ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
––––––––––––––––––––– ĐẶNG ANH ĐỨC
“NGHIÊN CỨU LƯỢNG CARBON TÍCH LŨY CỦA
RỪNG VẦU ĐẮNG (INDOSASA ANGUSTATA MC.
CLURE) TẠI XÃ LAM VỸ, HUYỆN ĐỊNH HÓA,
TỈNH THÁI NGUYÊN” KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên ngành : Quản lý tài nguyên rừng
Khoa : Lâm nghiệp
Khóa học : 2009-2014 THÁI NGUYÊN - 2014
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM ĐẶNG ANH ĐỨC Đặng Anh Đức XÁC NHẬN CỦA GV CHẤM PHẢN BIỆN
(Ký, họ và tên)
LỜI CẢM ƠN
Được sự nhất trí của Ban chủ nhiệm khoa Lâm nghiệp - trường Đại học
Nông Lâm Thái Nguyên, của giáo viên hướng dẫn và xuất phát từ nguyện
vọng của bản thân tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu lượng Carbon
(C) tích lũy của rừng Vầu đắng (Indosasa angustata Mc. Clure) tại xã Lam
Vỹ, huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên”.
Trong quá trình thực hiện đề tài, tôi đã nhận được sự quan tâm, giúp đỡ
và tạo mọi điều kiện thuận lợi của Ban giám hiệu trường Đại học Nông Lâm
Thái Nguyên; Ban chủ nhiệm Khoa Lâm Nghiệp. Đặc biệt là sự chỉ bảo
hướng dẫn của thầy giáo TS. Nguyễn Thanh Tiến đã rất tận tình giúp đỡ tôi
hoàn thành đề tài trong thời gian nghiên cứu. Nhân dịp này, tôi xin gửi lời
cảm ơn về sự giúp đỡ quý báu đó.
Xin gửi lời cảm ơn tới các đồng chí lãnh đạo, các đồng chí cán bộ tại
UBND xã Lam Vỹ, huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên và các hộ gia đình tại
địa bàn nghiên cứu đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi trong suốt
quá trình tôi thực hiện đề tài tại đia phương.
Mặc dù bản thân đã rất nỗ lực học tập, nghiên cứu, nhưng do trình độ
và thời gian còn hạn chế, nên đề tài nghiên cứu không thể tránh khỏi thiếu sót,
rất mong nhận được nhiều ý kiến đóng góp của các thầy giáo, cô giáo và các
bạn để đề tài của tôi được hoàn thiện hơn.
SKT Sinh khối tươi
9
SKK Sinh khối khô MỤC LỤC
Phần 1
: MỞ ĐẦU 1
1.1. Đặt vấn đề 1
1.2.Mục đích nghiên cứu 3
1.3. Mục tiêu nghiên cứu 3
1.4. Ý nghĩa của đề tài 3
1.4.1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học 3
1.4.2. Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất 3
Phần 2: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 4
2.1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu 4
2.1.1. Nghiên cứu trên thế giới 4
2.1.1.1. Nghiên cứu về sinh khối và năng suất rừng 4
2.3.2. Tình hình dân cư kinh tế 14
2.3.2.1. Dân tộc, dân số và lao động 14
2.3.2.2. Giao thông và cơ sở hạ tầng 14
2.3.2.3. Văn hóa – giáo dục 142.3.2.4. Thu nhập và đời sống 15
2.3.3. Nhận xét và đánh giá chung 15
2.3.3.1. Những yếu tố thuận lợi 15
2.3.3.2. Nhưng yếu tố khó khăn 16
Phần 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN
CỨU 17
3.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 17
3.2. Thời gian và địa điểm nghiên cứu 17
3.3. Nội dung nghiên cứu 17
3.4. Phương pháp nghiên cứu 17
3.4.1. Quan điểm và cách tiếp cận vấn đề nghiên cứu 17
4.2.2.2. Đặc điểm sinh khối tươi của vật rơi rụng 33
4.3. Đặc điểm sinh khối khô của rừng Vầu đắng tại xã Lam Vỹ, huyện
Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên 35
