i
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NGUYỄN VĂN BÔNG
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM CẤU TRÚC RỪNG PHÒNG HỘ
TRẠNG THÁI IIA HỒ YÊN LẬP TỈNH QUẢNG NINH LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP
Chân trọng cảm ơn Ban quản lý rừng phòng hộ hồ Yên Lập và các tổ chức,
cá nhân đã giúp đỡ tác giả trong suốt quá trì nh thu thập số liệ u ngoạ i nghiệ p. Thái Nguyên, tháng8/2012
Tác giả Nguyễn Văn Bông
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
iii
MỤC LỤC
Trang
LỜI CẢM ƠN……………………………………………………………………….i
MỤC LỤC………………………………….……………………………………….ii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT…………………………………………………v
DANH MỤC CÁC BẢNG…………………………………………………………vi
DANH MỤC CÁC HÌNH…………………….……………………………….….viii
DANH MỤC TÊN KHOA HỌC CÁC LOÀI CÂY……………………………… ix
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chƣơng 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4
1.1. Trên thế giới ……………………………………………………………………4
1.1.1. Nghiên cứu về cấu trúc rừng……………………………………………… 4
1.1.2. Nghiên cứu về tái sinh rừng ……………………………………………… 8
1.2. Ở Việt Nam ………………………………………………… ………………10
1.2.1. Nghiên cứu về cấu trúc rừng …………………………………………… 10
1.2.2. Nghiên cứu về tái sinh rừng ………………………………………………15
Chƣơng 2: MỤC TIÊU, ĐỐI TƢỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƢƠNG PHÁP
Yên Lập, tỉnh Quảng Ninh …………………………………………………… …34
4.2. Nghiên cứu một số đặc điểm cấu trúc tầng cây cao rừng tự nhiên trạng thái IIa
tại khu vực rừng phòng hộ hồ Yên Lập, tỉnh Quảng Ninh 39
4.2.1. Cấu trúc mật độ 39
4.2.2. Cấu trúc tổ thành 40
4.2.3. Cấu trúc tần thứ và độ tàn che 46
4.2.4. Phân bố số cây theo đƣờng kính 47
4.2.5. Phân bố số cây theo chiều cao 52
4.2.5. Quy luật tƣơng quan giữa chiều cao vút ngọn với đƣờng kính D
1,3
57
4.3. Nghiên cứu đặc điểm tái sinh tự nhiên dƣới tán rừng tự nhiên trạng thái IIa tại
khu vực rừng phòng hộ hồ Yên Lập, tỉnh Quảng Ninh 61
4.3.1. Cấu trúc mật độ cây tái sinh……………………………………… …… 61
4.3.2. Cấu trúc tổ thành cây tái sinh…………………………………………… 62
4.3.3. Nguồn gốc cây tái sinh…………………………………………………….68
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
v
4.3.4. Phẩm chất cây tái sinh và tỷ lệ cây tái sinh triển vọng……………………69
4.3.5. Phân cấp chiều cao cây tái sinh………………………………………… 71
4.4. Đề xuất một số biện pháp kỹ thuật lâm sinh cho phục hồi rừng tự nhiên trạng
thái IIa tại khu vực rừng phòng hộ hồ Yên Lập, tỉnh Quảng Ninh 72
4.4.1. Giải pháp về kỹ thuật………………………………………………… ……73
4.4.2. Các biện pháp khác………………………………………………… …….75
KẾT LUẬN, TỒN TẠI, KHUYẾN NGHỊ 78
1. Kết luận 78
2. Tồn tại 80
3. Kiến nghị 80
N/D
1.3
Phân bố số cây gỗ theo cấp kính tại vị trí 1,3m so với mặt đất
N/Hvn
Phân bố số cây gỗ theo chiều cao vút ngọn
N/ha
Mật độ cây gỗ trên hecta
N/ÔTC
Mật độ cây gỗ trong ô tiêu chuẩn
Ni
Số cây của loài i có trong ô tiêu chuẩn
Ni%
Hệ số tổ thành của loài i theo mật độ
