MỤC LỤC
MỤC LỤC ...........................................................................................................1
CHƢƠNG I. ĐẶT VẤN ĐỀ................................................................................3
CHƢƠNG II. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU………...…….….......5
2.1. Trên thế giới……...………………………………..............……….............5
2.1.1. Khái niệm quan điểm về LNXH………………………………………...5
2.1.2. Quá trình phát triển LNXH ở một số nƣớc Châu Á…..........................8
2.1.2.1. Ấn độ……………………………………………………………………8
2.2. Ở Việt Nam……………………………………………………........………9
CHƢƠNG III . ĐỐI TƢỢNG, ĐỊA ĐIỂM,MỤC TIÊU, NỘI DUNG
VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU……………....………………...…......12
3.1. Đối tƣợng nghiên cứu…...……………………………………….....….....12
3.2. Địa điểm nghiên cứu………………………...……………........................12
3.3. Mục tiêu nghiêu cứu………………...……………………........................12
3.4. Nội dung nghiên cứu……...……………………………….......................12
3.5. phƣơng pháp nghiên cứu………...…………………........................……12
3.5.1. Phƣơng pháp ngoại nhiệp……………………………………………...12
3.5.2. Phƣơng pháp nội nghiệp……………………………………………….13
CHƢƠNG IV . ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ XÃ HỘI KHU VỰC
NGHIÊNCỨU…………………………………………………………………14
4.1. Điều kiện tự nhiên khu vực ngiên cứu......................................................14
4.1.1.Vị trí địa lí……….........................………………………………………14
4.1.2. Địa hình……...................……………………………………………….14
4.1.3. Khí hậu thời tiết.......................................................................................14
4.1.4. thủy văn………....…………...………………………………………….15
4.1.5. Tài nguyên thiên nhiên…………....……..…………………………….15
4.2. Tình hình dân sinh kinh tế xã hội……...……......………………………16
4.2.1. trồng trọt……...……………………………………...…………………16
4.2.2. Chăn nuôi…........……………………………………………………….17
4.2.3. Lâm nghiệp…..………………………………………………………….17
4.2.4. Cơ sở hạ tầng……....……………………………………………….......17
Đặc biệt là sự quan tâm giúp đớ tân tình của Thầy Giáo Th.S Nguyễn Văn
Chuyên cùng thầy cô trong bộ môn với quá trình nghiên cứu của tôi đến nay báo
cáo chuyên đề tốt nghiệp đã được hoàn thành.
Do thực tập thời gian có hạn, lần đầu tiên làm quen với công tác nghiên cứu,
kinh nghiệm bản thân còn nhiều hạn chế nên báo cáo chuyên đề tốt nghiệp của
tôi không thể tránh khỏi những sai sót. Kính mong đươc sự đồng góp ý kiến của
các thầy cô giáo để báo cáo chuyên đế tốt nghiệp của tôi được hoàn thiện hơn.
Tôi xin trân thành cảm ơn!
Sơn la, ngày 28 tháng 04 năm 2013
Sinh viên thực tập
ĐINH HỒNG QUÂN
2
CHƢƠNG I
ĐẶT VẤN ĐỀ
Ở nước ta tỉ lệ đất dốc chiếm 2/3 diền tích của cả nước, diện tích canh tác bị
thu hẹp lại với sự suy giảm độ phì do sử dụng đất thiếu tính toán, hàng năm đất
sói mòn cuốn chôi hàng triệu m3 đất mầu mỡ gây ra ảnh hưởng không nhỏ đến
sản xuất nông lâm nghiệp. Không những thế mà còn gây ra hàng loạt những ảnh
hưởng khác: ngồn nước, không khí ô nhiễm, đa dạng xinh học, kinh tế không ổn
định, khoảng cách giữa người giàu và người nghèo ngày một lớn, số người
không có công ăn việc làm ngày càng gia tăng.
Để đảm bảo ổn định lương thực trước mắt như nâu dài, buộc con người áp
dụng kỹ thuật và cả hai mặt đó là kinh tế, xã hội và môi trường xinh thái. Chính
vì lẽ đó phải có phiện pháp quy hoạch sử dụng đất hơp lý, có hiệu quả đã trở
thành nhiêm vụ cấp bách. Các phương pháp cach tác, có mô hình hợp lý đang
được hình thành và hoàn thiện dần như một yêu cầu khách quan vì sự phát triển
CHƢƠNG II.
