Nghiên cứu đặc điểm cấu trúc rừng trồng Tếch làm cơ sở khoa học cho việc đề xuất một số biện pháp kỹ thuật trong trồng rừng - Pdf 69

1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Tếch (Tectona grandis Linn.f.) thuộc họ Tếch (Verbenaceae Jaume) là một
loài cây gỗ lớn trong chi (Tectona), cao tới 30 – 40 m, đường kính có thể đạt trên
100cm [1, tr.402]. Tếch được đánh đánh giá là một trong những loài cây gỗ quý, sinh
trưởng nhanh, biên độ sinh thái rộng. Tếch có phân bố tự nhiên ở Ấn Độ, Miến Điện,
Thái Lan, Lào và được trồng thành công trên diện tích hàng triệu ha ở cả những nơi
nằm ngoài khu phân bố tự nhiên như Sri Lanka, Bangladesh, Trung Quốc, Việt Nam,
Brazil, Ecuador, v.v.. Tính đến năm 1990, tổng diện tích rừng trồng Tếch trên thế
giới là 1,6 triệu ha, chiếm 75% diện tích trồng cây gỗ cứng chất lượng cao của nhiệt
đới [8]. Gỗ Tếch cứng, nặng, thớ gỗ mịn, màu vàng hoặc nâu nhạt, có ánh phản
quang, vân đẹp, có mùi thơm, dễ phơi khô, hệ số co rút nhỏ, không bị cong vênh, nứt
nẻ, chịu được mưa nắng, chịu được nước biển, không bị hà, không bị mối mọt. Vì thế,
gỗ Tếch thường được dùng để đóng tầu, toa xe, xẻ ván sàn, điêu khắc, làm các đồ
dùng quý trong gia đình, tà vẹt, báng súng, cầu phà, nhất là làm gỗ lạng có giá trị
xuất khẩu cao, v.v.. Tại Châu Á - Thái Bình Dương nhiều nước đã trồng thành công
và biến vùng này thành thị trường truyền thống gỗ Tếch trên thế giới với sản lượng
trung bình 4 triệu m
3
/năm lấy từ gỗ có đường kính 6 cm trở lên [2, tr.6-7].
Đặc biệt, Tếch là một loài cây có khả năng cải tạo đất, cải tạo môi trường,
phiến lá to 20-40cm, dầy, có khả năng hút bụi và CO
2
nên cũng rất được ưa chuộng
làm cây trồng dọc theo các tuyến đường giao thông, nhằm tạo cảnh quan sinh thái và
bảo vệ môi trường.
Do tầm quan trọng của gỗ Tếch, tháng 3/1991, cuộc hội thảo quốc tế đầu tiên
chuyên đề về Tếch (Teak) được tổ chức tại Quảng Châu, Trung Quốc dưới sự đồng
bảo trợ của FAO và Bộ Lâm nghiệp nước chủ nhà; Tiếp tháng 5/1995, mạng lưới
quốc tế nghiên cứu và phát triển cây Tếch của các nước vùng Châu Á – Thái Bình
Dương đã được thành lập với tên gọi là TEAKNET nhằm thúc đẩy sự tương tác và

3
CHƯƠNG I - TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Đặc điểm phân bố tự nhiên và nhận biết của cây Tếch
1.1.1. Phân bố tự nhiên
Tếch là loài cây có nguồn gốc nhiệt đới Nam Á và Đông Nam Á, phân bố tự
nhiên ở Ấn Độ, Miến Điện, Thái Lan, Lào. Vùng phân bố tự nhiên của Tếch nằm
trong khoảng giữa vĩ độ 9
o
00’ Bắc đến 25
o
30’ Bắc và kinh độ 73
o
– 103
o
độ kinh
Đông [8]. Tếch cũng thấy xuất hiện khoảng 1 triệu ha ở quần đảo Java (Indonesia).
Vì thế, Tếch sinh trưởng khá tốt ở Indonesia, nên hiện nay người ta đã coi giới hạn
phân bố của Tếch ở phía Nam là giữa vĩ độ 5
o
-9
o
Nam [9].
Tếch phân bố tự nhiên trong khu vực nhiệt đới gió mùa (mùa khô và mùa mưa
rõ rệt), khí hậu nóng ẩm, mùa đông không quá lạnh, không có bão lớn. Biên độ nhiệt
độ trung bình từ 20 – 27
o
C, tổng nhiệt độ lớn hơn 10
o
C là 8.000
o