ÔTC
Ô tiêu chuẩn
R
2
Hệ số xác định
S
k
Độ lệch của phân bố
S
x
Sai tiêu chuẩn
S
2
phòng hộ hồ Yên Lập
30
3.3
Tổng hợp số lao động của các xã, phƣờng có trong khu vực rừng
phòng hộ hồ Yên Lập
30
4.1
Hiện trạng sử dụng đất tại khu vực nghiên cứu
34
4.2
Tổng hợp diện tích đất có rừng của khu vực rừng phòng hộ hồ Yên
Lập
35
4.3
Phân bố rừng tự nhiên trạng thái IIa tại khu vực nghiên cứu
36
4.4
Đặc điểm của khu vực rừng tự nhiện trạng thái IIa phân bố
37
4.5
Cấu trúc mật độ tầng cây cao của rừng tự nhiên trạng thái IIa
39
4.6
Cấu trúc tổ thành của tầng cây cao theo mật độ
40
4.7
Cấu trúc tổ thành tầng cây cao theo chỉ số IV%
43
4.8
Cấu trúc tầng thứ và độ tàn che của rừng tự nhiên trạng thái IIa tại
4.14
Kết quả mô phỏng và kiểm tra giả thuyết về phân bố N/Hvn của
rừng tự nhiên trạng thái IIa tại khu vực nghiên cứu
54
4.15
Tƣơng quan H/D
1.3
của rừng tự nhiên trạng thái IIa tại khu vực
nghiên cứu
57
4.16
Cấu trúc mật độ cây tái sinh
61
4.17
Cấu trúc tổ thành cây tái sinh ở xã Tân Dân, huyệnHoành Bồ
62
4.18
Cấu trúc tổ thành cây tái sinh ở xã Quảng La, huyện Hoành Bồ
64
4.19
Cấu trúc tổ thành cây tái sinh ở xã Bằng Cả, huyện Hoành Bồ
65
4.20
Cấu trúc tổ thành cây tái sinh ở xã Dân Chủ, huyện Hoành Bồ
67
4.21
Nguồn gốc cây tái sinh dƣới tán rừng tự nhiên trạng thái IIa
68
4.22
Phẩm chất cây tái sinh dƣới tán rừng tự nhiên trạng thái IIa
4.3
Tƣơng quan H/D
1.3
của rừng tự nhiên trạng thái IIa
59
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
x
DANH MỤC TÊN KHOA HỌC CỦA CÁC LOÀI CÂY
Tên Việt Nam
Tên Khoa học
Họ Khoa học
Bã đậu
Hura crepitans L.
Euphorbiaceae
Ba gạc
Rauvolfia verticillata (Lour.) Baill
Apocynaceae
Ba soi
Macaranga denticulata (Blume) Muell
Euphorbiaceae
Bồ đề cánh trắng
Styrax spp
Styracaceae
Bồ đề xanh lá nhẵn
Alniphyllum fortunei (Hemsl.) Perkins
Styracaceae
Bời lời
Elaeocarpus sp
Elaeocarpaceae
Côm tầng
Elaeocarpus dubius A.DC.
Elaeocarpaceae
Côm trâu
Elaeocarpus floribundus Blume
Elaeocarpaceae
Đáng chân chim
Aralia octophylla Lour.
Araliaceae
Dâu da
Baccaurea spp
Euphorbiaceae
Dâu da dất
Baccaurea sapida Muell - Arg
Euphorbiaceae
Dâu ta
Morus alba L.
Moraceae
Dẻ bàn tính
Lithocarpus spp
Fagaceae
Dẻ bộp
Quercus poilanei Hickel ex A.Camus
Fagaceae
Dẻ cau
Quercus platycalyx H. ex A. Camus
Fagaceae
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Bridelia monoica (Lour.) Merr
Euphorbiaceae
Dung giấy
Symplocos laurina Wall
Symplocaceae
Găng thạch
Randia spinosa (Thunb) Poir
Rubiaceae
Gội nếp
Aglaia spectabilis (Miq.) Jain ex Bennet
Meliaceae
Kè
Livistona chinensis Mart
Arecaceae
Kháo
Cinnadenia paniculata (Hook.f.) Kostem
Lauraceae
Kháo vàng
Machilus odoratissima Ness
Lauraceae
Lá nến
Macaranga denticulata Blume
Euphorbiaceae
Lá nến xanh
Macaranga spp
Euphorbiaceae
Lăn tăn
Pilea microphylla (L.) Liebm
Urticaceae
Lim xanh
Màng tang
Litsea cubeba (Lour.) Pers
Lauraceae
Mé cò ke
Microcos paniculata L.