4.4. Đặc điểm sinh khối khô cây bụi thảm tươi và thảm mục của lâm
phần Vầu đắng 384.4.1. Đặc điểm sinh khối khô của cây bụi thảm tươi 38
4.4.2. Đặc điểm sinh khối khô vật rơi rụng 39
4.5. Lượng carbon tích lũy của rừng Vầu đắng thuần loài tại xã Lam Vỹ,
huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên 40
4.5.1. Cấu trúc carbon tích lũy trong cây bụi, thảm tươi 43
4.5.2. Cấu trúc carbon tích lũy trong vật rơi rụng 44
Phần 5: KẾT LUẬN, TỒN TẠI VÀ KIẾN NGHỊ 46
5.1. Kết luận 46
5.2. Kiến nghị 48
TÀI LIỆU THAM KHẢO 49
PHỤ LỤC 51
Bảng 4.12. Cấu trúc carbon tích lũy trong vật rơi rụng 44
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 3.1. Sơ đồ bố trí ÔTC, ô thứ cấp và các ô dạng bản 19
Hình 4.1. Phân bố N/D của ô tiêu chuẩn ở các cấp đường kính 26
Hình 4.2. Phân bố N/H của ô tiêu chuẩn ở các cấp chiều cao 27
Hình 4.3. Biểu đồ sinh khối tươi lâm phần vầu đắng theo 3 cấp tuổi 30
Hình 4.4. Tỉ lệ sinh khối tươi của các bộ phận lâm phần vầu đắng cấp
tuổi 1 31
Hình 4.5. Tỉ lệ sinh khối tươi của các bộ phận lâm phần vầu đắng cấp
tuổi 2 31
Hình 4.6. Tỉ lệ sinh khối tươi của các bộ phận lâm phần vầu đắng cấp
tuổi 3 32
Hình 4.7. Tỷ lệ phần trăm sinh khối tươi cây bụi thảm tươi ở lâm phần
vầu đắng 33
Hình 4.8. Đặc điểm sinh khối tươi vật rơi rụng lâm phần Vầu đắng 34
Hình 4.9. Biểu đồ sinh khối lâm phần vầu đắng theo cấp tuổi 1 37
Phần 1
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Rừng có vai trò quan trọng trong cuộc sống của con người từ xa xưa
cũng như trong hiện tại. Rừng có vai trò đều tiết nguồn nước tạo ra tiểu hoàn
cảnh khí hậu, bảo vệ và cải tạo tài nguyên đất đai được tốt hơn và quan trọng
hơn cả đó là rừng cung cấp khí O
2
hấp thu khí CO
2
giúp cho con người và
động vật có thể tồn tại được. Với vai trò to lớn đó vấn đề bảo vệ tài nguyên
rừng đang là vấn đề rất được chú trọng và quan tâm không chỉ trong nước mà
cả thế giới.
Ngày nay cùng với sự suy giảm tài nguyên rừng là vấn đề biến đổi khí
hậu, hiện tượng nóng lên của trái đất đang là vấn đề nghiêm trọng và là mối
quan tâm chung của toàn xã hội. Nồng độ khí CO
2
gia tăng trong bầu khí
quyển được coi là nguyên nhân chính gây ra hiện tượng nóng lên của trái đất.
Theo ước tính của các nhà khoa học , nếu toàn bộ sinh khối của rừng
mưa nhiệt đới bị đốt trong vòng 50 năm tới thì lượng CO
2
thải ra cùng với
lượng CO
2
không được hấp thu từ rừng mưa sẽ làm tăng lượng CO
2
trong khí
quyển gấp đôi hiện nay và nhiệt độ trái đất sẽ tăng len 2- 50 độ C . Làm cho
của từng loại
rừng. Ở nước ta hiện nay những nghiên cứu nhằm lượng hóa giá trị dịch vụ
môi trường của rừng bao gồm cả khả năng hấp thụ và lưu giữ C0
2
cũng như
giá trị thương mại mà rừng mang lại ở Việt Nam còn ít và tản mạn, chưa có
hệ thống, thiếu các dữ liệu cơ bản nên chưa đủ cơ sở khoa học và thực tiễn
cho việc định giá rừng nói chung, định lượng khả năng cố định carbon cho
các dạng rừng nói riêng. Do vậy, giá trị mang lại của rừng hiện nay vẫn chưa
được tính toán một cách đầy đủ. Điều này gây ảnh hưởng không nhỏ tới việc
thu hút cộng đồng tham gia phát triển nghề rừng một cách bền vững.
Vầu đắng là một loài lâm sản ngoài gỗ rất có giá trị hiện nay và được
phân bố rất phổ biến ở vùng Đông Bắc bộ. Giá trị kinh tế của vầu đắng không
chỉ thể hiện ở măng Vầu đắng thơm ngon được người tiêu dùng ưa chuộng,
thân cây khí sinh của Vầu đắng được dùng nhiều trong xây dựng, làm đồ thủ
công mỹ nghệ, mà Vầu đắng còn góp phần quan trọng trong việc cảo tạo
đất, điều hòa tiểu khí hậu, chống sói mòn, rửa trôi, hạn chế lũ lụt, Tuy
nhiên, thực tế hiện nay cho thấy, giá trị của rừng Vầu đắng mới chỉ được thừa
nhận ở những giá trị kinh tế của nó mang lại, những giá trị về bảo vệ môi
trường, hấp thụ C0
2
của rừng Vầu đắng vẫn chưa được thừa nhận mặc dù về
mặt nhận thức chúng ta đều biết rừng nói chung trong đó có rừng vầu đắng
nói riêng đều góp phần quan trọng trong việc giảm thiểu biến đổi khí hậu, có
khả năng hấp thụ và lưu giữ khí gây ra biến đổi khí hậu chủ yếu là C0
2
nhưng
lại không có đầy đủ cơ sở khoa học cũng như thực tiễn để lượng hóa chúng.
Xuất phát từ những yêu cầu đó, được sự nhất trí của trường Đại Học
Nông lâm Thái Nguyên, Ban chủ nhiệm khoa Lâm Nghiệp và giáo viên
người dân sống gần rừng và dựa vào rừng. Qua đó nâng cao nhận thức của
người dân trong bảo vệ và phát triển tài nguyên rừng. 4
Phần 2
TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
2.1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu
2.1.1. Nghiên cứu trên thế giới
2.1.1.1. Nghiên cứu về sinh khối và năng suất rừng
"Sinh khối là tổng trọng lượng của sinh vật sống trong sinh quyển hoặc
số lượng sinh vật sống trên một đơn vị diện tích, thể tích vùng”. Sinh khối là
một chỉ tiêu quan trọng thể hiện năng suất của rừng, sinh khối được dùng để
nghiên cứu một số chỉ tiêu khác như dinh dưỡng hoặc các chỉ tiêu về môi
trường rừng. Khi cơ chế phát triển sạch (CDM) xuất hiện, nghiên cứu sinh
khối giữ vai trò quan trọng hơn, được dùng để xác định lượng carbon hấp thụ
bởi thực vật rừng, góp phần định lượng giá trị môi trường do rừng mang lại.
Sự phát triển không ngừng của xã hội loài người, bước sang thế kỷ XIX
ứng dụng thành tựu khoa học kỹ thuật của các ngành hóa phân tích, hóa thực
vật các nhà khoa học đã vận dụng nguyên lý tuần hoàn vật chất trong chu
trình tuần hoàn vật chất của tự nhiên để áp dụng nghiên cứu sinh khối rừng và
bước đầu đã thu được những thành tựu đáng kể. Năm 1964, Lieth đã thể hiện
năng suất trên toàn thế giới bằng bản đồ năng suất, đồng thời với sự ra đời của
chương trình sinh học quốc tế “International Biology Program” (1964) và
Nam ký kết tham gia. Mục tiêu chính của UNFCCC là ổn định khí nhà kính
trong khí quyển ở mức có thể ngăn ngừa được sự can thiệp nguy hiểm của con
người vào hệ thống khí hậu.
