điều kiện tự nhiên kinh tế, xã hội của xã Xuân Trạch (huyện
Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình)

25

Số hóa bởi trung tâm học liệu

vii
2.3.2 Phân tích thực trạng ế nông nghiệp của người dân địa
phương

25
2.3.3 Nghiên cứu cơ cấu thu nhập sinh kế từ các hoạt động sinh kế của
người dân địa phương

25
2.3.4 Phân tích thời gian giành cho các hoạt động sinh kế của người dân địa
phương

25
2.3.5 Đề xuất các giải pháp phát triển sinh kế, thúc đẩy sản xuất nông
nghiệp cho cộng đồng địa phương

26
2.4 Phương pháp nghiên cứu
26
2.4.1 Phương pháp thu thập số liệu
26

3.3.2 Cơ cấu thu nhập từ trồng trọt và chăn nuôi
56
3.4 Thời gian giành cho các hoạt động sinh kế của người dân địa phương
63
3.4.1 Thời gian giành toàn bộ thời gian cho nông nghiệp của người dân địa Số hóa bởi trung tâm học liệu

viii
phương
63
3.4.2 Thời gian giành một phần thời gian cho nông nghiệp của người dân
địa phương

66
3.4.3 Thời gian giành toàn bộ thời gian cho phi nông nghiệp của người dân
địa phương

67
3.4.4 Thời gian giành một phần thời gian cho phi nông nghiệp của người
dân địa phương

68
3.5 Đề xuất giải pháp sinh kế bền vững nhằm nâng cao đời sống người dân
địa phương

70
3.5.1. Giải pháp chung
70


1
MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Nông nghiệp là một ngành sản xuất đặc biệt, là hoạt động có từ xa xưa
của loài người và hầu hết các nước trên thế giới đều xây dựng một nền kinh tế từ
phát triển nông nghiệp dựa vào khai thác các tiềm năng của đất, trên cơ sở đó để
phát triển các ngành khác. Vì vậy, sử dụng nguồn tài nguyên đất đai hợp lý, có
hiệu quả kinh tế cao là nhiệm vụ quan trọng đảm bảo cho nông nghiệp phát triển
bền vững. Nông thôn là vùng sinh sống của tập hợp cư dân, trong đó có nhiều
nông dân. Tập hợp cư dân này tham gia vào các hoạt động kinh tế, văn hoá, xã
hội và môi trường trong một thể chế chính trị nhất định và chịu ảnh hưởng của
các tổ chức khác. Nông thôn Việt Nam có vị trí địa chính trị đặc biệt quan trọng,
có khoảng 70 % dân số nước ta sống ở vùng nông thôn. Muốn thực hiện thành
công mục tiêu thiên niên kỷ, đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp vào
năm 2020, thì phát triển nông thôn là chiến lược đặc biệt cần được quan tâm và
có những giải pháp bền vững.
Thực tế trong bối cảnh hiện nay, để đạt được kết quả chiến lược phát triển
nông thôn sẽ rất khó khăn nếu thiếu các yếu tố tác động, hỗ trợ từ bên ngoài. Sự
hỗ trợ từ bên ngoài là rất cần thiết để tạo ra sự thay đổi. Trong nông nghiệp, các
can thiệp và hỗ trợ cần tác động vào hai ngành chủ yếu là trồng trọt và chăn
nuôi. Khi có can thiệp vào sản xuất trồng trọt và chăn nuôi sẽ dẫn đến tạo ra sự
thay đổi tập quán canh tác, hình thành thói quen và hành vi mới, từ đó thúc đẩy
sản xuất phát triển, tạo điều kiện thay đổi sức sản xuất tăng thu nhập cho người
dân. Kết quả là sản xuất phát triển, góp phần phát triển nông thôn.
Xóa đói giảm nghèo từ lâu đã trở thành mối quan tâm hàng đầu của Đảng
và nhà nước ta, vì thế có rất nhiều chính sách tháo gỡ khó khăn để giúp người
dân thoát nghèo. Và để thực hiện tốt chính sách trên thì một công việc hết sức