Tiliaceae
Mít nài
Artocarpus rigidus Blume
Moraceae
Mò lông
Litsea umbellata (Luor.) Merr
Lauraceae
Mò vối thuốc
Actinodaphne cochichinensis H. Lec
Lauraceae
Ngát
Gironniera subaequalis Planch
Ulmaceae
Ngoã lông
Ficus variegata Blume
Moraceae
Nhựa ruồi
Ilex cymosa Thunb
Aquifoliales
Nóng
Saurauia napaulensis D.C
Actinidiceae
Nóng sổ
Saurauia tristyla D.C
Actinidiceae
Sẻn gai
Zanthoxylum armatum DC.
Rutaceae
Sồi hồng
Qercus sp
Fagaceae
Sồi phảng
Castanopsis cerebrina Barnett.
Fagaceae
Sồi xanh
Lithocarpus pseudosundaicus Camus
Fagaceae
Sơn ta
Rhus succedanea L.
Anacardiaceae
Súm lông
Eurya ciliata Merr
Theaceae
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
xiii
Súm năm ô
Eurya quinquelocularis Kobuski
Theaceae
Sung rừng
Ficus racemosa L.
Moraceae
Sung rừng quả nhỏ
Ficus lacor Buch. Ham
Burseraceae
Trọng đũa gỗ
Ardisia crenata Sims
Myrsinaceae
Trƣờng hôi
Tapicsia sinensis Oliv
Staphyleaceae
Tu hú lá lớn
Callicarpa macrophylla Vahl
Verbenaceae
Vải guốc
Nephelium chryseum Blume
Sapindaceae
Vải thiều rừng
Nephelium cuspidatum Blume
Sapindaceae
Vai trắng
Daphniphyllum atrobadium Croiz ex
Metc
Daphniphyllace
ae
Vàng anh
Saraca dives Pierre
Caesalpiniaceae
Vàng nghệ
Garcinia hanburyi Pierre
Clusiaceae
Vạng trứng
Endospermum chinnenese Benth
Euphorbiaceae
- xã hội miền núi.
Lƣu vực rừng phòng hộ hồ Yên Lập có vị trí chiến lƣợc rất quan trọng trong
sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội và môi trƣờng của tỉnh Quảng Ninh. Trên sông
Míp đã xây dựng đập hồ Yên Lập vào năm 1975, năm 1991 hồ Yên Lập đƣợc chính
thức đƣa vào sử dụng. Hồ Yên Lập xây dựng nhằm giải quyết những nhiệm vụ
chính nhƣ: chống lũ cho thị xã Quảng Yên và phƣờng Đại Yên, Việt Hƣng thành
phố Hạ Long; cung cấp nƣớc sản xuất nông nghiệp, công nghiệp và nƣớc sinh hoạt
huyện Hoành Bồ, thị xã Quảng Yên, thành phố Uông Bí, Hạ Long. Tới đây hồ Yên
Lập còn cung cấp nƣớc phục vụ huyện Thủy Nguyên, huyện đảo Cát Bà thuộc
thành phố Hải Phòng, phát triển giao thông vận tải đƣờng thuỷ, thuỷ sản, cải tạo
môi trƣờng du lịch thành phố Hạ Long và phát triển du lịch. Nhận thức rõ tầm quan
trọng của rừng phòng hộ đầu nguồn hồ Yên Lập, ngày 15/4/1991 Chủ tịch ủy ban
nhân dân tỉnh Quảng Ninh đã ra Quyết định số 473-QĐ/UB V/v thành lập Ban quản
lý công trình trồng rừng tỉnh Quảng Ninh. Tại Quyết định số 990 QĐ/UB ngày
20/5/1995 V/v tách Ban quản lý công trình trồng rừng thành 02 Ban riêng biệt,
trong đó có Ban quản lý rừng phòng hộ hồ Yên Lập trực thuộc Sở Nông lâm ngƣ
nghiệp. Trên diện tích đất 04 xã thuộc huyện Hoành Bồ, một phần của 03 phƣờng
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 2
thuộc thành phố Hạ Long và phƣờng Minh Thành thị xã Quảng Yên với tổng diện
tích lƣu vực hồ Yên Lập là 18.502 ha, trong đó diện tích rừng tự nhiên 12.113,6 ha,
rừng trồng 3.203,4 ha, đất trống 910,1 ha, đất khác 2.274,9 ha.