2.1.1.2. Nghiên cứu về khả năng hấp thụ Carbon
Trong bối cảnh toàn thế giới đang cùng bắt tay để ứng phó với các tác
động do biến đổi khí hậu gây ra, thì vai trò của rừng trong việc duy trì và cải
thiện các chức năng phòng hộ môi trường ngày càng được khẳng định, trong
đó vai trò hấp thụ khí C0
2
(tác nhân cơ bản gây ra hiệu ứng nhà kính và biến
đổi khí hậu toàn cầu) của rừng đang rất được các nhà khoa học quan tâm
nghiên cứu, có thể tổng kết lại một số công trình nghiên cứu chủ yếu như sau:
Tại Philippines khả năng hấp thụ carbon của cây Lõi thọ và cho biết:
lượng carbon chiếm 44,73% so với tổng sinh khối của cây Lõi thọ, trong đó
hàm lượng carbon trong lá 44,89%, trong cành 44,47% và trong thân 43,53%.
Với mật độ 1000 cây/ha, rừng Lõi thọ ở độ tuổi 12 có thể cố định 200 tấn
carbon, tương đương 736 tấn CO
2
. (Leuvina, 2007) [16]
Đối với rừng trồng hỗn loài giữa Pinus massoniana và Schima superba
tại Trung Quốc khi nghiên cứu khả năng hấp thụ carbon thấy rằng, tổng lượng 6
carbon hấp thụ biến động từ 146,35 - 215,30 tấn/ha, trong đó lượng carbon
của cây trồng và thảm thực vật dưới tán rừng chiếm 61,9% - 69,9%, lượng
carbon trong đất chiếm từ 28,5 - 35,5% và lượng carbon trong vật rơi rụng
chiếm từ 1,6 - 2,8% ( Fang Yunting và cs, 2003) [15]
2.1.2. Ở Việt Nam
2.1.2.1. Nghiên cứu về sinh khối và năng suất rừng
100 tấn CO
2
/ha, Thông nhựa phải đến tuổi 16 - 17, Thông mã vĩ và Thông 3
lá ở tuổi 10, Keo lai 4 - 5 tuổi, Keo tai tượng 5 - 6 tuổi và Bạch đàn uro ở tuổi
4 - 5. Tác giả đã lập phương trình tương quan hồi quy tuyến tính giữa lượng
CO
2
hấp thụ hàng năm với năng suất gỗ và năng suất sinh học, từ đó tính ra 7
được khả năng hấp thụ CO
2
thực tế ở nước ta đối với 5 loài cây trên. Cũng
theo Ngô Đình Quế (2005), với tổng diện tích 123,95 ha khi trồng Keo lai 3
tuổi, Quế 17 tuổi, Thông 3 lá 15 tuổi, Keo lá tràm 12 tuổi thì sau khi trừ đi
tổng lượng C của đường cơ sở, lượng C thực tế thu được qua việc trồng rừng
CDM là 7.553,6 tấn C hoặc 27.721,9 tấn CO
2
.Theo Ngô Đình Quế và cs
(2005) [6].
Khi nghiên cứu khả năng hấp thụ CO
2
rừng trồng Keo tai tượng
(Acacia mangium) tại Tuyên Quang đã cho thấy lượng carbon hấp thụ trung
bình ở cấp đất I đạt 152,96 tấn/ha; cấp đất II đạt 127,91 tấn/ha; cấp đất III đạt
126,32 tấn/ha và cấp đất IV đạt 114,33 tấn/ha, trong đó tầng cây cao chiếm
49%; đất chiếm 34%; vật rơi rụng chiếm 4% và cây bụi thảm tươi chiếm 13%
tổng lượng carbon trong lâm phần (Nguyễn Duy Kiên, 2007) [14].
Kết quả thực hiện đề tài ”Nghiên cứu sinh khối và khả năng cố định
CO
2
của rừng cũng được rất nhiều các tác giả quan tâm nghiên cứu.
Nếu tăng trưởng rừng đạt 15 m
3
/ha/năm và giá thương mại của khí CO
2
biến động từ 3-5 USD/tấn CO
2
, thì một ha rừng như vậy có thể đem lại 45 -
75 USD (tương đương 675.000 - 1.120.000 đồng) (Hoàng Xuân Tý,
2004)[13].