2.1 Mục tiêu chung
Đánh giá thực trạng các hoạt động sinh kế nông nghiệp của người dân tại
địa bàn nghiên cứu, phân tích đóng góp về cơ cấu thu nhập từ các hoạt động sinh
kế của người dân địa phương và phân bổ thời gian giành cho các hoạt động sinh
kế của họ. Trên cơ sở đó đề xuất được các giải pháp phát triển sinh kế, thúc đẩy
sản xuất nông nghiệp cho cộng đồng địa phương.
2.2 Mục tiêu cụ thể
- Đánh giá điều kiện tự nhiên kinh tế, xã hội của xã Xuân Trạch (huyện Bố
Trạch, tỉnh Quảng Bình)
- Phân tích được thực trạng ế nông nghiệp của người dân
địa phương
- Nghiên cứu được cơ cấu thu nhập sinh kế từ các hoạt động sinh kế của
người dân địa phương
- Phân tích được thời gian giành cho các hoạt động sinh kế của người dân
địa phương
- Đề xuất được các giải pháp phát triển sinh kế, thúc đẩy sản xuất nông
nghiệp cho cộng đồng địa phương
3. Ý nghĩa của luận văn

- ;

Số hóa bởi trung tâm học liệu

4
- , cản trở
trong tiếp cận các nguồn vốn của người dân xã Xuân Trạch;
- Có được cái nhìn tổng thể về thực trạng hoạt động sinh kế của cộng đồng
người dân trên địa bàn xã Xuân Trạch;
-
tr .

kinh tế nhằm cung cấp lương thực và các sản phẩm thiết yếu cho con người và
xã hội. Nông nghiệp là một trong những ngành kinh tế quan trọng và phức tạp.
Nó không chỉ là một ngành kinh tế đơn thuần mà còn là hệ thống sinh học - kỹ
thuật, bởi vì một mặt cơ sở để phát triển nông nghiệp là việc sử dụng tiềm năng.
sinh học - cây trồng, vật nuôi. Chúng phát triển theo qui luật sinh học nhất định
con người không thể ngăn cản các quá trình phát sinh, phát triển và diệt vong
của chúng, mà phải trên cơ sở nhận thức đúng đắn các qui luật để có những giải
pháp tác động thích hợp với chúng. Mặt khác quan trọng hơn là phải làm cho
người sản xuất có sự quan tâm thoả đáng, gắn lợi ích của họ với sử dụng quá
trình sinh học nhằm tạo ra ngày càng nhiều sản phẩm cuối cùng hơn. Nông
nghiệp nếu hiểu theo nghĩa hẹp chỉ có ngành trồng trọt, ngành chăn nuôi và
ngành dịch vụ trong nông nghiệp. Còn nông nghiệp hiểu theo nghĩa rộng nó còn
bao gồm cả ngành lâm nghiệp và ngành thủy sản nữa. Nông nghiệp là ngành sản
xuất vật chất cơ bản giữ vai trò to lớn trong việc phát triển kinh tế ở hầu hết cả
nước, nhất là ở các nước đang phát triển, ở những nước này còn nghèo, đại bộ
phận sống bằng nghề nông. Tuy nhiên, ngay cả những nước có nền công nghiệp
phát triển cao, mặc dù tỷ trọng GDP nông nghiệp không lớn, nhưng khối lượng
nông sản của các nước này khá lớn và không ngừng tăng lên, đảm bảo cung cấp
đủ cho đời sống con người những sản phẩm tối cần thiết đó là lương thực, thực
phẩm. Những sản phẩm này cho dù trình độ khoa học - công nghệ phát triển như

Số hóa bởi trung tâm học liệu

6
hiện nay, vẫn chưa có ngành nào có thể thay thế được. Lương thực, thực phẩm là
yếu tố đầu tiên, có tính chất quyết định sự tồn tại phát triển của con người và
phát triển kinh tế, xã hội của đất nước.
1.1.2 Hộ gia đình, nông hộ và thu nhập của nông hộ
Trong tiếng Việt, hộ là một danh từ được dùng để chỉ gia đình, được coi
như một đơn vị xã hội trong các quan hệ với chính quyền, có liên quan đến tài