Vì rừng phòng hộ đầu nguồn hồ Yên Lập bị tàn phá mạnh do các hoạt động
khai thác gỗ trái phép, chặt phá rừng làm cấu trúc rừng bị thay đổi, nên sau nhiều
năm đƣa vào sử dụng, lòng hồ Yên Lập đã bị bồi lắng rất nhiều, nguy cơ giảm tuổi
thọ sử dụng của hồ là rất lớn. Bên cạnh đó lƣu lƣợng nƣớc ở lòng hồ cũng thay đổi
khá mạnh, lũ lớn vào mùa mƣa và thiếu nƣớc vào mùa khô, gây ảnh hƣởng nghiêm
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 4
Chƣơng 1
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Trên thế giới
1.1.1. Nghiên cứu về cấu trúc rừng
Rừng tự nhiên là đối tƣợng có cấu trúc hết sức phức tạp. Do vậy, việc nghiên
cứu các quy luật kết cấu của rừng làm cơ sở đề xuất các biện pháp lâm sinh tác
động nhằm nâng cao năng suất và khả năng phục hồi của rừng rất đƣợc các nhà
khoa học trên thế giới quan tâm và tập trung vào một số vấn đề chính nhƣ sau:
1.1.1.1. Nghiên cứu về cấu trúc tổ thành
Cấu trúc tổ thành là sự tham gia của những loài cây trong lâm phần, hay nói
cách khác là sự phong phú của các loài cây trong quần thụ thực vật. Theo tác giả
Richards P.W (1952), trong rừng mƣa nhiệt đới, trên mỗi ha thƣờng có ít nhất 40 loài
cây gỗ, mà có trƣờng hợp còn đến trên 100 loài [25].
Khi nghiên cứu cấu trúc tổ thành rừng tự nhiên nhiệt đới thành thục (về sinh
thái), Evans, J. (1984) xác định, có tới 70 - 100 loài cây gỗ trên 1 ha, nhƣng hiếm có
loài nào chiếm hơn 10% tổ thành loài (dẫn theo Ngô Út, 2010) [41].
Theo Tolmachop A.L. (1974) ở vùng nhiệt đới thành phần thực vật rất đa
dạng thể hiện ở chỗ rất ít họ chiếm tỷ lệ 10% tổng số loài của hệ thực vật đó và tổng
tỷ lệ phần trăm của 10 họ có số loài lớn nhất chỉ đạt 40-50% tổng số loài (dẫn theo
Viện Điều tra quy hoạch rừng, 2006). Trong rừng hỗn giao, nhiều loài cây gỗ lớn
phân bố theo tỷ lệ khá cân bằng, tuy nhiên phần lớn trong một quần thụ thƣờng có
1-2 loài chiếm ƣu thế [42].