Theo Lê Mộng Chân (2000) [1], ở điều kiện sống thích hợp, cây mọc khá
nhanh, cây 20 tuổi có thể cao 18m, đường kính 22cm. Theo Kadambi (1979) [13],
Tếch là loài cây của rừng nửa rụng lá nhiệt đới gió mùa. Ở rừng tự nhiên, Tếch
trưởng thành có thể đạt chiều cao 40m, đường kính 1-2m. Tếch có thân thẳng, nhiều
hoa nhưng tới 90% không hình thành quả. Tếch sinh sản sớm, thông thường từ tuổi
8-10. Thời kỳ ra hoa là giữa tháng 7 đến tháng 9 hàng năm; Quả chín và rụng từ
tháng 12 năm trước đến tháng 2 năm sau. Quả chín có vỏ màu nâu vàng. Tếch tái
sinh chồi tốt ở tuổi non, do đó có thể được trồng bằng thân cụt.
5
1.2. Những nghiên cứu về loài cây Tếch trên thế giới
1.2.1. Những nghiên cứu chung về quy luật cấu trúc lâm phần
Trên thế giới, ngay từ những năm đầu của thế kỷ 20, đã có nhiều công trình
nghiên cứu về cấu trúc rừng, nhất là về các quy luật kết cấu của lâm phần. Đặc biệt
với sự phát triển của thống kê toán học và tin học, việc mô hình hoá các quy luật cấu
trúc lâm phần bằng các mô hình toán học đã mở ra bước phát triển mới trong lâm
sinh học hiện đại.
- Về phân bố số cây theo đường kính, chiều cao.
Phân bố số cây theo đường kính là quy luật cấu trúc cơ bản của lâm phần đã
được nhiều nhà khoa học quan tâm. Đầu tiên phải kể đến công trình nghiên cứu của
Meyer (1972)[14]. Ông mô tả phân bố số cây theo đường kính bằng mô hình toán
học mà dạng của nó là đường cong giảm liên tục. Phương trình này được gọi là
phương trình Meyer. Một số tác giả khác đã dùng phương pháp giải tích để tìm
phương trình đường cong phân bố. Loetsch (1973)[15] dùng hàm Bêta để nắn các
phân bố thực nghiệm. J.L.F Batista và H.T.Z Doucoto (1992)[16] trong khi nghiên
cứu 19 ô tiêu chuẩn với 60 loài cây rừng ở Maranhoo – Brazin đã dùng hàm Weibull
mô phỏng phân bố N/D. Nhìn chung các tác giả đều biểu diễn quy luật phân bố số
cây theo đường kính dưới dạng phân bố xác xuất, các hàm thường hay sử dụng là
hàm Weibull, hàm mũ, hàm chuẩn, hàm logarit, hàm bêta, hàm gama, v.v..
Ngoài việc sử dụng các hàm toán học để biểu thị quy luật cấu trúc lâm phần,
đối với rừng tự nhiên, quy luật phân bố số cây theo chiều cao còn được thể hiện

(1.2)
h = a.d
b
(1.3)
logh = a + blogd (1.4)
h-1.3=a(1-e
-ed
) (1.5)
h-1.3=a.e
-b/d
(1.6)
log(h-1.3)=loga-blog(e/d) (1.7)
h=a
(blnd-elnd)
(1.8)
h = a
0
+ a
1d
1
+ a
2
d
2
+ a
3
d
3
(1.9)
h = a

Theo Siswamartana (1995) [21], rừng Tếch ở Indonesia đã được nghiên cứu
chi tiết về tăng trưởng, sản lượng và năng suất trên 3 cấp đất. Trên cấp đất III, rừng
tếch ở tuổi 10 có mật độ 1.452 cây/ha, D=9,1cm; H=11,4m; trữ lượng gỗ trên cây
nuôi dưỡng 39,6m
3
/ha; năng suất trung bình 5,8m
3
/ha; lượng tăng trưởng hàng năm
6,9m
3
/ha. Ở tuổi 20, mật độ 766 cây/ha, D = 14,3cm, H = 16,1m, trữ lượng gỗ trên
cây nuôi dưỡng 64,8m
3
/ha, năng suất trung bình 5,9m
3
/ha/năm; lượng tăng trưởng
hàng năm 5,0 m
3
/ha/năm. Từ tuổi 30 trở đi, năng suất rừng giảm nhanh, trong đó
năng suất trung bình 4,7 m
3
/ha/năm ở tuổi 30 và 4,0 m
3
/ha/năm ở tuổi 80 năm.
Ở các nước có Tếch tự nhiên hoặc diện tích rừng Tếch lớn đều có những khảo
sát, đánh giá sinh trưởng, năng suất, tiêu biểu như công trình nghiên cứu của
Wycherley FR. (1966) [22] ở Thái Lan và Vaclav E. (1972) [23] ở Bangladesh, v.v..
Đồng thời để làm cơ sở cho việc xác định giải pháp kỹ thuật lâm sinh như: Mật độ
trồng rừng, tỉa thưa, mật độ tối ưu, v.v.. hoặc dự đoán các chỉ tiêu kỹ thuật trong điều
chế rừng như: Chặt nuôi dưỡng, trữ sản lượng từng thời điểm, lượng khai thác chính,

năm, Jose và Koshy (1972) đã nhận thấy rằng: Mặc dù hình thái, tính chất vật lý và
hoá học của đất có sự thay đổi, nhưng hàm lượng chất hữu cơ ở tầng đất mặt dưới
rừng Tếch tự nhiên và rừng Tếch trồng 120 tuổi là tương tự nhau. Đất tầng mặt dưới
rừng trồng Tếch non có tỷ trọng và hàm lượng cát cao hơn, nhưng độ xốp và khả
năng hút nước kém hơn so với rừng tự nhiên (dẫn theo [24]).
Theo Kaosa-ard (1981), (1995) [10], [11] cho rằng: Kích thước, chất lượng,
mật độ, hình thái thân cây và tăng trưởng của rừng Tếch bị kiểm soát bởi một số yếu
tố như lượng mưa và phân bố lượng mưa trong năm, độ ẩm đất, đặc tính đất và ánh
sáng. Ngoài ra, màu sắc và cấu trúc của gỗ Tếch cũng chịu ảnh hưởng của lập địa.
9
Đồng thời tác giả cũng chỉ ra rằng, Tếch sinh trưởng tốt nhất trên đất bồi tụ (phù sa)
sâu và thoát nước tốt được hình thành trên nền các loại đá vôi, phiến thạch, phiến sét
và một số loại đá do núi lửa hình thành như Bazan. Ngược lại khi mọc ở điều kiện đất
cát khô, đất có tầng mỏng, đất chua (pH<6,0) có nguồn gốc từ feralit, đất than bùn,
đất cứng hoặc bị úng nước, thì Tếch sinh trưởng rất kém, hình thái thấp và xấu.
Theo Kadambi (1979) [13], ngoài lập địa, chất lượng hạt giống, tiêu chuẩn
cây con thì thành công của trồng rừng Tếch còn phụ thuộc rất nhiều vào kỹ thuật lâm
sinh (khoảng cách trồng, chăm sóc, phòng chống cháy, phòng trừ dịch bệnh, tỉa thưa,
v.v..)
Tại Thái Lan, ở những nơi không áp dụng phương thức nông lâm kết hợp
Tếch được trồng với mật độ 1.100 cây/ha (hay 3*3m), còn ở những nơi áp dụng
phương thức nông lâm kết hợp mật độ trồng ban đầu là 1.250 cây/ha (hay 4*2m)
(dẫn theo [11]). Sau khi tổng kết mật độ trồng rừng ở các nước trên thế giới,
Kaosa-ard (1995) [11] cho rằng: Khi không thực hiện phương thực nông lâm kết hợp,
thì mật độ trồng rừng Tếch thay đổi từ 1.100 cây/ha (3*3m), 1.250 cây/ha (4*2m)
đến 2.500 cây/ha (2*2m) và 3.333 cây/ha (3*1m). Tuy nhiên, nếu trồng rừng với mật
độ (3*3m) hoặc thưa hơn thì đất sẽ bị xói mòn rất mạnh.
Các nhà khoa học lâm nghiệp cũng rất quan tâm đến vấn đề chặt nuôi dưỡng
rừng trồng Tếch nhằm đạt đến mục tiêu kinh doanh. Đối với Tếch, phương thức nuôi
dưỡng chủ yếu là chặt tỉa thưa. Thời điểm bắt đầu và kết thúc tỉa thưa, số lần tỉa thưa,

