ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
o0o
VÌ THỊ NGHIÊN
NGHIÊN CỨU HOẠT ĐỘNG SINH KẾ VÀ THU NHẬP CỦA NGƯỜI DÂN
TẠI XÃ NÚA NGAM – HUYỆN ĐIỆN BIÊN – TỈNH ĐIỆN BIÊN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên ngành : Khuyến nông
Lớp : K43 - KN
Khoa : KT & PTNT
Khoá học : 2011 – 2015
Giảng viên hướng dẫn : ThS. Trần Thị Ngọc
Thái Nguyên - 2015
i
LỜI CAM ĐOAN
Đề tài tốt nghiệp: “Nghiên cứu hoạt động sinh kế và thu nhập của
người dân tại xã Núa Ngam – huyện Điện Biên – tỉnh Điện Biên” là công
trình nghiên cứu của bản thân tôi, đề tài đã sử dụng thông tin từ nhiều nguồn
khác nhau, các thông tin có sẵn đã được trích rõ nguồn gốc.
Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu đã đưa trong đề tài
này là trung thực và chưa được sử dụng trong bất cứ một công trình nghiên
cứu khoa học nào khác. Các số liệu trích dẫn trong đề tài đều đã được ghi rõ
nguồn gốc.
Thái Nguyên, tháng 05 năm 2015
XÁC NHẬN CỦA GVHD Người viết cam đoan
ThS. Trần Thị Ngọc Vì Thị Nghiên
XÁC NHẬN CỦA GV CHẤM PHẢN BIỆN
(ký, họ và tên)
ii
LỜI CẢM ƠN
Bảng 4.6. Thông tin các hộ điều tra theo thôn và nhóm hộ 42
Bảng 4.7. Diện tích đất canh tác theo thôn và nhóm hộ 43
Bảng 4.8. Diện tích đất rừng theo thôn và nhóm hộ 44
Bảng 4.9. Diện tích đất thuê mướn trong 12 tháng theo thôn và nhóm hộ 45
Bảng 4.10. Diện tích cây trồng chính qua các năm 46
Bảng 4.11. Diện tích lúa bình quân theo thôn và nhóm hộ 48
Bảng 4.12. Diện tích ngô bình quân theo thôn và nhóm hộ 49
Bảng 4.13. Diện tích sắn bình quân theo thôn và nhóm hộ 50
Bảng 4.14. Tình hình sử dụng lúa làm thức ăn và cho chăn nuôi 51
Bảng 4.15. Tình hình sử dụng cây ngô làm thức ăn và cho chăn nuôi 53
Bảng 4.16. Số đầu vật nuôi tại các thôn tiến hành nghiên cứu 54
Bảng 4.17. Thu nhập bình quân từ nông nghiệp theo thôn và nhóm hộ 56
Bảng 4.18. Bình quân thu nhập từ trồng trọt 58
Bảng 4.19. Bình quân thu nhập từ chăn nuôi 59
iv
DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang
Hình 2.1: Phân tích khung sinh kế của nông dân 12
Hình 2.2: Tài sản của người dân 14
v
DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT TRONG KHÓA LUẬN
STT
Chữ viết tắt
Nghĩa
1
BQ
Bình quân
2
CBKN
Cán bộ khuyến nông
1.2.1. Mục tiêu tổng quát: 2
1.2.2. Mục tiêu cụ thể…………………………………………………………… 2
1.3. Ý nghĩa của đề tài 3
1.3.1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu 3
1.3.2. Ý nghĩa thực tiễn 3
PHẦN 2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 4
2.1. Cơ sở lý luận của đề tài 4
2.1.1. Khái niệm hộ 4
2.1.2. Hộ nông dân 5
2.1.3. Kinh tế hộ nông dân 7
2.1.4. Phân loại hộ nông dân 8
2.1.5. Khái niệm sinh kế nông hộ và những yếu tố ảnh hưởng tới sinh kế nông hộ 10
2.2. Cơ sở thực tiễn của đề tài 17
2.2.1. Các quan điểm về sinh kế 17
2.2.2. Một số nghiên cứu về sinh kế 18
PHẦN 3. ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 21
3.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 21
3.1.1. Đối tượng nghiên cứu 21
3.1.2. Phạm vi nghiên cứu 21
3.2. Địa điểm và thời gian nghiên cứu 21
3.2.1. Địa điểm nghiên cứu 21
3.2.2. Thời gian nghiên cứu 21
3.4. Nội dung nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu 21
vii
3.4.1. Nội dung nghiên cứu 21
3.4.2. Phương pháp nghiên cứu 22
PHẦN 4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 25
4.1. Điều kiện tự nhiên - kinh tế - xã hội xã Núa Ngam 25
4.1.1. Điều kiện tự nhiên 25
4.1.2. Điều kiện kinh tế - xã hội 31
mối quan tâm đặt lên hàng đầu trong phát triển kinh tế hộ nông dân. Bởi nó là
điều kiện cần thiết cho quá trình phát triển, nâng cao đời sống của con người.