Schimper (1935) khi nghiên cứu rừng vùng Bắc Mỹ cho thấy có 25-30 loài
thực vật thuộc nhóm cây cho gỗ lớn (dẫn theo Ngô Út, 2010) [41].
cây để phân cây cối thành tầng đều có tính chất tùy tiện và các tầng đó không có
một thực tế khách quan. Booberg (1932) đã lập đồ thị chiều cao của tất cả các cây
gỗ đo đƣợc trong các “khu rừng bảo vệ” ở Java và đi đến kết luận là không thể nhận
ra có mấy tầng cây nhƣ các tác giả khác đã mô tả. Ngƣợc lại, nhiều tác giả khác cho
rằng rừng mƣa thƣờng có từ ba đến năm tầng: Brown (1919) khi nghiên cứu rừng
cây họ Dầu tại Phillippines, đã cho biết là các cây gỗ lớn sắp xếp thành ba tầng khá
rõ rệt. Để nghiên cứu sự phân tầng trong rừng mƣa ở Guana, Davis và Richards
P.W ( 1933-1934) dùng phƣơng pháp vẽ biểu đồ mặt cắt đứng của rừng, phƣơng
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 6
pháp này đƣợc đánh giá có giá trị nhất về mặt nghiên cứu lí luận cũng nhƣ về thực
tiễn sản xuất, kết quả đã phân rừng hỗn giao nguyên sinh ở sông Moraballi tại
Guana thành năm tầng với ba tầng cây gỗ (A, B, C) tầng cây bụi (D) và tầng mặt đất
(E). Richards P.W (1936) cho biết trong rừng cây họ Dầu hỗn hợp nguyên sinh ở
núi Dulit tại Borneo có 3 tầng cây gỗ nhƣng tầng A phân biệt rõ ràng còn tầng B và
C khó xác định rõ ranh giới, ngoài ra còn có một tầng cây bụi và tầng thực vật mặt
đất; năm 1939 ông cũng phân rừng hỗn hợp nguyên sinh ở Nigeria thành năm tầng
với ba tầng cây gỗ. Vaughan và Weihe (1941) nhận thấy rằng trong rừng cao đỉnh
tại Moritiut sự phân tầng là có thực và Bear (1946) cũng mô tả sự phân tầng rõ rệt
trong rừng Trinidad, với ba tầng cây gỗ và tầng cây bụi, tầng mặt đất (theo Richards
P.W (1952)). Catinot (1974) cho rằng: rừng ẩm nhiệt đới có sự phân hoá mạnh,
những tầng trong quần thụ rõ nét, cụ thể là có một tầng vƣợt tán với những cây có
chiều cao trên 40m và những tầng bên dƣới. Ngoài ra, khi liệt kê các nghiên cứu về
cấu trúc hình thái rừng nhiệt đới còn phải kể đến các tác giả nhƣ Catinot.R (1965),
Plandy.J (1978), đã biểu diễn cấu trúc hình thái rừng bằng phẫu diện đồ ngang và
đứng (dẫn theo Nguyễn Thanh Tiến, 2010) [31].
Richards (1952) phân rừng ở Nigeria thành 6 tầng với các giới hạn chiều cao
1.1.1.3. Nghiên cứu về cấu trúc mật độ
Cũng theo tác giả Richards P.W (1952), trong rừng mƣa nhiệt đới ở Nam Mỹ
và châu Phi, mật độ lâm phần (cây có đƣờng kính ngang ngực từ 10 cm trở lên) biến
động từ 390 - 1.710 cây/ha, trong đó mật độ của những cây có đƣờng kính từ 41cm
trở lên khoảng 39 - 60 cây/ha. Baur G.N (1962), cũng cho biết: trong rừng mƣa
nguyên sinh ở Mã Lai trên diện tích một hecta có khoảng 550 cây có đƣờng kính từ
10cm trở lên, trong đó những cây có đƣờng kính trên 48cm từ 42 - 65 cây/ha [25].
Về mật độ tối ƣu lâm phần, tác giả H. Thomasius (1972) đã xây dựng lý
thuyết khoảng sống và hằng số không gian sinh trƣởng liên quan tới chiều cao, mật
độ và tuổi. Kairukstis (1980) xác định mật độ tối ƣu lâm phần theo diện tích tán lá
và mức độ che phủ. Chiabera (1982) mô hình hóa mật độ tối ƣu theo tuổi và lấy mật
độ tại tuổi 100 làm gốc (dẫn theo Nguyễn Ngọc Lung, 1987) [16]. Nhƣng các
phƣơng pháp này chỉ thích hợp cho nghiên cứu rừng thuần loài đều tuổi. Đối với
rừng hỗn loài khác tuổi, việc xác định tuổi lâm phần rất khó khăn, cho nên khó áp
dụng đối với rừng nhiệt đới hỗn loài khác tuổi.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 8
Nghiên cứu của Joost E. Duivenvoorden (1995) tại vùng Amazon thuộc
Comlombia cho thấy, trong 95 ô tiêu chuẩn, với diện tích 0,1 ha, phân bố ở các vị
trí địa hình khác nhau có 1077 loài với đƣờng kính ngang ngực (DBH) ≥ 10cm. Các
loài này thuộc 271 giống của 60 họ, trong đó các họ Leguminosae và họ Sapotaceae
có nhiều loài có giá trị nhất [46].