thống, cùng chung sống hay không cùng chung trong một mái nhà. Họ có cùng
nguồn thu nhập, cùng ăn chung, cùng tiến hành sản xuất chung". Một tác giả
khác nhấn mạnh tới các tiêu thức: "Hộ nông dân là đơn vị kinh tế mà các thành
viên của nó sống chung với nhau trong một mái nhà, liên hệ với nhau bởi hôn
nhân, huyết thống, có chung thu nhập, trong đó có thu nhập từ nông nghiệp do
lao động sử dụng đất đai đem lại. Trong nền kinh tế hàng hóa, hộ nông dân là
một đơn vị kinh tế độc lập, tự chủ, trong mọi loại hoạt động sản xuất kinh
doanh nông nghiệp". Có tác giả nhấn mạnh đến hoạt động kinh tế cho rằng, "Hộ
nông dân là đơn vị kinh tế tự chủ trong sản xuất nông nghiệp hoạt động theo cơ
chế thị trường". Một tác giả khác xuất phát từ các tổng kết về mặt lịch sử cũng
như thực tiễn, lại cho rằng: "Quan điểm coi hộ nông dân là đơn vị sản xuất tự
chủ là hoàn toàn đúng đắn về lý luận cũng như thực tiễn"
Để có nhận thức đầy đủ về hộ và kinh tế hộ nông dân ở nước ta hiện nay,
cần tìm hiểu những đặc điểm của kinh tế hộ nông dân ở các nước kinh tế đang
phát triển. Chúng tôi đồng tình với quan điểm cho rằng, ngoại trừ một số nước
phát triển, các hộ nông dân ở khu vực các nước đang phát triển "có mức thu
nhập thấp nhất so với các nhóm hộ khác trong xã hội". Các hộ nông dân là các
nhà sản xuất nhỏ, quy mô ruộng đất của nhiều hộ chỉ cho phép sản xuất ra một
lượng sản phẩm đủ nuôi sống các thành viên, tỷ trọng nông phẩm là hàng hóa
còn thấp.

Số hóa bởi trung tâm học liệu

8
Các hộ nông dân có số thu lợi nhuận thấp, phần lớn sản phẩm của họ làm
ra khi bán ra chỉ vừa đủ để trang trải chi phí sản xuất. Vì vậy, mức độ tích lũy để
mở rộng sản xuất hầu như không đáng kể. Các hộ nông dân thường sản xuất độc
canh trên diện tích sản xuất nhỏ, thời gian lao động của họ chưa được tận dụng tối
đa, không có thu nhập thêm nếu không tạo ra được việc làm tại chỗ.
Cơ cấu kinh tế hộ nông dân khá đa dạng theo nhiều nghề khác nhau. Tổ

sinh kế bao gồm năng lực tiềm tàng, tài sản (gồm các nguồn lực vật chất và xã hội
như: cửa hàng, nguồn tài nguyên, đất đai, nước mặt, đường xá,…) cùng các hoạt
động cần thiết làm phương tiện để kiếm sống của con người (Scoones, 1998) [10].
.
,
cây ăn quả, rau
,…
ác ngành nghề khác.

ng
.

Yếu tố được xem là bền vững khi mà nó có thể tiếp tục diễn ra trong
tương lai, đối phó và phục hồi được sau các áp lực và sốc mà không làm huỷ
hoại các nguồn lực tạo nên sự tồn tại của yếu tố này. Các nguồn lực này có thể
thuộc nguồn tự nhiên, xã hội, kinh tế hay thể chế. "Điều này giải thích tại sao

Số hóa bởi trung tâm học liệu

10
tính bền vững thường được phân tích theo bốn khía cạnh: Bền vững về kinh tế,
về môi trường, về thể chế và xã hội (IDS, 2004)" [10].
Bền vững không có nghĩa là sẽ không có gì thay đổi, mà là có khả năng
thích nghi theo thời gian. Tính bền vững là một trong những nguyên tắc cơ bản
của phương pháp sinh kế bền vững.
Một sinh kế được xem là bền vững khi nó phải phát huy được tiềm năng con
người để từ đó sản xuất và duy trì phương tiện kiếm sống của họ. Nó phải có khả
năng đương đầu và vượt qua áp lực cũng như các thay đổi bất ngờ.
Sinh kế bền vững không được khai thác hoặc gây bất lợi cho môi trường hoặc
cho các sinh kế khác ở hiện tại và tương lai. Trên thực tế thì nó nên thúc đẩy sự hòa

những xu hướng kỹ thuật).
Cú sốc: Cú sốc về sức khoẻ con người, thiên tai, chiến tranh, dịch bệnh
cây trồng vật nuôi.
Tính thời vụ: Biến động giá cả, sản xuất, sức khoẻ, những cơ hội làm việc.
Những nhân tố cấu thành hoàn cảnh dễ bị tổn thương quan trọng vì chúng có
tác động trực tiếp lên tình trạng tài sản và những lựa chọn của con người mà với
chúng sẽ mở ra cơ hội để họ theo đuổi những kết quả sinh kế có lợi.
b) Những tài sản sinh kế

Số hóa bởi trung tâm học liệu

12
Tiếp cận sinh kế thì cần tập trung trước hết và đầu tiên với con người. Nó
cố gắng đạt được sự hiểu biết chính xác và thực tế về sức mạnh của con người
(tài sản hoặc tài sản vốn) và cách họ cố gắng biến đổi chúng thành kết quả sinh
kế hữu ích.

(Nguồn: DFID, 2002) [24]
Hình 2.2: Tài sản của người dân
Khung sinh kế xác định năm loại tài sản trung tâm mà dựa vào đó tạo ra
những sinh kế:
- Nguồn vốn con người (Human capital)
- Nguồn vốn xã hội (Social capital)
- Nguồn vốn tự nhiên (Natural capital)
- Nguồn vốn vật chất/vốn vật thể (Physical capital)
- Nguồn vốn tài chính (Financial capital)
Đặc điểm của mô hình năm loại tài sản:

Số hóa bởi trung tâm học liệu


Ảnh hưởng tỉ lệ tích lũy tài sản: ví dụ, chính sách thuế ảnh hưởng đến
doanh thu của những chiến lược sinh kế,…
Tuy nhiên, đây không phải là mối quan hệ đơn giản, những cá nhân và
những nhóm cũng ảnh hưởng lên sự tái cấu trúc và thay đổi quy trình thể chế.
Nói chung, tài sản càng được cung ứng cho người dân thì họ sẽ sử dụng càng
nhiều. Vì vậy, một cách để đạt được sư trao quyền có thể là hỗ trợ cho người
dân xây dựng những tài sản của họ.
Tài sản và những chiến lược sinh kế: những ai có nhiều tài sản có khuynh
hướng sử dụng nhiều lựa chọn lớn hơn và khả năng chuyển đổi giữa nhiều chiến
lược để đảm bảo sinh kế của họ.
Tài sản và những kết quả sinh kế: Khả năng người dân thoát nghèo phụ
thuộc chủ yếu vào sự tiếp cận của họ đối với những tài sản. Những tài sản khác
nhau cần để đạt được những kết quả sinh kế khác nhau.
Ví dụ:
Thu nhập nông hộ phụ thuộc vào đầu tư các yếu tố sản xuất chính như:
diện tích đất đang sử dụng, số lao động trong gia đình, giá trị của tài sản cố định
ngoài đất đai, có điều kiện tiếp cận thuỷ lợi dễ dàng và áp dụng giống lúa mới.
Tất cả các yếu tố trên đóng góp vào gia tăng năng suất đất đai và thu nhập của
nông hộ. Sự gia tăng năng suất nông nghiệp có thể gián tiếp ảnh hưởng lên lĩnh
vực phi nông nghiệp bằng sự gia tăng thặng dư tương từ lúa gạo và như vậy tạo
ra cơ hội việc làm trong lĩnh vực chế biến ở nông thôn, thương mại và các hoạt
động vận chuyển. Từ đó, có thể đóng góp trực tiếp làm thu nhập nông nghiệp
lớn hơn. Sự phát triển tài nguyên nhân lực tuỳ thuộc trình độ của chủ hộ, có thể
góp phần làm tăng năng suất lao động các hoạt động phi nông nghiệp, từ đó thu
nhập nông hộ gia tăng. Giáo dục cũng tạo cơ hội nghề nghiệp cho thành phần
lao động gia đình thủ công, năng suất thấp (chủ yếu trong lĩnh vực nông nghiệp
và các hoạt động xây dựng) chuyển sang các hoạt động ngoài nông nghiệp như:

Số hóa bởi trung tâm học liệu

Trích đoạn Một số nghiên cứu về sinh kế Phân tích thời gian giành cho các hoạt động sinh kế của người dân địa Một số thông tin chung về nông hộ tại địa bàn nghiên cứu Các vật nuôi chính của nông hộ tại địa bàn nghiên cứu Cơ cấu thu nhập từ trồng trọt và chăn nuôi
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status