Trong đề tài nghiên cứu “Nghiên cứu khả năng hấp thụ và giá trị
thương mại carbon của một số dạng rừng trồng chủ yếu ở Việt Nam” đã tiến
hành nghiên cứu năng suất sinh khối của một số loài cây trồng rừng như: Mỡ,
Thông đuôi ngựa, Thông nhựa, Keo lai, Keo lá tràm,… Kết quả đã đánh giá
được cấu trúc sinh khối cây cá thể và cấu trúc sinh khối lâm phần rừng trồng,
tìm hiểu rõ được mối quan hệ giữa sinh khối cây cá thể và lâm phần với các
nhân tố điều tra,… Góp phần quan trọng trong nghiên cứu sinh khối rừng
trồng và nghiên cứu khả năng hấp thụ carbon của một số loài cây trồng rừng
sản xuất chủ yếu ở nước ta hiện nay (Võ Đại Hải và cs, 2009) [2].
Đề tài :“Nghiên cứu khả năng cố định carbon của rừng trồng Thông
mã vĩ (Pinus massoniana Lambert) và Thông nhựa (Pinus merkusii Jungh et.
de Vriese) làm cơ sở xác định giá trị môi trường rừng theo cơ chế phát triển
sạch ở Việt Nam” đã xác định được khả năng hấp thụ carbon ở cấp tuổi 6 của
lâm phần Thông mã vĩ khoảng từ 115,21 - 178,68 tấn/ha, của lâm phần Thông
nhựa khoảng 117,05 - 135,54 tấn/ha tùy thuộc vào cấp đất, đồng thời tác giả
cũng đã xây dựng được bảng tra khả năng hấp thụ carbon của cây cá thể cũng
như lâm phần Thông mã vĩ và Thông nhựa chung và riêng cho từng cấp đất,
2
rừng trồng Keo tai tượng
(Acacia mangium) tại Tuyên Quang đã cho thấy lượng carbon hấp thụ trung
bình ở cấp đất I đạt 152,96 tấn/ha; cấp đất II đạt 127,91 tấn/ha; cấp đất III đạt
126,32 tấn/ha và cấp đất IV đạt 114,33 tấn/ha, trong đó tầng cây cao chiếm
49%; đất chiếm 34%; vật rơi rụng chiếm 4% và cây bụi thảm tươi chiếm 13%
tổng lượng carbon trong lâm phần (Nguyễn Duy Kiên, 2007) [14]
Tại Yên Bái khi nghiên cứu khả năng tích lũy carbon rừng Bạch đàn
Urophylla tuổi 4, 5, 6 cho thấy:
+ Ở tuổi 4: Tổng trữ lượng carbon là 32,81 tấn C/ha, trong đó phần trên
mặt đất là 25,51 tấn C/ha chiếm 77,77%; trữ lượng carbon dưới mặt đất là
5,48 tấn C/ha chiếm 16,69% và trữ lượng carbon trong thảm mục là 1,82 tấn
C/ha chiếm 5,54% tổng trữ lượng carbon. 10
+ Ở tuổi 5: Tổng trữ lượng carbon là 36,38 tấn C/ha, trong đó phần trên
mặt đất là 25,32 tấn C/ha chiếm 69,60%; trữ lượng carbon dưới mặt đất là
9,32 tấn C/ha chiếm 25,36% và trữ lượng carbon trong thảm mục là 1,83 tấn
C/ha chiếm 5,04% tổng trữ lượng carbon.
+ Ở tuổi 6: Tổng trữ lượng carbon là 47,37 tấn C/ha, trong đó phần trên
mặt đất là 37,17 tấn C/ha chiếm 78,47%; trữ lượng carbon dưới mặt đất là
8,40 tấn C/ha chiếm 17,74% và trữ lượng carbon trong thảm mục là 1,79 tấn
C/ha chiếm 3,79% tổng trữ lượng carbon ( Nguyễn Văn Tấn, 2006) [3].