Việc lựa chọn phương thức mưu sinh đối với các hộ nông dân khu vực
đồng bằng đã khó, đối với người nông dân ở khu vực miền núi càng khó khăn
hơn. Do đó, vấn đề đảm bảo nguồn sinh kế lâu dài cho hộ nông dân miền núi
luôn được Đảng và Nhà nước hết sức quan tâm. Đây là việc làm gắn liền với
mục tiêu xoá đói giảm nghèo, phát triển kinh tế - xã hội của các vùng dân tộc
thiểu số trên đất nước ta. Chỉ có trên cơ sở đó mới khắc phục được tính tự
cấp, tự túc, thúc đẩy trao đổi hàng hóa và phân công lao động xã hội, hình
thành, mở rộng và hoàn thiện các loại thị trường, nâng cao mức sống, mức thu
nhập cũng như chất lượng sống của dân cư nông thôn ở miền núi.
Núa Ngam là xã vùng ngoài của huyện Điện Biên, cách trung tâm
huyện lỵ Pú Tửu khoảng 20km, là địa bàn sinh sống của hơn 3 nghìn người
dân, với 5 thành phần dân tộc trong đó chủ yếu là đồng bào các dân tộc thiểu
số. Trong những năm đổi mới vừa qua, sự cải thiện điều kiện kinh tế - xã hội
đã thúc đẩy kinh tế của người nông dân ở xã Núa Ngam có những bước tiến
2
mới. Tuy nhiên, các hộ nông dân tại xã Núa Ngam hiện nay vẫn gặp rất nhiều
khó khăn cản trở trong quá trình phát triển như tập quán sản xuất lạc hậu,
thiếu vốn, giao thông đi lại khó khăn, hạn chế về trình độ học vấn, nhận thức,
năng lực sản xuất nên luôn luôn luẩn quẩn trong vòng nghèo đói. Do vậy, vấn
đề đặt ra hiện nay để cải thiện và nâng cao chất lượng cuộc sống và giảm
nghèo bền vững cho người dân ở Núa Ngam là phải nâng cao năng lực cho
người dân địa phương trong tiếp cận và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn
sinh kế.
Trước yêu cầu đó, việc nghiên cứu, lý giải một cách đầy đủ có cơ sở lý
luận và thực tiễn vấn đề lựa chọn các hoạt động sinh kế của người dân cũng
như tìm hiểu các nhân tố hỗ trợ và cản trở nông dân tiếp cận các nguồn vốn
sinh kế để đưa ra các giải pháp phù hợp với thực tiễn của địa phương, tạo điều
kiện thuận lợi thúc đẩy các hoạt động sinh kế của người dân phát triển nhanh
- Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể là cơ sở để có những định
hướng, giải pháp phát triển chiến lược cải thiện sinh kế, nhằm góp phần xóa
đói giảm nghèo cho người dân địa phương.