thích hợp cho từng loài ở từng thời điểm nhất định. Theo H.Thomasius (1972),
không gian dinh dưỡng trên mặt đất của một cây được giới hạn bằng một hình viên
trụ đứng có tiết diện bằng diện tích hình chiếu thẳng đứng của tán lá và giới hạn bằng
chiều cao của cây đó. Như vậy, để xác định được mật độ tối ưu trước hết phải xác
định được không gian dinh dưỡng thích hợp. Không gian này ngoài phụ thuộc vào
chiều cao (chỉ tiêu phân chia cấp đất) còn phụ thuộc vào diện tích hình chiếu tán lá
bình quân của những cây sinh trưởng tốt trong lâm phần (dẫn theo [26]).
1.2.3. Nghiên cứu về phân cấp sinh trưởng cây rừng
Cấp sinh trưởng cây rừng là một trong những chỉ tiêu quan trọng được các nhà
11
lâm học sử dụng đánh giá đặc điểm về kinh tế kỹ thuật của cây rừng, tuyển chọn cây
chặt và cây chừa trong nuôi dưỡng rừng, phát hiện mức độ cạnh tranh giữa các cá thể
cây rừng, phân tích động thái của lâm phần dưới ảnh hưởng của môi trường sống và
các biện pháp lâm sinh, v.v..
G.Kraft (1884) là người đầu tiên xây dựng hệ thống phân cấp cây rừng ở Đức.
Tác giả đã dựa vào các chỉ tiêu định tính là độ lớn của chiều cao và đường kính để
phân cấp. Theo tác giả cây rừng được chia thành 5 cấp (I, II, III, IV, V). Trong đó cấp
I là những cây cao to nhất và cấp V hoàn toàn nằm dưới tầng rừng chính. Phân cấp
theo cách của G.Kraft khá đơn giản, song chỉ áp dụng được cho các lâm phần rừng
thuần loài, đều tuổi, (dẫn theo [26]).
Để đơn giản cho việc phân cấp cây rừng, G.S. Shedelin (1972) (Thuỵ Điển),
đã tiến hành phân cấp cây rừng theo chỉ tiêu số lượng và trên cơ sở hệ thống chỉ số
hàng trăm (phản ánh vai trò của cây gỗ trong lâm phần), hàng chục (phản ánh chất
lượng thân cây), hàng đơn vị (phán ánh chất lượng tán cây). Mỗi chỉ số có 3 đơn vị (1
- tốt; 2 – trung bình; 3 - xấu). Như vậy, một cây đạt chỉ số 111 là cây tốt nhất về điều
kiện sống, về hình thái thân cây và hình thái tán cây; Còn cây có chỉ số 333 là những
cây xấu nhất ở cả 3 chỉ tiêu trên. Rõ ràng, cách phân cấp này rất dễ áp dụng trong
thực tiễn, tuy nhiên đối với những đối tượng phức tạp như rừng khác tuổi, rừng còn
quá non hoặc ở những lâm phần tỉa thưa trong giai đoạn dài, phân cấp này thường
không đạt được độ chính xác mong muốn, (dẫn theo [26]).

Nguyễn Hải Tuất (1982, 1996) [28], [29], đã sử dụng phân bố giảm, phân bố
khoảng cách để biểu diễn cấu trúc đường kính, cấu trúc chiều cao của rừng thứ sinh,
đồng thời áp dụng quá trình pearson vào nghiên cứu cấu trúc quần thể.
Vũ Tiến Hinh [30], [31], [32], đã thử nghiệm một số phân bố lí thuyết để nắn
phân bố số cây theo đường kính và phân bố số cây theo chiều cao cho rừng trồng một
số loài cây và đi đến kết luận: “Phân bố Weibull là phân bố thích hợp nhất”.
* Tương quan giữa chiều cao và đường kính (H/D)
Đồng Sĩ Hiền (1974) [27], đã thử nghiệm nhiều dạng phương trình để mô tả
quan hệ H/D và khẳng định các dạng dưới đây có mức độ thích hợp cao:
13
H = a
0
+ a
1
d + a
2
d
2
(1.12)
H = ad
b
hay lg(h) = a + blg(d) (1.13)
H = a + blg(d) (1.14)
Tuy nhiên với mỗi loài cây khác nhau thì phương trình lựa chọn cũng khác
nhau.
Vũ Đình Phương (1975) [33], đã khẳng định giữa đường kính tán và đường
kính ngang ngực luôn tồn tại tương quan chặt chẽ theo dạng đường thẳng. Nguyễn
Ngọc Lung (1987) [34] đã xây dựng biểu tỉa thưa tạm thời và biểu thể tích cây đứng
tạm thời cho Keo lá tràm, trên cơ sở xác lập tương quan D
t

[38] đã chỉ ra rằng, rừng Tếch ở La Ngà (Đồng Nai) sinh trưởng tốt trên đất feralit
14
nâu đỏ phát triển từ đá Bazan (lập địa tốt) với pH > 6,6, sinh trưởng kém trên đất
feralit đỏ vàng phát triển từ đá phiến thạch sét (lập địa trung bình) với pH < 5,0. Trên
lập địa tốt, đường kính và chiều cao rừng Tếch ở tuổi 12 đạt tương ứng 15,0 cm và
19,0m, trữ lượng 200m
3
/ha.
Theo kết quả nghiên cứu của Bảo Huy (1998) [36] về rừng Tếch ở Tây
Nguyên, để xác định chu kỳ kinh doanh hợp ly cần nghiên cứu quy luật sinh trưởng
thể tích cây bình quân lâm phần, trên cơ sở đó xác định mối quan hệ giữa các lượng
tăng trưởng thường xuyên và bình quân, từ đây sẽ tìm được tuổi năng suất tối đa và
thành thục số lượng. Đồng thời ông cũng đưa ra phương trình thành quả:
V = 31.980 Exp(-10.689 A
-0.3
) (1.15)
Phương trình cho thấy: Tuổi đạt năng suất tối đa là 20 năm, đây cũng có thể
coi là cơ sở xác định chu kỳ kinh doanh nếu mục tiêu là kinh doanh gỗ nhỏ đến gỗ
vừa. Tuổi thành thục số lượng là 49 năm đây cũng có thể coi là cơ sở xác định chu kỳ
kinh doanh nếu mục tiêu là kinh doanh gỗ lớn.
Khi nghiên cứu về rừng Tếch ở khu vực miền Đông Nam Bộ, Nguyễn
Văn Thêm (2000) [39] và Mạc Văn Chăm (2005) [40] đã chỉ ra rằng, Tếch sinh
trưởng rất nhanh trong 6 năm đầu, nhưng từ tuổi 8 trở đi lượng tăng trưởng về đường
kính và chiều cao đều giảm nhanh. Suất tăng trưởng đường kính đạt cao ở tuổi 2
(50%), giảm còn 7% (ở tuổi 10) và 2,8% (ở tuổi 20). Năng suất rừng Tếch từ tuổi 9 –
14 dao động từ 13 – 15 m
3
/ha/năm, còn ở tuổi 20 – 22 là 10 m
3
/ha/năm.