Khi nghiên cứu khả năng hấp thụ CO
2
của trạng thái rừng thứ sinh
phục hồi tự nhiên sau khai thác kiệt tác giả Nguyễn Thanh Tiến đã xác định
được tổng lượng CO
2
11
dọc, giữa các sọc có lông cứng màu nâu, mép có lông mi rõ; tai mo không
phát triển, thay vào đó là 4 - 6 lông mi dài 7 - 15cm, đứng thẳng; lưỡi mo nhỏ,
cao 2 - 5 mm, đầu có lông mảnh; phiến mo hình lưỡi mác, màu đỏ tím nhạt, ở
giữa màu lục, dài 7 - 15cm, lật ra ngòai, đáy phiến mo hẹp so với đỉnh bẹ mo.
Lá 3 - 6 trên cành nhỏ; hình mác dạng dải, dài 11 - 28cm, rộng 1 - 5 cm, gân
cấp hai 3 - 7 đôi; bẹ lá không lông, mép đôi khi có lông mảnh, tai lá thường
không phát triển. Cụm hoa mọc trên cành không lá, mỗi đốt mang 1 hoặc
nhiều bông nhỏ. Mỗi bông nhỏ mang 8 - 12 hoa. Hoa có 3 mày cực nhỏ trong
suốt, 6 nhị, đầu nhụy xẻ 3 hình lông chim. Quả dĩnh, hình trứng trái xoan,
mầu nâu.[3].
2.2.2. Đặc tính sinh thái
Vầu đắng có độ chiụ bóng lớn, độ tán che trung bình của rừng vầu ổn
định tới 0,8-0,9, nơi rừng thưa nhiều ánh sáng, sinh trưởng của Vầu đắng hạn
chế. Tác giả cũng đã đưa ra một số thông tin khác như vùng có Vầu đắng,
phân bố nhiệt độ bình quân từ 22-23,5°C, lượng mưa 1600-1700mm/năm trở
lên, độ ẩm không khí trung bình 85-95%, độ cao phân bố 50m-120m so với
mặt nước biển, vầu mọc trên các loại đất có đá mẹ là phiến thạch, phiến philit,
phiến mica, thành phần cơ giới trung bình nhưng đất ẩm.
Vầu đắng có thể mọc hỗn giao hoặc thuần loài, những loài cây gỗ lớn
thường mọc hỗn giao với Vầu đắng thường thuộc họ Đậu (Fabaceae), họ Re
(Laureceae), Thầu Dầu (Euphorbiaceae).
Cây sinh trưởng chủ yếu bằng hệ thống thân ngầm dưới mặt đất 20 - 30
cm. Đôi khi gặp thân ngầm trồi lên mặt đất. Mùa sinh trưởng từ tháng 12 đến
tháng 5 năm sau, mầm măng phát triển dưới mặt đất từ tháng 12 đến tháng 1
năm sau; nhú khỏi mặt đất từ tháng 2 đến tháng 5 (đầu mùa mưa). Thường chỉ
50% sống và phát triển thành cây trưởng thành. Số còn lại bị chết khi còn ở
độ cao dưới 1m. Vì vậy, có thể khai thác 50% số măng nhú khỏi mặt đất trong
rừng Vầu mà không ảnh hưởng tới rừng.
Về phân bố tự nhiên: Cây mọc tự nhiên, tập trung nhất ở các tỉnh ở các
của rừng, xây dựng được nhiều phương pháp
tiên tiến trong nghiên cứu khả năng hấp thụ CO
2
.
Đối với Việt Nam, vấn đề nghiên cứu khả năng hấp thụ CO
2
của rừng
được nghiên cứu khá muộn so với thế giới, tuy nhiên đây là lĩnh vực đã được
sự quan tâm rất lớn của toàn xã hội và bước đầu cũng đã đạt được những kết
quả đáng khích lệ, đặc biệt là đối với một số loài cây trồng rừng phổ biến ở
nước ta như: Thông nhựa, Thông đuôi ngựa, Mỡ, Keo các loại, Bạch đàn,…
Góp phần quan trọng trong việc định lượng giá trị môi trường rừng ở nước ta.
Tuy nhiên, hầu hết các công trình nghiên cứu khả năng hấp thụ CO
2
ở nước ta
mới chỉ tập trung chủ yếu vào nghiên cứu cho đối tượng là rừng trồng, đối
tượng rừng tự nhiên đặc biệt là rừng vầu đắng vẫn chưa được quan tâm
nghiên cứu đúng mức. Hiện nay, đối tượng rừng vầu đắng chiếm một tỷ trọng 13
khá lớn so với tổng diện tích rừng tự nhiên ỏ các tỉnh vùng núi phía bắc của
nước ta, do vậy, việc nghiên cứu khả năng hấp thụ CO
2
cho đối tượng rừng
này là rất cần thiết trong tiến trình lượng hóa các giá trị môi trường rừng, chi
trả dịch vụ môi trường rừng và hướng tới thị trường thương mại carbon trên
thế giới. Thông qua các công trình nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài
nước, đã tham khảo, kế thừa có chọn lọc các phương pháp của các tác giả
như: Võ Đại Hải, Bảo Huy, Vũ Tấn Phương, Ngô Đình Quế…Trong nghiên
Công tác quản lý đất đai trên địa bàn xã được ổn định, mọi biến động
đều được thống kê chi tiết đúng hiện trạng, năm 2013 UBND xã đã phối hợp
với đơn vị tư vấn triển khai công tác cấp đổi Giấy Chứng Nhận Quyền Sử
Dụng Đất và cấp đổi Giấy Chứng Nhận đất Lâm Nghiệp. Hiện trạng rừng còn
nhiều nhưng những rừng già hầu như là không còn. Kế hoạch trồng rừng năm
2013 là 10 ha. Thực hiện 105,20 ha vượt so với kế hoạch là 95,2 ha ( trong đó
trồng rừng sản xuất 26,10 ha rừng phòng hộ 79, 10 ha). Thực hiện tốt công tác
chăm sóc và bảo vệ rừng trên địa bàn xã.
2.3.2. Tình hình dân cư kinh tế
2.3.2.1. Dân tộc, dân số và lao động
Lam Vỹ gồm 20 Thôn, 23 chi bộ, có 8 dân tộc anh em cùng sinh sống,
xã có 1071 hộ, 4217 khẩu, diện tích tự nhiên 4.398,95ha.
2.3.2.2. Giao thông và cơ sở hạ tầng
Đường giao thông nông thôn được các thôn tu sửa thường xuyên, đảm
bảo giao thông thông suốt. Tiếp tục tìm nguồn đầu tư để thực hiện các dự án
xây dựng cơ sở hạ tầng cho phù hợp, để tạo điều kiện thông thoáng đón nhận
các dự án đầu tư của nhà nước. Thực hiên tốt công tác giải phóng mặt bằng
khi có công trình làm đường mà các thôn đã đăng ký. Ngoài ra, công trình cấp
nước sinh hoạt nông thôn Nà Tấc - Lam Vỹ là công trình nước sạch nông thôn
lớn nhất của huyện Định Hóa với kinh phí 7 tỉ đồng, công trình đảm bảo cung
cấp nước sạch cho hơn 4000 người dân thuộc 11 xóm bản trong xã vùng sâu
Lam Vỹ và cán bộ, giáo viên của 9 cơ quan, trường học trong xã với công suất
gần 250 m3/ngày đêm. Chương trình 135 đã giúp Lam Vỹ có cơ sở hạ tầng hoàn
thiện, các hạng mục công trình như điện, đường, trường, trạm, chợ Cải tạo và
nâng cấp trường Trung Học Cơ Sở, Xây dựng tường rào Ủy Ban.
2.3.2.3. Văn hóa – giáo dục
Ủy ban nhân xã thường xuyên quan tâm, chỉ đạo, cơ sở vật chất của các
trường đã cải thiện nâng lên, công tác dạy và học có nhiều cố gắng và chỉ đạo
các trường thực hiện tốt công tác khai giảng năm học 2013 - 2014.
- Trường Trung học cơ sở năm học 2013 - 2014.
chất lẫn tinh thần, do có sự đầu tư, cải tiến phương tiện sản xuất và áp dụng
những tiến bộ khoa học kỹ thuật, làm cho năng suất lao động ngày càng nâng
cao, cuộc sống của nhân dân đang dần từng bước đi vào ổn định. Do sự phát
triển chung của xã hội đòi hỏi phải có sự xếp sắp lại lao động, phân bố một
cách hợp lý để tạo ra một bước phát triển toàn diện.