4
PHẦN 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU
2.1. Cơ sở lý luận của đề tài
2.1.1. Khái niệm hộ
Hộ đã có từ lâu đời, cho đến nay nó vẫn tồn tại và phát triển. Trải qua mỗi
thời kỳ kinh tế khác nhau, hộ và kinh tế hộ được biểu hiện dưới nhiều hình thức
khác nhau song vẫn có bản chất chung đó là “Sự hoạt động sản xuất kinh doanh
của các thành viên trong gia đình cố gắng làm sao tạo ra nhiều của cải vật chất để
nuôi sống và tăng thêm tích luỹ cho gia đình và xã hội” [12].
Qua nghiên cứu cho thấy, có nhiều quan niệm của các nhà khoa học về hộ:
- Theo Weberster – từ điển kinh tế năm 1990: Hộ là những người cùng
sống chung dưới một mái nhà, cùng ăn chung và có chung một ngân quỹ [1].
- Theo Martin năm 1988: Hộ là đơn vị cơ bản liên quan đến sản xuất,
tái sản xuất, đến tiêu dùng và các hoạt động khác [1].
- Theo Raul, năm 1989: Hộ là những người có cùng chung huyết tộc,
có quan hệ mật thiết với nhau trong quá trình sáng tạo ra sản phẩm để bảo
tồn chính bản thân mình và cộng đồng [1].
- Theo Megê năm 1989: Hộ là một nhóm người cùng chung huyết tộc
hoặc không cùng chung huyết tộc ở chung trong một mái nhà và ăn chung
một mâm cơm [1].
- Theo các tác giả nhóm nhân chủng học (1982 – 1985): Hộ là đơn vị
đảm bảo quá trình tái sản xuất lao động tiếp theo trong qua quá trình tổ chức
nguồn thu nhập nhằm chi tiêu cho cá nhân và đầu tư vào sản xuất [1].
Như vậy, các cá nhân và các tổ chức khi nhìn nhận và quan niệm về
hộ không giống nhau. Tuy nhiên trong đó cũng có những nét chung để phân
biệt về hộ, đó là:
sự tham gia từng phần vào thị trường với mức độ hoàn hảo không cao” [1].
Ở nước ta, có nhiều tác giả đề cập đến khái niệm hộ nông dân. Theo nhà
khoa học Lê Đình Thắng (năm 1993) cho rằng: “Nông hộ là tế bào kinh tế xã
hội, là hình thức kinh tế cơ sở trong nông nghiệp và nông thôn”. Đào Thế
Tuấn (1997) cho rằng: “Hộ nông dân là những hộ chủ yếu hoạt động nông
nghiệp theo nghĩa rộng, bao gồm cả nghề rừng, nghề cá và hoạt động phi
nông nghiệp ở nông thôn”. Còn theo nhà khoa học Nguyễn Sinh Cúc, trong
phân tích điều tra nông thôn năm 2001 cho rằng: “Hộ nông nghiệp là những
hộ có toàn bộ hoặc 50% số lao động thường xuyên tham gia trực tiếp hoặc
gián tiếp các hoạt động trồng trọt, chăn nuôi, dịch vụ nông nghiệp (làm đất,
thuỷ nông, giống cây trồng, bảo vệ thực vật, ) và thông thường nguồn sống
chính của hộ dựa vào nông nghiệp” [12].
Từ những khái niệm trên đây về hộ nông dân của các tác giả có thể hiểu
như sau:
- Hộ nông dân là những hộ sống ở nông thôn, có ngành nghề sản xuất
chính là nông nghiệp, nguồn thu nhập và sinh sống chủ yếu bằng nghề nông.
Ngoài hoạt động nông nghiệp, hộ nông dân còn tham gia các hoạt động phi
nông nghiệp (như tiểu thủ công nghiệp, thương mại, dịch vụ ) ở các mức độ
khác nhau.