hưởng rất lớn đến sinh trưởng, năng suất, chất lượng và tuổi tỉa thưa, tuy nhiên cho
đến nay chưa có nghiên cứu vào về rừng trồng tếch tại vùng Tây Bắc nói chung và
Sơn La nói riêng.
16
CHƯƠNG II - MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG
PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Mục tiêu nghiên cứu
2.1.1. Mục tiêu lý luận
Góp phần xây dựng cơ sở khoa học và thực tiễn cho việc hoàn thiện dữ liệu về
các quy luật cấu trúc và kết cấu lâm phần rừng trồng Tếch làm căn cứ xây dựng
chương trình chặt nuôi dưỡng, chăm sóc và dự đoán sản lượng rừng, đưa kinh doanh
rừng phát triển theo hướng bền vững.
2.1.2. Mục tiêu cụ thể
- Xác định các đặc trưng sinh trưởng, những quy luật cấu trúc, tình trạng phân
hoá và tỉa thưa rừng trồng Tếch làm căn cứ xây dựng phương thức nuôi dưỡng rừng.
- Xây dựng những mô hình biểu thị quan hệ giữa những nhân tố điều tra trên
thân cây làm cơ sở thống kê lâm phần và đề xuất các biện pháp chặt nuôi dưỡng rừng
Tếch ở những giai đoạn tuổi khác nhau.
- Giúp các nhà điều tra viên và chủ rừng thống kê nhanh số cây theo cấp
đường kính, chiều cao và dự đoán một số nhân tố điều tra dựa vào đường kính thân
cây.
Xác định được quy luật cấu trúc cơ bản, mức độ phân hóa giữa các cây trong
rừng Tếch, trên cơ sở đó đề xuất một số biện pháp kỹ thuật phục vụ cho kinh doanh
rừng trồng Tếch trên địa bàn.
Tính mới: Luận văn tổng kết những quy luật cấu trúc, mối liên hệ giữa các đặc
trưng đo đếm sinh vật của lâm phần Tếch thuần loài, đồng thời đây là tài liệu có tính
hệ thống nhằm xây dựng phương thức khai thác – nuôi dưỡng rừng Tếch ở khu vực
Sơn La nói riêng và Tây Bắc nói chung. Có thể nói, kết quả nghiên cứu của luận văn
là công trình khoa học đầu tiên của Việt Nam nghiên cứu một cách hệ thống về đặc
điểm cấu trúc rừng trồng Tếch của khu vực Sơn La nói riêng và khu vực Tây Bắc nói

25
0
30’ vĩ Bắc, và nằm trong phạm vi 70
0
đến 104
0
30’ kinh Đông.
- Độ cao thích hợp dưới 1000m so với mặt nước biển
- Khí hậu thích hợp với Tếch dao động lớn:
+ Lượng mưa bình quân năm từ 500 – 5000 mm/năm. Nhưng sinh trưởng,
phát triển tốt ở vùng khí hậu nhiệt đới nóng ẩm, lượng mưa từ 1.270 mm/năm –
3.800 mm/năm. Tếch đòi hỏi mùa khô từ tháng 3 đến tháng 5.
+ Nhiệt độ bình quân tối đa và tối thiểu tháng lần lượt là 12,5
0
C đến 40
0
C.
- Tếch là loài cây ưa sáng, đối với cây con Tếch nhiều nghiên cứu cho thấy
sinh trưởng tốt ở cường độ ánh sáng 75 – 94% (tính % của toàn sáng).
- Lập địa phù hợp với nhiều loại đất đá (trừ đất kết von, đất cát), nhưng nó
sinh trưởng tốt nhất trên đất hình thành từ đá có nguồn gốc núi lửa như Trap, Bazan,
đá biến chất (Gnai, Diệp thạch). Sinh trưởng được trên nhiều loại địa hình thuộc đỉnh,
19
sườn, chân núi, thung lũng ven sông suối nhưng phải thoát nước tốt. pH đất, theo
nhiều tác giả, là một nhân tố khá quan trọng quyết định sự phân bố của Tếch. Các kết
quả nghiên cứu đã chỉ ra Tếch sinh trưởng tốt trên đất có pH từ 6.5 – 8.0 (trung tính
đến kiềm nhẹ), song ở Việt Nam Tếch vẫn sinh trưởng tốt chỉ ở những nơi đất có xuất
hiện vôi, tuy nhiên còn nhiều ý kiến khác nhau về lượng vôi và loại vôi có trong đất
cũng như việc xuất hiện Tếch kèm theo sự xuất hiện của vôi trong đất.
- Tếch tự nhiên là rừng hỗn loài, ở mỗi nơi có tổ thành cây bạn khác nhau, phổ

, Dt, Lt, tàn che, độ dốc, hướng dốc)
(2) Đặc điểm cấu trúc đường kính rừng trồng Tếch và các mối quan hệ với các
nhân tố ảnh hưởng
+ Quy luật phân bố đường kính thân cây (N/D
1.3
)
+ Mối quan hệ giữa các nhân tố ảnh hưởng tới quy luật phân bố N/D
1.3
(3) Cấu trúc tầng thứ rừng trồng Tếch
(4) Quy luật phân bố đường kính tán cây (N/Dt)
(5) Quan hệ giữa các nhân tố điều tra trên thân cây
+ Quan hệ giữa Hvn – D1.3
+ Quan hệ giữa Dt – D1.3
+ Quan hệ giữa Hdc – D1.3
(6) Nghiên cứu ảnh hưởng của một số chỉ tiêu cấu trúc (A, N, q) đến một số
đặc điểm hình thái thân cây (tỷ lệ Hg/Dg; Tỷ lệ (Hdc/Hg); tỷ lệ (St/g))
(7) Đặc điểm phân hóa và tỉa thưa giữa các cây của rừng trồng Tếch
(8) Đề xuất một số biện pháp kỹ thuật cho rừng trồng Tếch trên địa bàn
2.4. Phương pháp nghiên cứu
2.4.1. Cơ sở phương pháp luận
(1) Quần thụ Tếch là một hiện tượng động. Vì thế, những đặc trưng về kết cấu
và cấu trúc của quần thụ, sự phân hoá cấp sinh trưởng của những cá thể hình thành
rừng Tếch đều phải được xem xét theo thời gian hay tuổi quần thụ.
(2) Trong quá trình sống, mặc dù kết cấu và hình thái thân cây thay đổi tuỳ
theo tuổi và điều kiện sống, nhưng giữa chúng luôn tồn tại mối quan hệ chặt chẽ với
nhau. Vì thế, thông qua nhân tố điều tra này có thể dự đoán được nhân tố điều tra kia.
(3) Sau khi trồng rừng, nuôi rừng là biện pháp cần thiết nhằm hướng dẫn rừng
21
Tếch đạt đến mục đích kinh doanh. Một trong những biện pháp nuôi dưỡng rừng
hiệu quả nhất là chặt nuôi rừng hay tỉa thưa rừng. Nhưng muốn xây dựng được các

giảm dần theo diện tích rừng trồng Tếch ở các xã còn lại: Chiềng Pằn 10 ôtc, Chiềng
Hặc 9 ôtc và sập Vạt 5 ôtc.
* Thu thập số liệu trong ôtc:
Trong mỗi ôtc tiến hành thu thập các thông tin: Đường kính D
1.3
; Hvn; Hdc;
Dt; Lt và phân cấp chất lượng của từng cây; Thu thập số liệu hiện trạng lâm phần bao
gồm các đặc trưng về độ dốc, hướng dốc, tình trạng nền đất rừng (cây bụi thảm tươi,
mức độ tác động của con người), độ tàn che, mật độ, tuổi, độ giao tán, tiết diện ngang
và trữ lượng lâm phần; Cách tiến hành cụ thể ngoài thực địa:
- Đường kính thân cây (D
1.3
, cm): Được đo tại vị trí 1,3m trên thân cây bằng
thước kẹp kính, theo 2 chiều Đông – Tây, Nam - Bắc, lấy giá trị trung bình, độ chính
xác đến 0,1cm.
- Chiều cao thân cây (Hvn, Hdc, m): Được xác định bằng thước đo cao
Blumleiss, độ chính xác đến dm.
- Đường kính tán (Dt, m): Được xác định bằng thước dây, đo hình chiếu của
mép lá theo 2 chiều Đông Tây, Nam Bắc, lấy giá trị trung bình, độ chính xác đến dm.
- Độ dốc mặt đất: Được xác định bằng địa bàn cầm tay tại các sườn dốc nơi
đặt ôtc. Trong mỗi ô tiến hành đo tại 9 vị trí khác nhau rồi lấy giá trị trung bình.
- Hướng dốc: Được xác định bằng địa bàn cầm tay tại sườn dốc nơi đặt ôtc.
- Độ tàn che (TC): Độ TC được xác định bằng phương pháp 100 điểm. Trong
ôtc tiến hành chia thành 4 tuyến song song với chiều dài ôtc, mỗi tuyến cách nhau
5m, trên mỗi tuyến điều tra 20 điểm. Tại mỗi điểm, ngắm theo chiều thẳng đứng lên
tán rừng, nếu thấy tán hoàn toàn cho 1 điểm, thấy nửa tán nửa bầu trời cho 0,5 điểm
và thấy toàn bầu trời cho 0 điểm.
- Tình trạng nền đất rừng (cây bụi thảm tươi, mức độ tác động của con người):
Quan sát trên toàn ôtc và ghi lại những đặc trưng nổi bật: Tình trạng vệ sinh rừng,
phát dọn thực bì, chăn thả gia súc, khai thác gỗ, lấy củi, loài cây bụi chính,v.v..

So
n
N 
(2.1)
Trong đó: n: Số cây trong ôtc (cây) ; So: Diện tích ôtc (m
2
); N: Số cây trên ha
- Chiều dài tán (Lt, m): Lt = Hvn – Hdc (2.2)
- Tổng tiết diện ngang trên ha (G, m
2
/ha):
4-
2
3.1
10
4
*G  DN

(2.3)
- Trữ lượng cây trên ha (M, m
3
/ha): M = GHF (2.4)
- Tổng diện tích tán (St, m
2
/ôtc):
2
4
*S tDnt



đường kính và chiều cao như các hàm: Phân bố chuẩn, phân bố khoảng cách, phân
bố Meyer, v.v... Tuy nhiên, để giảm bớt công tác tính toán mà vẫn đảm bảo tính chính
xác, đề tài tiến hành kế thừa kết quả nghiên cứu của các tác giả đi trước như: Vũ Tiến
Hinh, Trần Văn Con, Đào Công Khanh, Vũ Nhâm, v.v.. cho rằng phân bố Weibull là
phân bố thích hợp nhất. Vì thế, đây là dạng hàm toán học được đề tài dùng xuyên
suốt trong quá trình phân tích mô phỏng đặc trưng cấu trúc lâm phần Tếch
Hàm Weibull là phân bố xác suất của biến ngẫu nhiên liên tục, có miền xác
định (0; +), với hàm mật độ:



x
x
exxf
.1
...)(

 (2.9)
Và hàm phân phối:


x
exF
.
1)(

 (2.10)
Trong đó: ,  là 2 tham số của Weibull
+ Tham số  đặc trưng cho độ nhọn của của đường cong phân bố. Tham số 
25

+ Tham số  đặc trưng cho độ lệch đường cong, tham số này phải tự ước
lượng thông qua hình dạng thực nghiệm của đường cong.
Nếu:  = 1 phân bố có dạng giảm.
 < 3 phân bố có dạng một đỉnh lệch trái.
 = 3 phân bố có dạng tiệm cận chuẩn.
 > 3 phân bố có dạng một đỉnh lệch phải.
Sau khi tính toán xác xuất và tần số lý thuyết theo hàm Weibull tiến hành
kiểm tra giả thuyết về quy luật phân bố, trong trường hợp nếu giả thuyết không chấp
nhận thì phải tiến hành chọn tham số  khác cho phù hợp hơn.
Để kiểm tra sự phù hợp giữa phân bố thực nghiệm với phân bố lý thuyết, dùng
tiêu chuẩn
2
n

(khi bình phương).
Giả thuyết H
0
: Phân bố của nhân tố điều tra theo hàm Weibull
Giả thuyết H
0
được kiểm tra bằng tiêu chuẩn
2
n

như sau:
2
n

=


2
n


2
5.0

(k), thì phân bố
lý thuyết bị bác bỏ, hay nói cách khác là phân bố lý thuyết không phù hợp với phân

Trích đoạn Về địa hình Khí hậu, thuỷ văn Tài nguyên nhân văn cảnh quan môi trường Đặc điểm kinh tế xã hội của huyện Yên Châu 1 Dân số và lao động Giáo dụ c đào tạo
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status