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1. Trên thế giới.
2.1.1. Khái niệm, quan điểm về LNXH
Hiện nay, trong các tài liệu đã công bố có khá nhiều về định nghĩa LNXH.
Tất cả các tác giả bàn về LNXH có thể đi sâu vào các khía cạnh này hay khía
cạch khác của vấn đề một cách khác nhau nhưng nhìn chung điều nhất chí ở một
điểm là các hoạt động LNXH phải vì một cách cộng đồng và có sự tham gia tích
cực của người dân địa phương (Trần Văn Con, 2000). Griffin (1988) đã nhận xét
những định nghĩa về khái niệm LNXH hay lâm nghiệp cộng đồng thường hay bị
lẫn lộn và những gì xẩy ra trong thực tiễn chưa thật sự rõ ràng. Năm 1992 rao đã
đưa ra các câu hỏi có căn cứ như : “Tại sao lại gọi là LNXH?”; “ Tại sao không
thỏa mãn khi gọi là lâm nghiệp?”. Thậm trí westoby (1989) còn cho rằng không
nên chỉ chỉ giới hạn LNXH như là một lĩnh vực đặc biệt của lâm nghiệp mà tất
cả những gì thuộc về lâm nghiệp phải có tính xã hội.
Trên thế giới, mô hình SDĐ đầu tiên là du cach, một kiểu SDĐ nông
nghiệp trong đó đất được phát quang để cach tác trong một thời gian ngắn hơn
thời gian bỏ hóa (conkli, 1957). Đây được xem là một phương thức cach tác cổ
xưa nhất, nó ra đời vào cuối thời kỳ đồ đá mới, khi con người tích lũy được kiến
thức ban đầu về tự nhiên. Loài người có vượt qua được thời kỳ nay băng những
cuộc cách mạng về kỹ thật và trồng trọt. Cho mãi đến gần đây du cach vẫn được
vận dụng trên các rừng Vân Sam ở Bắc Âu (cox và atlinss, 1979; ruddle và
manshrd, 1981). Mặc dù có nhiều mặt hạn chế về mặt môi trường, song phương
thức nay vẫn được sử dụng khá phổ biến ở vùng nhiệt đới. Tuy nhiên về chiến
lược phát triển khinh tế bền vững, du cach không được nhiều chính phủ và cơ
quan quốc tế coi trọng bởi du cach được coi là sự lãng phí về sức người, tài
nguyên đất đai, là nguyên nhân gây lên sói mò và thái hóa đất, dẫn đến tình
trạng sa mạc hóa xẩy ra nghiêm trọng. Thật vậy, phá rừng để SDĐ làm nương
dẫy trong một giai đoạn rồi di chuyển sang một khu rừng khác có thể là lãng phí
nếu ta nhận thức được rừng chỉ có giá chị duy nhất là từ gỗ (Grinnell, 1977;
- Tiếp cận “ Chuẩn đoán và thiết kế “ của ICRAF (Rainee).
- Công trình nông nghiệp quốc tế - bản phân tích theo từng khu vực các hệ
thồng cach tác của trường Đại Học Corenl (Garrell và cộng sự 1987).
Nhìn chung cách tiếp cận này đều xem đánh giá nông nghiệp như một quá
trình liên tục và cơ sở khoa học của các phương pháp tiếp cận này là cũng tham
gia và lấy người dân làm chủ. Thiết kế các biện pháp trồng cây nông nghiệp, lâm
nghiệp cải tạo đồng cỏ chăn nuôi.
6
Về nghiên cứu của hệ thống canh tác, FAO (1990) xuất bản cuốn “ phát
triển hệ thống cach tác”. Công trình đó nêu lên một số phương pháp tiếp cận
nông thôn trước đậy là phương pháp tiếp cận một chiều từ trên xuống, đó không
phát huy tiềm năng nông trại và cộng đồng nông thôn.
Thông qua nghiên cứu và thực tiễn ấn phẩm đó nêu lên phương hướng tiếp
cận mới trong SDĐ – phương pháp tiếp có sự tham gia trong hệ thống SDĐ trên
cơ sở bền vững tài nguyên thiên nhiên. Về mặt phương pháp luận mà nói thì đây
là phương pháp nhằm thu hút người dân vào lĩnh vực quản lý SDĐ hợp lý lâu
bền.