1.1.2. Nghiên cứu về tái sinh rừng
Tái sinh rừng đóng vai trò rất quan trọng trong việc hình thành, duy trì và
phát triển của thảm thực vật rừng. Do vậy, nghiên cứu về tái sinh rừng đã đƣợc
nhiều tác giả trên thế giới thực hiện. Davis và Richards (1933-1934) nghiên cứu
rừng mƣa ở khu vực sông Moraballi, Guana, đã thống kê số cây thứ tự từ thấp đến
Độ khép tán của quần thụ ảnh hƣởng trực tiếp đến mật độ và sức sống của cây
con. Trong công trình nghiên cứu mối quan hệ qua lại giữa cây con và quần thụ,
V.G. Karpov (1969) đã chỉ ra đặc điểm phức tạp trong quan hệ cạnh tranh về dinh
dƣỡng khoáng của đất, ánh sáng, ẩm độ và tính chất không thuần nhất của quan hệ
qua lại giữa các cá thể tuỳ thuộc đặc tính sinh vật học, tuổi và điều kiện sinh thái
của quần thể thực vật. I.N.Nakhtenko (1973) cho rằng: sự trùng hợp cao của sự hấp
thụ dinh dƣỡng giữa hai loài có thể gây cho nhau sự kìm hãm sinh trƣởng và làm
tăng áp lực cạnh tranh giữa hai loài (dẫn theo Nguyễn Văn Thêm, 1992) [28].
Đối với rừng thuần loài cũng đã có nhiều tác giả nghiên cứu về khả năng tái
sinh tự nhiên của loại rừng này. Mary L. Duryea (1981) [48] nghiên cứu về tái sinh
của rừng thông thuần loài đã đề xuất 6 bƣớc để thực hiện tái sinh tự nhiên, bao gồm:
Lựa chọn cây làm giống; xây dựng kế hoạch để xác định mùa giống tốt; khai thác
rừng thông; chuẩn bị hiện trƣờng (có thể đốt hoặc cày xới đất, để hạt dễ tiếp xúc,
nẩy mầm); khai thác những cây còn chừa lại; kiểm soát các loài thực bì để cây
thông con phát triển.
Khi nghiên cứu về tái sinh và quản lý rừng mƣa các tác giả Arturo Gomez-
Pompa, Timothy Charles Whitmore and Malcolm Hedley (1991) [44] đã đề cập đến
khả năng tái sinh cũng nhƣ những yếu cầu về quản lý đối với tái sinh rừng, những
vấn đề liên quan chủ yếu là thành phần đa dạng sinh học, các động lực tái sinh ở các
tỷ lệ không gian khác nhau, sinh lý thực vật của các loài mọc nhanh, khả năng tái
sản xuất và di truyền, quả và quan hệ sinh thái chất nuôi dƣỡng với cây con và cuối
cùng là những vấn đề liên quan đến quản lý rừng.