- Hộ nông dân là một đơn vị kinh tế cơ sở, vừa là một đơn vị sản xuất
vừa là một đơn vị tiêu dùng. Như vậy, hộ nông dân không thể là một đơn vị
kinh tế độc lập tuyệt đối và toàn năng, mà còn phải phụ thuộc vào các hệ
thống kinh tế lớn hơn của nền kinh tế quốc dân. Khi trình độ phát triển lên
mức cao của công nghiệp hoá, hiện đại hoá, thị trường, xã hội càng mở rộng
và đi vào chiều sâu, thì các hộ nông dân càng phụ thuộc nhiều hơn vào các hệ
7
thống kinh tế rộng lớn không chỉ trong phạm vi một vùng, một nước. Điều
này càng có ý nghĩa đối với các hộ nông dân nước ta trong tình hình hiện nay.
2.1.3. Kinh tế hộ nông dân
Khái niệm gốc để phân tích kinh tế gia đình là sự cân bằng lao động -
ruộng đất (địa tô) ngày càng tăng.
Năm 1989, Lipton cho rằng trong khoa học xã hội về phát triển nông
thôn hiện nay, phổ biến ba cách tiếp cận, đó là cách tiếp cận macxit phân tích
(Roemer - 1985); tiếp cận cổ điển mới (Krueger, 1974) và tiếp cận hàng hoá
tập thể (Olson, 1982). Ba tiếp cận trên về mặt lý luận, trong thực tiễn đều
thuộc về quan hệ giữa nhà nước và nông dân. Mối quan hệ đó, thường theo
các hướng là tăng thặng dư kinh tế của nông thôn; chuyển thặng dư từ ngành
này sang ngành khác; rút thặng dư và thúc đẩy việc luân chuyển. Nhìn chung
bất cứ một quá trình phát triển nào cũng phải tăng thặng dư, quá trình này cần
sự tác động của Nhà nước.
Tóm lại, có thể thấy kinh tế nông hộ là một hình thức cơ bản và tự chủ
trong nông nghiệp. Nó được hình thành và phát triển một cách khách quan,
lâu dài, dựa trên sự tư hữu các yếu tố sản xuất, là loại hình kinh tế có hiệu
quả, phù hợp với sản xuất nông nghiệp, thích ứng, tồn tại và phát triển trong
mọi chế độ kinh tế xã hội.
2.1.4. Phân loại hộ nông dân
- Căn cứ vào mục tiêu và cơ chế hoạt động gồm có:
+ Hộ nông dân hoàn toàn tự cấp không có phản ứng với thị trường.
Loại hộ này có mục tiêu là tối đa hoá lợi ích, đó là việc sản xuất các sản phẩm
cần thiết để tiêu dùng trong gia đình. Để có đủ sản phẩm, lao động trong nông
9
hộ phải hoạt động cật lực và đó cũng được coi như một lợi ích, để có thể tự
cấp tự túc cho sinh hoạt, sự hoạt động của họ phụ thuộc vào:
- Khả năng mở rộng diện tích đất đai.
- Có thị trường lao động để họ mua nhằm lấy lãi.
- Có thị trường lao động để họ bán sức lao động để có thu nhập.
- Có thị trường sản phẩm để trao đổi nhằm đáp ứng nhu cầu của mình.
+ Hộ nông dân sản xuất hàng hoá chủ yếu: loại hộ này có mục tiêu là
tối đa hoá lợi nhuận được biểu hiện rõ rệt và họ có phản ứng gay gắt với thị
trường vốn, ruộng đất, lao động.
* Khái niệm sinh kế:
Tập hợp tất cả các nguồn lực và khả năng mà con người có được, kết
hợp với những quyết định và hoạt động mà họ thực thi nhằm để kiếm sống
cũng như để đạt được các mục tiêu và ước nguyện của họ.
Các nguồn lực mà con người có được bao gồm: (1) Vốn con người; (2)
Vốn tự nhiên; (3) Vốn tài chính; (4) Vốn xã hội; (5) Vốn vật chất.
Sinh kế của nông hộ là hoạt động kiếm sống của con người, được thể
hiện qua hai lĩnh vực chính là nông nghiệp và phi nông nghiệp.
Hoạt động nông nghiệp bao gồm: (1) Trồng trọt: lúa, ngô, khoai, sắn,
lạc, cây ăn quả, rau màu,… (2) Chăn nuôi: lợn, gà, trâu, bò,… và (3) Lâm
nghiệp: trồng cây keo, bạch đàn, tre, trồng rừng,…
Hoạt động phi nông nghiệp ở nông thôn bao gồm các dịch vụ, buôn
bán, làm thuê và các ngành nghề khác.
Như vậy, trong phạm vi khóa luận này, sinh kế của người dân nông
thôn được hiểu là các hoạt động sản xuất nông nghiệp để nuôi sống cho chính
gia đình họ. Vì vậy, xây dựng kế hoạch chiến lược cải thiện sinh kế chính là
11
việc xây dựng các thí nghiệm trình diễn hiện trường để góp phần cải thiện
sinh kế địa phương. Qua đó, góp phần phát triển kinh tế và xóa đói giảm
nghèo cho người dân.
Sự bền vững và khung sinh kế bền vững
Thuật ngữ “sinh kế bền vững” được sử dụng đầu tiên như là một khái
niệm phát triển vào những năm đầu 1990. Tác giả Chambers và Conway (1992)
định nghĩa về sinh kế bền vững như sau: Sinh kế bền vững bao gồm con
người, năng lực và kế sinh nhai, gồm có lương thực, thu nhập và tài sản của
họ. Ba khía cạnh tài sản là tài nguyên, dự trữ, và tài sản vô hình như dư nợ và
cơ hội. Sinh kế bền vững khi nó bao gồm hoặc mở rộng tài sản địa phương và
toàn cầu mà chúng phụ thuộc vào lợi ích ròng tác động đến sinh kế khác. Sinh
kế bền vững về mặt xã hội khi nó có thể chống chịu hoặc hồi sinh từ những
thay đổi lớn và có thể cung cấp cho thế hệ tương lai [3].
Con người
Bối cảnh
dễ tổn
thương
- Xu
hướng
- Thời vụ
- Chấn
động
(trong tự
nhiên và
môi
trường,
thị
trường,
chính trị,
chiến
tranh…)
Chính sách,
tiến trình và
cơ cấu
- Ở các cấp
khác nhau của
Chính phủ, luật
pháp, chính
sách công, các
động lực, các
qui tắc
-Chính sách và
thái độ đối với
- Giảm khả
năng tổn
thương
- An ninh
lương thực
được cải thiện
- Công bằng
xã hội được
cải thiện
- Tăng tính
bền vững của
tài nguyên
thiên nhiên
-Giá trị không
sử dụng của
tự nhiên được
bảo vệ.
Các tài sản sinh kế
kkêkế
Tự
nhiên
Tài chính
Xã
hội
Vật chất
Con người
13
- Chiến lược tiếp cận phát triển cộng đồng đặt con người làm trung tâm
của hoạt động phát triển thông qua việc tìm hiểu những vấn đề về kinh tế - xã
hội và quản lý các nguồn tài nguyên dựa trên nền tảng sự phát triển của loài
chúng thành kết quả sinh kế hữu ích.
Nguồn: DFID (2003) [13]
Hình 2.2: Tài sản của người dân
Khung sinh kế xác định năm loại tài sản trung tâm mà dựa vào đó tạo ra
những sinh kế:
- Nguồn vốn con người (Human capital)
- Nguồn vốn xã hội (Social capital)
- Nguồn vốn tự nhiên (Natural capital)
- Nguồn vốn vật chất/vật thể (Physical capital)
- Nguồn vốn tài chính (Financial capital)
Nguồn vốn con người
Nguồn
vốn tự
nhiên
Nguồn vốn
tài chính
Nguồn vốn
vật chất
Nguồn vốn
xã hội
15
Đặc điểm của mô hình năm loại tài sản:
Hình dạng ngũ giác diễn tả khả năng tiếp cận của người dân với các
loại tài sản. Tâm điểm là nơi không tiếp cận được với loại tài sản nào. Các
điểm nằm trên chu vi là tiếp cận tối đa với các loại tài sản.
Những ngũ giác có hình dạng khác nhau có thể được vẽ cho cộng đồng
khác nhau hoặc cho những nhóm xã hội khác nhau trong cộng đồng đó.
Một tài sản riêng lẻ có thể tạo ra nhiều lợi ích. Nếu một người có thể
tiếp cận chắc chắn với đất đai (tài sản tự nhiên), họ cũng có thể có được
nguồn tài chính vì họ có thể sử dụng đất đai không chỉ cho những hoạt động
Ví dụ:
Thu nhập nông hộ phụ thuộc vào đầu tư các yếu tố sản xuất chính như:
diện tích đất đang sử dụng, số lao động trong gia đình, giá trị của tài sản cố
định ngoài đất đai, có điều kiện tiếp cận thủy lợi dễ dàng và áp dụng giống lúa
mới. Tất cả các yếu tố trên đóng góp vào gia tăng năng suất đất đai và thu
nhập của nông hộ. Sự gia tăng năng suất nông nghiệp có thể gián tiếp ảnh
hưởng lên lĩnh vực phi nông nghiệp bằng sự gia tăng thặng dư từ lúa gạo và
như vậy tạo ra cơ hội việc làm trong lĩnh vực chế biến ở nông thôn, thương
mại và các hoạt động vận chuyển. Từ đó, có thể đóng góp trực tiếp làm thu
nhập nông nghiệp lớn hơn.Sự phát triển tài nguyên nhân lực tùy thuộc vào
trình độ của hộ, có thể góp phần làm tăng năng suất lao động các hoạt động
phi nông nghiệp, từ đó thu nhập nông hộ gia tăng. Giáo dục cũng tạo cơ hội
nghề nghiệp cho thành phần lao động gia đình thủ công, năng suất thấp (chủ
yếu trong lĩnh vực nông nghiệp và các hoạt động xây dựng) chuyển sang các
hoạt động ngoài nông nghiệp như: thương mại và dịch vụ. Tình trạng cơ sở hạ
tầng cũng đóng góp tích cực vào thu nhập thông qua giá cả của đầu vào, đầu
17
ra trong lĩnh vực thương mại và qua việc gia tăng cơ hội làm tăng thu nhập
trong lĩnh vực phi nông nghiệp ở nông thôn. Ngoài nguồn vốn tiết kiệm của
gia đình, tiếp cận tín dụng làm tăng thêm vốn cũng làm tăng thêm thu nhập
của hộ.
Cơ cấu hay cấu trúc thu nhập sinh kế (tỷ lệ phần trăm của thu nhập
sinh kế) của nông hộ là sự đóng góp được lượng hóa theo phần trăm thu nhập
của sinh kế đó đối với tổng thu nhập nông hộ. Cụ thể đóng góp về thu nhập
của một nông hộ chủ yếu là thu nhập từ nông nghiệp và một phần đóng góp từ
phi nông nghiệp. Trong thu nhập về nông nghiệp thì đóng góp chính là thu
nhập từ trồng trọt và thu nhập từ chăn nuôi, ngoài ra còn đóng góp của thu
nhập từ lâm nghiệp, thu nhập từ thủy sản,… Nền nông nghiệp nước ta hiện
nay đóng góp chính vẫn là thu nhập từ trồng trọt, Đảng và Nhà nước ta đặt ra
mục tiêu giảm tỷ trọng thu nhập từ trồng trọt, tăng tỷ trọng thu nhập từ chăn