Năm 1967 và 1969, FAO có quan tâm đến phát triển LNXH và đi đến một
sự thống nhất đúng đắn “ Áp dụng phiện pháp LNXH là phương thức tốt nhất để
SDĐ rừng nhiệt đới một cách hợp lý, tổng hợp nhằm giải quyết vấn đề lương
thực, thực phẩm và vấn đề lao động dư thừa đồng thời thiết lập cân bằng môi
trường sinh thái ’’.
Tháng 5\1990 hội thảo quốc tế về LNXH họp ở Châu Á Thái Bình Dương
gồm 12 nước thành viên tham gia trong đó có Việt Nam được tổ trức tại Băng
Cốc
- Thái Lan. Hội nghị đã đưa ra một số nguyên nhân đó là vùng Châu Á
Thái Bình Dương do có dân số chiếm 69% dân số thế giới, trong khi chỉ có 28%
nghiệp, 60% dành cho cây lâm nghiệp, mô hình này phải đòi hỏi đầu tư cao cả
về nguồn lực và vốn liếng cũng như sự hiểu biết
2.1.2. Quá trình phát triển LNXH Ở một số nƣớc Châu Á
2.1.2.1. Ấn Độ.
+ các giai đoạn phát triển của cây lâm nghiệp
Giai đoạn trước năm 1947.
Người Anh phân chi đất làng bản và đất lâm nghiệp. Đất làng bản là loại
đất gần khu dân cư, ở đó người dân có thể chăn thảm, thu hái các sản phẩm từ
rừng. Đất lâm nghiệp thuộc quyền quản lý của chính phủ để khai thác những
nguồn nguyên liệu cho công nghiệp,… Người dân được quyền thu hái các sản
phẩm phụ từ rừng. Do cơ chế quản lý không do ràng , đất làng bản nhanh chóng
bị thái hóa, các nhu cầu cơ bản của nông dân không được đáp ứng , từ đó dẫn đế
sự xâm phạm và tàn phá rừng .
Giai đoạn từ năm 1948 đến 1968.
Chính phủ tiếp tục quản lý và khai thác rừng trên đất lâm nghiệp . Tuy nhiên do
các nhu cầu cơ bản của người dân nhất là chất đốt không được thỏa mãn nên
rừng trên đất lâm nghiệp của nhà nước tiếp tục bị người dân chặt phá . Người ta
nhận thấy nếu nhu cầu cơ bản của người dân không được đáp ứng thì việc bảo
vệ rừng trên đất lâm nghiệp là không thể thực hiện được.
8
Giai đoạn từ năm 1968 đến 1988.
Nhằm giảm sức ép của tàn phá rừng , một chương trình LNXH đã được nhà
nước thực hiện trên đất làng bản và đất tự nhiên . Mục tiêu là sự giúp đỡ của
chính phủ , chương trình trồng rừng nguyên liệu có thể đáp ứng nhu cầu của
người dân . Tuy nhiên, đến cuối thập kỷ 80 , phần lớn các chương trình LNXH
đều ít thành công vì phát triển không bền vững .
2.2. Ở Việt Nam.
Cóc (1971), Nguyễn Trọng Bình (1987), Bùi Quang Toản (1991). Những mô
hình cơ cấu cây trồng chính được nghiên cứu như mô hình nương dẫy cải tiến,
mô hình cây công nghiệp, cây ăn quả, cây đặc sản, NLKH, mô hình tổng hợp
SDĐ theo quan điểm hệ thống, quan điểm phát triển nông nghiệp bền vững.
Về phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu trong quản lý SDĐ bền
vững được Nguyễn Tử Siêm và Thái Phiên đề xuất trong tài liệu “ Đất đồi Việt
Nam thoái hoá và phục hồi”, các tác giả đó nêu lên tính bền vững trong SDĐ đồi
núi gồm 3 phương diện: sự bền vững kinh tế, bền vững môi trường và sự chấp
nhận của xã hội trong đó 5 thuộc tính cần xem xét là tính sản xuất hiệu quả, tính
an toàn, tính bảo vệ, tính nâu bền và tính chấp nhận. Đồng thời tác giả đó đưa ra
các biền pháp tổng hợp sử dụng đất hiệu quả vùng đồi núi trên cơ sở sinh thái
bền vững gồm các nhóm biện pháp chính bảo vệ đất như: Nhóm biện pháp công
trình, nhóm biện pháp sinh học, nhóm biện pháp cach tác. Tác giả tổng kết đưa
ra hệ thống canh tác bên vững, hệ thống cây trồng SDĐ có hiệu quả, một số mô
hình NLKH hợp điển hình ở các tỉnh Lạng Sơn, Yên Bái, Hà Giang. Đồng thời
tác giả giới thiệu một số giống cây trồng mới và cây bản địa thích hợp cho vùng
đồi núi như: các giống lúa,ngô, khoai tây,đỗ tương, lạc, cây ăn quả.
NLKH được coi là biện pháp kỹ thuật trong SDĐ, là phương thức bao
gồm hệ thống cây trồng phong phú cả về chủng loại phối trí và hiêu quả. Theo
Lê Duy Thước, NLKH là phương thức sử dụng hợp lý đất đai theo một hệ thống
canh tác cho cây trồng nông nghiệp (cây dài ngày cho nông sản, hàng năm cho
lương thực thực phẩm) xen với cây lâm nghiệp cho gỗ củi và cây làm thức ăn
cho gia súc để phát triển chăn nuôi trên một mảnh đất.
Ở nước ta những nghiên cứu về phát triển hệ thống NLKH đó trở thành
một nội dung quan trọng trong sản xuất nông lâm nghiệp trên đất dốc. năm
1997, Hoàng Hòe, Nguyễn Đình Hưởng, Nguyễn Ngọc Bình tổng kết mô hình
NLKH ở Việt Nam. Công trình đó được đánh giá hiệu quả và khả năng đánh giá
trong điều kiện cụ thể của mỗi vùng.
10
CHƢƠNG III.
ĐỐI TƢỢNG, ĐỊA ĐIỂM, MỤC TIÊU, NỘI DUNG
VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. Đối tƣợng nghiên cứu.
Đưa ra 2 mô hình sử dụng đất vùng đồi núi điển hình để nghiên cứu đánh giá
3.2. Địa điểm nghiên cứu
Xã Huy Thượng – Phù Yên – Sơn La.
3.3. Mục tiêu nghiên cứu.
Khảo sát các mô hình sử dụng đất vùng đồi núi tại xã để đánh giá hiệu quả
của nó. Từ đó tìm hiểu được các hệ thống sử dụng đất vùng đồi núi đang được
sử dụng tại xã, để phân biệt chọn lọc tìm ra một số mô hình hiệu quả để mô tả
đánh giá nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất tại phương góp phần sử dụng đất
hợp lý cho địa phương.
3.4. Nội dung nghiên cứu.
- Thống kê các kiểu sử dụng đất và mô hình sử dụng đất vùng đồi núi.
- lựa chọn hai mô hình sử dụng đất phổ biến nhất hoặc đang được ưa
chuộng nhất tại địa phương để đánh giá.
- Đề xuất mô hình sử dụng đất có hiệu quả cho địa phương.
3.5. Phƣơng pháp nghiên cứu.
3.5.1. Phƣơng pháp ngoại nghiệp.
-Sử dụng phương pháp kế thừa số liệu có trên địa bàn điều tra.
- Khi nghiên cứu mô hình sử dụng đất vùng đồi núi, chúng tôi đã chú trọng
phát huy vai trò của người dân địa phương. Trong đề tài này, những phương
pháp chủ đạo được chi phối chủ yếu ở hai phương pháp chính trong nghiên cứu
nông thôn, đó là hai phương pháp: Đánh giá nhanh nông thôn (Rapid Ruraisal –
RRA) và đánh giá nông thôn có sự tham gia của người dân (Participartory Rural
Apraisal – PRA). Bên cạch đó, chúng tôi cũng tăng cường quan sát, kết hợp
phỏng vất trên đối tượng cụ thể.
*BCR =
Bt
(1 r )
t 0
n
=
Ct
(1 r )
t 0
t
BPV
CPV
t
BCR: là tỷ xuất giữa thu nhập và chi phí (đồng /đồng)
BPV; giá trị hiện tại của thu nhập (đồng)
CPV: giá trị hiện tại của chi phí (đồng)
Dùng BCR để đánh giá mước độ đầu tư cho các mô hình sử dụng đất. Mô
hình sử dụng đất nào có BCR > 1 thì có hiệu quả kinh tế. BCR càng lớn thì hiệu
quả kinh tế càng cao và ngược lại.
Bt Ct
(1 r ) = 0 thì r = IRR
4.1.1. Vị trí địa lý.
Huy Thượng là một xã miền núi thuộc tiểu vùng 2 của huyện, cách trung
tâm huyện khoảng 5km về hướng đông với tổng diện tích tự nhiên 1.529,0 ha.
- Phía Bắc giáp xã Mường Thải.
- Phía Nam giáp xã Huy Tân
- Phía Đông giáp xã Mường Cơi
- Phía Tây giáp xã Quang Huy
Trên địa bàn xã có quốc lộ 37 khoảng 5km chạy qua nên thuận lợi cho việc
lưu thông và phát triển kinh tế xã hội, có suối tắc, suối hồng, suối ban, suối Thái
chảy qua là nguồn tưới tiêu cho sản xuất và sinh hoạt của nhân dân.
4.1.2. Địa hình.
Đia hình của xã Huy Thượng là một xã vùng long chảo được bao quanh bởi
các dẫy núi cao. Đây là xã có địa hình tương đối bằng so với các xã khác trong
huyện, độ cao trung bình khoảng 300m so với mặt nước biển. Địa hình của xã
được chia làm 3 vùng rõ dệt:
Vùng thấp (vùng bằng phẳng) có địa hình bằng phẳng chủ yếu là đất phù xa
thuận lợi cho việc phát triển nông nghiệp đặc biệt là thâm canh lúa nước.
Vùng giữa thuận lợi cho việc trồng ngô,khoai, sắn,bông, lạc, đậu đỗ…
Vùng cao ( vùng đồi núi) vùng này chủ yếu là đất trống đồi núi chọc,
nương dẫy, rừng thuận lơi cho việc phát triển lâm nghiệp trồng rừng, khoanh
nuôi tái sinh bảo vệ rừng, làm vườn đồi trang trại.
4.1.3.khí hậu thời tiết.
Xã Huy thượng nằm ở vùng khì hậu nhệt đới gió mùa,nóng ẩm, mưa nhiều
và được chia làm hai mùa do rệt:
Mùa đông (mùa khô) thường ít mưa và được bắt đầu tư tháng 10 năm trước
đến tháng 3 năm sau, mùa này hay có gió mùa đông bắc, thời tiết lạnh và khô,
thường xuất hiện sương muối.
14
nên hạn chế đáng kể tới khả năng khai thác sử dụng vào sản xuất và đời sống .
15
- Nguồn nước ngầm: Qua đánh giá sơ bộ của một số hộ gia đình hiện đang
khai thác sử dụng thông qua hình thức giếng khơi (giếng đào) cho thấy trữ lượng
nước ngầm của xã tương đối lớn và có chất lượng tốt. Nguồn nước sinh hoạt chủ
yếu dựa vào nguồn nước giếng, mó nguồn. Mực nước ngầm phụ thuộc vào nước
mưa hàng năm. Mùa mưa có mực nước ngầm cao hơn, mùa khô thường bị cạn,
gây nhiều khó khăn cho sinh hoạt. Vì vậy việc khai thác nước ngầm ở xã còn
hạn chế.
* Tài nguyên rừng.
Diện tích đất rừng của xã là 345,02 ha. Trong đó : Đất trồng rừng sản xuất
là 19 ha (chiếm 5,51%diện tích đất lâm nghiệp) và đất rừng phòng hộ 326,02 ha
(chiếm 94,49% tổng diện tích đất lâm nghiệp ) bao gồm đất có rừng tự nhiên
phòng hộ 184,8 ha; đất có rừng trồng phòng hộ là 53,52 ha, đất khoanh nuôi
phục hồi rừng phòng hộ 87,7 ha. Rừng chủ yếu tập chung ở những khu vực xa
đường giao thông, xa khu dân cư nên ở những nơi có điều kiện khai thác vẫn
còn hiện tượng lén lút chặt phá rừng hoặc đốt nương làm dẫy làm ảnh hưởng tới
môi trường sinh thái.
4.2. Tình hình dân sinh kinh tế - xã hội
4.2.1. Trồng trọt.
Những năm gần đây xã đã tập trung thâm canh diện tích cây lương thực, mở
rộng diện tích lúa nước, đẩy mạnh sản xuất vụ 3. Năng xuất lúa nước bình quân
đạt 65 tạ/ha. Sản lượng lương thực tăng liên tục từ 1.581 tấn năm 2000 lên 1.771
tấn năm 2005 tăng 5% năm.
Đối với các loại cây có bột như sắn, khoai lang, dong riềng,… diện tích đất
trồng tương đối ổn định. Năm 2000 trồng được 65 ha đến năm 2005 đạt 71 ha,
tăng 6 ha so với năm 2000.
đã xuống cấp, tuyến đường liên bản dài 19,5km bê tông hóa được 4,87km còn
lài vẫn là đường đất có đường ô tô vào tân trung tâm xã nhưng chất lượng đường
còn kém vẫn chủ yếu là đường đất. Ngoài ra còn có các tuyến đường hẻm, giao
thông nội đồng.
Nhìn chung hệ thống giao thông đường bộ của xã còn hạn chế, phần lớn các
tuyến đường còn nhỏ hẹp,chất lượng đang dần xuống cấp, đi lại, vận chuyển,
giao lưu hàng hóa ,… gặp rất nhiều khó khăn,đặc biệt vào mùa mưa.
17
+ Thủy lợi
Trên địa bàn xã có tổng diện tích 9,5 ha đất thủy lợi, bao gồm các hệ thống
các kênh mương, phai đập phục vụ nhu cầu thoát nước và dẫn nước vào đồng
ruộng. Hệ thống các công trình thủy lợi này đang được đầu tư xây dựng cứng
hoá kênh mương nội đồng, đảm bảo nhu cầu cấp thoát nước cho bà con nông
dân.
+ Giáo duc
Hệ thống cơ sở hạ tầng phục vụ cho công tác giáo dục đào tạo đang dần
được đầu tư xây dựng kiên cố. Với 4 cấp học : Cấp mâm non có 18 phòng học
(trong đó có 2 nhà được xây dựng nhà cấp 4, còn lại là phòng học tạm ) với tổng
số là 360 cháu, Cấp tiểu học có 23 phòng ( có 6 phòng nhà xây 2 tầng ) với tổng
số 495 học xinh , cấp học THCS có 20 phòng học ( có 7 phòng nhà xây 2 tầng)
với tổng số 710 học sinh.
18
CHƢƠNG V.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
19
Nương là những dãy cũ ở sườn núi được dữ lại tiếp tục làm nương rẫy
nhưng có chúa các băng cây cỏ tự nhiên hoặc được trồng thêm những cây có khả
năng giữ nước và kết hợp làm đường đi, ranh giới. Khác với trước khi dung
những giống cây trồng địa phương cho năng xuất thấp nay đã được thay bằng
những cây trồng mới có năng xuất cao gấp 2 – 3 lần.
Ruộng bậc thang được thiết lập ở các mái sườn dốc kể cả ở nơi dốc mạnh,
miễn là có nguồn nước, có những đám chỉ rộng 50 – 100 (m) cũng được tận
dụng chi thành 5 – 7 bậc, mỗi bậc chỉ rộng vài ba bước chân và cao chỉ tầm đầu
người. đây là kinh nghiệm truyền thống của người dân bản địa cần được ấp dung
và nhân rộng.
Vườn nhà đặt gần các nương bậc thang hoặc chỗ thấp nhất để kết hợp tận
dụng nguồn nước và có bờ dào kín bằng bằng cành khô hoặc trồng bằng thân
cành các cây rễ sống để ngăn chặn trâu, bò, lợn, gà phá hoại.Cây tạp trong vườn
thay bằng những cây mân, mơ, trẩu, rau đậu có kinh tế cao.
5.1.2. Mô hình: Vƣờn Rừng.
Vườn rừng là một mô hình sử dụng vườn để trồng cây nông nghiệp có áp
dụng các biện pháp để thâm canh theo kiểu làm vườn để sản xuất một loại sản
phẩm truyền thống có giá trị hàng hóa cao. Diện tích phần lớn từ 0,3 – 0,5 ha ít
nhất từ 0,2 – 0,3 ha, nhiều nhất từ 0,8 – 1 ha cho một hộ thường gọi là đất thổ cư
mỗi gia đình. Cũng như mỗi phương thức khác, ở đây cũng thường dành ra
khoảng 0,02 – 0,03 ha để làm nhà, làm sân và trồng một số loại cây ăn quả, gia
vì thiết dung thức ăn cho bữa ăn hàng ngày trong gia đình. Còn phần lớn được
sử dung để trồng cây nông nghiệp có giá trị sản xuất hàng hóa.
Vườn rừng thường có kết cấu một tầng cây chính được trồng gần như thuần
loài. Ngoài ra còn có tầng cây thấp được trồng xen dưới tán hay tầng cây thảm
tươi tự nhiên được duy trì bảo vệ giữ lại.
* Kết cấu vườn gồm hai nhóm chính:
- Nhóm cây kinh tế ( cà phê, mía, chè,…)
- Nhóm cây sinh thái ( keo tai tượng, muồng đen...)
5.2. Lựa chọn hai mô hình sử dụng đất phổ biến nhất và đang đƣợc ƣa
chuộng Nhất tại địa phƣơng để đánh giá.
- Các chỉ tiêu lựa chọn hai mô hình.
+ Mô hình sử dụng dất của hộ gia đình phổ biến tại địa phương: loại cây
trồng, vật nuôi, cách bố chí cây trồng vật nuôi.
+ Là mô hình được ưa chuộng tạ địa phương.
+ Diện tích mô hình đủ lớn.
- Từ các chỉ tiêu trên chuyên đề lựa chọn 2 hộ sau:
21
* Mô hình hệ thống 1.
Đất lâm nghiệp: Trồng keo tai tượng và cây chè ( cây công nghiệp)
Đất vườn nhà: Trồng vải và nuôi lợn
Đất ruộng: nuôi cá, trồng lúa 1 vụ, một vụ hoa màu.
* Mô hình hệ thống 2.
Đất nông nghiệp:Trồng xen cây chè +cây keo tai tượng + cây sắn + cây ngô.
Đất ruộng: Làm ao thả cá + trồng lúa một vụ.
Đất vườn: Nuôi ong + trồng các loại cây ăn quả.
5.2.1. Mô hình hệ thống 1 bắt đầu từ năm 2003
a. Thông tin chung.
Tên mô hình : rừng vườn ao chuồng ruộng.
Diện tích mô hình : 5,658 ha.
Tên nông dân : Đinh Văn Thường .
Tuổi : 50.
Địa phương : Bản Tân Ban – Huy Thượng – phù yên – Sơn la
b. lịch sử về ý tƣởng thiết lập mô hình.
Cây chè
keo tai tượng
530m2
10000m2
40000m2
6480m2
Sơ đồ mặt cắt của hệ thống 1
* Mô tả cây dài ngày :
Loại cây: keo tai tƣợng
Loại cây: cây chè
- Mật độ ban đầu trồng lớn 5000 - mật độ là (hàng cách hàng từ 0,6m
cây/ha (cây cách cây là 1m, hàng đến 1m,cây cách cây là 0,3m). sau hai
cách hàng là 2m).Trong hai năm năm thì trồng xen cây keo tai tượng cứ
đầu rừng còn non chưa kép tán thì 4 đến 5 hàng chè thì trồng 1 hàng keo
trồng cây hoa màu như sắn, ngô xen tai tượng. 1ha chè có tới 50 đến 60 cây
vào, sau hai năm sau rừng khép tán keo tai tượng to.
thì không trồng xen nữa, lúc này thì
tiến hành tỉa thưa còn 2500 cây/ha
trong hàng cách cây chặt bỏ một
cây, bỏ những cây sinh trưởng kém.
23
- Ao Cá: Với diện tích khá lớn 2160m2 ban đầu gia đình đầu tư phát triển để
nuôi tôm, cá và để chứa tưới nước cho vườn vải. Do năm ngoài thời tiết rét đậm,
rét hại đã ảnh hưởng xấu làm tôm, cá chết và do không có kinh nghiệm nuôi tôm
nên gia đình không thu được hiệu quả mà vườn vải thì tính chặt bỏ.
Do đó ao cá gia đình không đầu tư phát triển, gia đình chỉ thả một số loại cá
có biên độ thức ăn rộng như : Cá trắm, chép, trôi, rô phi nhằm tận dụng chiệt để
nguồn thức ăn dư thừa từ sản xuất nông lâm nghiệp, số lượng cá thu được hàng
năm dung để cải thiện bữa ăn cho gia đình và cho hàng xóm.
* Mô tả tác động qua lại tƣơng hộ giữa các thành phần trong gia đình.
- Tác động của cây dài ngày đến cây ngắn ngày, vật nuôi:
+ Keo trồng xen vào chè nếu ăn mất chất dinh dưỡng của chè thì mình đốn
tỉa , keo hút nước thừa chánh ngập úng cho cây chè khỏi bị chết, vào tháng 5
tháng 6 keo có tác dụng chống nắng giải quyết bống mát. Ngoài ra keo còn tăng
thêm thu nhập trên một đơn vị diện tích.
25