Tổ chức FAO tại Bangkok - Thái Lan đã tổng kết những tiến bộ trong việc
hỗ trợ phục hồi tái sinh rừng tự nhiên vùng Châu Á - Thái Bình Dƣơng, các tác giả
Patrick C. Dugan, Patrick B. Durst, David J. Ganz và Philip J.McKenzie (2003)
[49] đã tập hợp các nhân tố quan trọng ảnh hƣởng đến tái sinh rừng tự nhiên tại các
nƣớc, gồm: kiểm soát lửa rừng, hạn chế chăn thả, ngăn chặn sự phát triển của các
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
tạo thành các quần hợp nhƣ vùng ôn đới. Theo Nguyễn Hồng Quân (1982), trong
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 11
rừng loại IVB ở Kon Hà Nừng, trên diện tích một ha có khoảng 60 loài, nhƣng các
loài có tổ thành lớn nhất cũng không vƣợt quá 10%. Nguyễn Văn Trƣơng (1983),
cho rằng: trong rừng tự nhiên hỗn loài, chỉ tính loài cây gỗ từ trạng thái rừng sào trở
lên cũng có đến ba bốn chục loài trên một ha, nhƣng trong đó loài cây gỗ lớn có thể
vƣơn đến lớp không gian cao 30m chỉ từ 10 - 20%. Nguyễn Ngọc Lung (1991) qua
điều tra các dạng rừng khí hậu ở Hƣơng Sơn, Kon Hà Nừng và một số địa phƣơng
khác, cũng cho biết: trên ô tiêu chuẩn diện tích một ha thƣờng có từ 23 - 25 loài, với
số cây thấp nhất cũng đạt 317 cây và cao nhất đến 859 cây trên một ha [18], [24],
[33].
So sánh với khu vực khác trên thế giới, Phạm Hoàng Hộ (1999) cho biết: nếu
ở rừng Amazon, trung bình có khoảng 90 loài trên ha, thì ở Đông Nam Á đến 160
loài [8].
Để đánh giá tổ thành rừng, nhiều tác giả đã sử dụng công thức tổ thành trên tỉ
lệ phần mƣời theo số cây, tiết diện ngang, hoặc chỉ số IV%, trong đó phƣơng pháp
tính tỉ lệ tổ thành (IV%) theo phƣơng pháp của Daniel Marmillod, Vũ Đình Huề
(1984) thƣờng đƣợc các nhà khoa học vận dụng trong những công trình nghiên cứu
cấu trúc rừng [9].
Về nghiên cứu mối quan hệ sinh thái giữa các loài cây trong rừng tự nhiên,
Nguyễn Hải Tuất (1991), đã sử dụng phƣơng pháp tƣơng quan giữa hai sự kiện và
phƣơng pháp kiểm tra tính độc lập bằng mẫu biểu 2 x 2. Hạn chế của phƣơng pháp
trên là kết quả đánh giá phụ thuộc vào độ lớn của ô thu thập số liệu, và tác giả đã đề
xuất có thể dùng phƣơng pháp 6 cây để đánh giá sẽ khách quan hơn [37].
Bùi Đoàn (2001) đã áp dụng phƣơng pháp phân tích định tính (dựa vào tổ
thành ƣu thế các loài tham gia lập quần và tầng ƣu thế sinh thái) và phƣơng pháp
tế trong tƣơng lai và ngƣợc lại. Việc khai thác rừng sẽ làm thay đổi cấu trúc tổ
thành loài. Nghiên cứu ở Lâm Trƣờng Ba Rền cho thấy, trong khi nhóm loài cây
mục đích ở rừng giàu và trung bình chiếm 30-50% thì ở rừng nghèo sau khai thác
nhiều lần chỉ chiếm 13 - 25%. Ở Hƣơng Sơn có những vùng Chẹo và Ngát chiếm
32%, các loài khác chiếm 41% nghĩa là 73% ƣu thế là các loài kém giá trị kinh tế.
Tại Kon Hà Nừng cũng nhận thấy tổ thành các loài có giá trị kinh tế ở rừng giàu
(Giổi, Sữa, Xoay, Re, Xoan đào, Thông nàng, ) chiếm 20% trong khi ở rừng nghèo
chỉ có 13% dẫn theo Nguyễn Thanh Tiến, 2010) [31].
1.2.1.2. Nghiên cứu về cấu trúc tầng thứ
Trên quan điểm nghiên cứu về cấu trúc tầng thứ của rừng, khác với một số
tác giả nƣớc ngoài về quan điểm tầng thứ trong rừng nhiệt đới, ở Việt Nam hầu nhƣ
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên