1
Phần 1
MỞ ĐẦU
1.1 Đặt vấn đề
Cây rừng là lá phổi xanh của trái đất. Cây cung cấp cho chúng ta oxi và
hút cacbonnic do chúng ta thải ra. Ngày nay, dân số ngày càng tăng cao,
lượng oxi càng ngày bị mất đi do nhu cầu hô hấp của con người. Thiếu cây
rừng, thiếu oxi thì làm sao chúng ta tồn tại?
Hơn thế nữa, cây rừng còn là "ngôi nhà xanh" của những loài thú hoang
dã. Thú sống trong "ngôi nhà" của chúng thì điều kiện sống sẽ tốt hơn. Hiện
nay, nhiều loài thú hoang dã có nguy cơ bị tuyệt chủng cao. Một phần của
việc đó cũng chính là vì nơi sống của chúng đang bị tàn phá. Chúng ta có thể
khẳng định một điều: Đối với con người và động vật thì cây rừng giữ vai trò
quan trọng tất yếu.
Đặc biệt hơn nữa, cây rừng rất quan trọng đối với sự sống của nhân
loại. Cây rừng ngăn lũ lụt, thiên tai thất thường. Khi nước lũ dâng cao, cây
rừng cản sức nước và rễ cây sẽ hút phần nào nước lũ. Có cây rừng, sức nước
đỡ mạnh hơn và nước cũng chẳng còn nhiều. Cây rừng còn chắn gió, từng tán
lá, cành cây sum xuê mở rộng chắn từng làn gió lớn của bão giúp hạn chế và
làm suy yếu sức mạnh tại những vùng bão đi qua. Bởi lợi ích đó mà ở mỗi bãi
biển người ta thường trồng nhiều cây. Trồng cây bãi biển vừa tạo không khí
trong lành vừa bảo vệ chính chúng ta.
Thế nhưng, tệ nạn phá rừng ngày càng nghiêm trọng trên phạm vi toàn
cầu. Có thể nói, rừng là nước cho đời sống của thực vật và cho sản xuất của
xã hội, là không khí trong lành, rừng là năng suất mùa màng, và có khả năng
điều hòa khí hậu… Rừng đóng vai trò quan trọng như thế, nhưng hiện nạy
rừng trên thế giới đang kêu cứu, cứ mỗi phút trôi qua có tới hơn 22 ha rừng
nhiệt đới bị phá huỷ. Sự mất mát quá lớn của rừng tất yếu dẫn đến nghèo kiệt
của đất đai và sự biến mất dần những sinh vật quý hiếm, sự tăng hàm lượng
cacbonnic trong khí quyển - một trong những chất khí quan trọng nhất gây
nên “hiệu ứng nhà kính”, làm tăng nhiệt độ trung bình của trái đất…
vào thực tế sản xuất. Làm quen với một số phương pháp được sử dụng trong
nghiên cứu đề tài cụ thể. Học tập, hiểu biết thêm về kinh nghiệm, kỹ thuật
được áp dụng trong thực tiễn tại địa bàn nghiên cứu.
2
3
1.4.2.Ý nghĩa thực tiễn sản xuất
Việc nghiên cứu này sẽ giúp chúng ta hiểu rõ hơn về khả năng phục hồi
tự nhiên của rừng và có cơ sở đề ra những biện pháp lâm sinh như khoanh
nuôi phục hồi rừng, làm giàu rừng để có thể tận dụng được những khu rừng
sinh trưởng phát triển tự nhiên mang lại hiệu quả hơn cho cuộc sống của
người dân cũng như việc cải tạo môi trường, tăng mức độ đa dạng sinh học.
3
4
Phần 2
TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
2.1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu
2.1.1. Các khái niệm có liên quan
Hệ sinh thái rừng (Forest ecosystem) là một hệ sinh thái mà thành phần
nghiên cứu chủ yếu là sinh vật rừng (các loài cây gỗ, cây bụi, thảm tươi, hệ
động vật và vi sinh vật rừng) và môi trường vật lý của chúng (khí hậu, đất).
Nội dung nghiên cứu hệ sinh thái rừng bao gồm cả cá thể, quần thể, quần xã
và hệ sinh thái, về mối quan hệ ảnh hưởng lẫn nhau giữa các cây rừng và giữa
chúng với các sinh vật khác trong quần xã đó, cũng như mối quan hệ lẫn nhau
giữa những sinh vật này với hoàn cảnh xung quanh tại nơi mọc của chúng.
Theo khoản 1 điều 3 của Luật bảo vệ và phát triển rừng Việt Nam năm
2004: Rừng là một hệ sinh thái bao gồm quần thể thực vật rừng, động vật
rừng, vi sinh vật rừng, đất rừng và các yếu tố môi trường khác, trong đó cây
gỗ, tre nứa hoặc hệ thực vật đặc trưng là thành phần chính có độ che phủ của
tán rừng từ 0,1* trở lên [9]. Rừng gồm rừng trồng và rừng tự nhiên trên đất
rừng sản xuất, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng (quy định trước đây
Tổ thành của các khu rừng nhiệt đới thường phong phú về các loài hơn
là tổ thành các loài cây của rừng ôn đới.
Cấu trúc tầng thứ
Sự phân bố theo không gian của tầng cây gỗ theo chiều thẳng đứng,
phụ thuộc vào đặc tính sinh thái học, nhu cầu ánh sáng của các loài tham gia
tổ thành. Cấu trúc tầng thứ của các hệ sinh thái rừng nhiệt đới thước nhiều
tầng thứ hơn các hệ sinh thái rừng ôn đới.
Một số cách phân chia tầng tán:
Tầng vượt tán: Các loài cây vươn cao trội hẳn lên, không có tính liên tục.
Tầng tán chính (tầng ưu thế sinh thái): Cấu tạo nên tầng rừng chính,có tính
liên tục.
Tầng dưới tán: Gồm những cây tái sinh và những cây gỗ ưa bóng.
Tầng thảm tươi: Chủ yếu là các loài thảm tươi.
Thực vật ngoại tầng: Chủ yếu là các loài thân dây leo.
5
6
Cấu trúc tuổi: Cấu trúc về mặt thời gian, trạng thái tuổi tác của các loài
cây tham gia hệ sinh thái rừng, sự phân bố này có mối liên quan chặt chẽ với
cấu trúc về mặt không gian.
Trong nghiên cứu và kinh doanh rừng người ta thường phân tuổi lâm
phần thành các cấp tuổi. Thường thì mỗi cấp tuổi có thời gian là 5 năm, nhiều
khi là các mức 10, 15, hoặc 20 năm tùy theo đổi tượng và mục đích.
Cấu trúc mật: độ phản ánh số cây trên một đơn vị diện tích. Phản ảnh
mức độ tác động giữa các cá thể trong lâm phần. Mật độ ảnh hưởng đến tiểu
hoàn cảnh rừng, khả năng sản xuất của rừng. Theo thời gian, cấp tuổi của
rừng thì mật độ luôn thay đổi. Đây chính là cơ sở của việc áp dụng các biện
pháp kỹ thuật lâm sinh trong kinh doanh rừng.
2.1.2. Những nghiên cứu trên Thế giới
Trên thế giới, việc nghiên cứu cấu trúc rừng đã được tiến hành từ lâu
nhằm xác định cơ sở khoa học cho việc đề xuất các biện pháp kỹ thuật tác
gần
đây,
cấu trúc
rừng
ở
nước
ta
đã
được
nhiều
tác
giả
quan
tâm
nghiên
rừng,
đề
ra
biện
pháp
lâm
sinh hợp
lý.
Trần Ngũ Phương (1970) [7] khi nghiên cứu về kiểu rừng nhiệt đới
mưa mùa lá rộng thường xanh đã có nhận xét: “Rừng tự nhiên dưới tác động
của con người khai thác hoặc làm nương rẫy lặp đi lặp lại nhiều lần thì kết
quả cuối cùng là sự hình thành đất trống, đồi núi trọc. Nếu chúng ta để thảm
thực vật hoang dã tự nó phát triển lại thì sau một thời gian dài trảng cây bụi,
trảng cỏ sẽ chuyển dần lên những dạng thực bì cao hơn thông qua quá trình
tái sinh tự nhiên và cuối cùng rừng khí hậu sẽ có thể phục hồi dưới dạng gần
giống rừng khí hậu ban đầu”.
Thái Văn Trừng (1978) [15] khi nghiên cứu kiểu rừng kín thường xanh
mưa ẩm nhiệt đới nước ta đã đưa ra mô hình cấu trúc vượt tán, tầng ưu thế sinh
thái, tầng dưới tán, tầng cây bụi và tầng cỏ quyết.
Nguyễn Văn Trương (1983) [16] đã nghiên cứu mối quan hệ giữa lớp cây
tái sinh với tầng cây gỗ và quy luật đào thải tự nhiên dưới tàn rừng.
Vũ Tiến Hinh (1991) [3] khi nghiên cứu đặc điểm tái sinh tự nhiên tại
căn
cứ
vào
tổ
thành
loài
cây
mục
đích
để
phân
loại
rừng
phục
vụ
của
Thái
Văn
Trừng
kết
hợp
với
hệ
thống
phân
loại
của
Loeschau,
chia
rừng
trạng có số lượng loài cây gỗ tái sinh nhiều nhất, chỉ số đa dạng loài của thảm
cây gỗ là khá cao.
Đặng Kim Vui (2002) [17], nghiên cứu đặc điểm cấu trúc rừng phục
hồi sau nương rẫy để làm cơ sở đề xuất giải pháp khoanh nuôi, làm giàu rừng
ở huyện Đồng Hỷ tỉnh Thái Nguyên, đã kết luận đối với giai đoạn phục hồi từ
1 -2 (hiện trạng là thảm cây bụi) thành phần thực vật 72 loài thuộc 36 họ và
8
9
họ Hòa thảo (Poaceae) có số lượng lớn nhất (10 loài), sau đó đến họ Thầu dầu
(Euphorbiaceae) 6 loài, họ Trinh nữ (Mimosaceae) và họ Cà Phê (Rubiaceae)
mỗi họ có 4 loài. Bốn họ có 3 loài là họ Long não (Lauraceae), họ Cam
(Rutaceae), họ Khúc khắc (Smilacaceae) và họ Cỏ roi ngựa (Verbenaceae).
Ngoài ra, cấu trúc trạng thái thảm thực vật cây bụi này có số cá thể trong ô
tiêu chuẩn cao nhất nhưng lại có cấu trúc hình thái đơn giản, độ che phủ thấp
nhất 75 - 80 %, chủ yếu tập trung vào các loài cây bụi.
Như vậy, có nhiều tác giả trong nước cũng như ngoài nước đều cho
rằng việc phân chia loại hình rừng ở Việt Nam là rất cần thiết đối với nghiên
cứu cũng như trong sản xuất. Nhưng tùy từng mục tiêu đề ra mà xây dựng các
phương pháp phân chia khác nhau nhưng đều nhằm mục đích làm rõ thêm các
đặc điểm của đối tượng cần quan tâm.
2.1.4. Khái khát rừng phục hồi
Quá trình hình thành nên rừng thứ sinh do diễn thế thứ sinh ở nơi đã bị
mất rừng là phục hồi rừng.
Theo tác giả Trần Đình Lý (1995) [6], phục hồi rừng là một quá trình
sinh địa phức tạp gồm nhiều thời gian và kết thúc bằng sự xuất hiện một thảm
thực vật cây gỗ (hoặc tre nứa) bắt đầu khép tán. Nói một cách khác, phục hồi
rừng là quá trình tái tạo lại một hệ sinh thái, một quần xã sinh vật mà trong đó
cây gỗ là yếu tố cấu thành chủ yếu, nó chi phối các quá trình biến đổi tiếp theo.
Chỉ tiêu định lượng xác định rừng non thứ sinh phục hồi đối với rừng
gỗ sử dụng quan điểm của Trần Đình Lý (1995) là: độ tàn che của cây gỗ có
* Tiểu vùng 2: Gồm 5 xã phía nam là Tràng Xá và Bình Long được quy
định quản lý quy hoạch như đô thị loại 5. Tiểu vùng 2 có đường giao thông
tỉnh lộ 265 từ Đình Cả - Tràng Xá - Dân Tiến - Bình Long vơi huyện Hữu
Lũng tỉnh Lạng Sơn được đấu nối với Quốc lộ 1A; đường Tràng Xá - Liên
Minh - Văn Hán (Đồng Hỷ). Đây là khu vực nếu được đầu tư có điều kiện
phát triển tương đối thuận lợi.
* Tiểu vùng 3: Gồm 6 xã phía Bắc của huyện là Nghinh Tường, Sảng
Mộc, Thượng Nung, Vũ Chấn, Thần Sa, Cúc Đường. Có 2 trung tâm cụm xã
là Cúc Đường và Nghinh Tường được qui định quản lý quy hoạch như đô thị
loại 5. Các xã thuộc tiểu vùng 3 có địa hình núi đa vôi cao, hiểm trở, trong
10
11
các năm gần đây đã được Nhà nước quan tâm đầu tư cho cơ sở hạ tầng nhưng
giao thông đi lại vẫn còn rất khó khăn.
2.2.1.3. Đất đai và thổ nhưỡng
Võ Nhai là một huyện miền núi rộng lớn nhất tỉnh Thái Nguyên,
nhưng tiềm năng đất đai sử dụng cho mục đích sản xuất nông nghiệp không
lớn, đất dành cho phát triển đô thị và giao thông đã trở nên khan hiếm. Điều
này ảnh hưởng trực tiếp đến sự phân bố lại dân cư, khu cụm công nghiệp
trong tương lai.
- Đất phù sa: 1.816 ha chiếm 2,16 % diện tích tự nhiên của toàn huyện.
- Đất đen: 935,5 ha chiếm 1,11 % diện tích tự nhiên.
- Đất xám bạc màu: 63.917,7 ha chiếm 76,08 % diện tích đất tự nhiên,
phân bố ở các thung lũng trên địa bàn tất cả các xã trong huyện.
- Đất đỏ: 3.770,80 ha, chiếm 4,49 % diện tích tự nhiên.
- Các loại đất khác: 13.570,44 ha chiếm 16,16 %
2.2.1.4. Khí hậu thuỷ văn
Võ Nhai có khí hậu mang đặc điểm chung của khí hậu miền núi Bắc Bộ
đó là khí hậu nhiệt đới gió mùa hàng năm chia thành 2 mùa rõ rệt là mùa mưa
và mùa khô có những đặc điểm cơ bản như sau:
Đưa năng suất lúa lên 54 tạ/ha (2020) bằng cách áp dụng tiến bộ khoa
học kỹ thuật vào sản xuất (sử dụng loại giống mới cho năng suất cao phẩm chất
tốt), tăng cường công tác thuỷ lợi, phân bón phù hợp với chủng loại giống
- Ngô: Ổn định việc phát triển ngô trên diện tích đất bằng, ít dốc, đất
sỏi bãi, mở rộng diện tích ngô xuân trên đất lúa bỏ hoang vụ xuân, diện tích
ngô đông trên diện tích 2 vụ lúa. Giai đoạn 2011 - 2020: 100 % diện tích ngô
đều sử dụng các giống ngô lai ngắn ngày, năng suất cao. Trong giai đoạn
2011-2020 chủ yếu tập trung đưa các loại giống ngô lai có năng suất cao, phù
hợp với điều kiện khí hậu của địa phương vào sản xuất, tăng diện tích ngô vụ
xuân và vụ đông và đặc biệt là diện tích đất ruộng không chủ động được
nước; áp dụng quy trình chăm sóc phù hợp nhằm tăng năng suất trên 1 đơn vị
diện tích, phấn đấu đạt 44 - 60 tạ/ha và tổng sản lượng đạt 23.320 - 40.800
tấn/năm.
- Cây có củ: Khoai lang và sắn là hai cây ăn củ chính được trồng chủ
yếu để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng và phục vụ chăn nuôi, cung cấp nguyên liệu
cho công nghiệp chế biến thức ăn gia súc trong và ngoài huyện.
- Rau, đậu: Hiện nay rau được trồng để cung cấp cho nhu cầu của nội
huyện, một số ít cung cấp cho thành phố Thái Nguyên. Diện tích trồng rau
đậu phấn đấu hàng năm đạt từ 1.100 - 1.200 ha, trong đó tập trung vào cây đỗ
tương chất lượng cao.
- Cây công nghiệp hàng năm: Là loại cây công nghiệp chủ lực trên địa
bàn huyện Võ Nhai, được trồng chủ yếu ở 3 xã Phú Thượng, Lâu Thượng,
Bình Long. Diện tích cây thuốc phấn đấu giai đoạn 2011 - 2020 mở rộng
thêm diện tích trồng cây thuốc lá đạt từ 60 - 80 ha/năm và bố trí trồng chủ yếu
ở tiểu vùng 2 và 3; áp dụng nhanh những tiến bộ về giống, thâm canh đồng
thời tăng năng suất và chất lượng, tăng cường áp dụng công nghệ sấy tiên tiến
để có chất lượng thuốc lá tốt phù hợp với yêu cầu chất lượng và giá thành của
thị trường; Đỗ tương là một trong những nông sản mũi nhọn của huyện trong
12
13
vùng xa của các xã như Sảng Mộc, Nghinh Tường, đồng thời phát triển đàn
13
14
dê nhằm đáp ứng cho thị trường tiêu thụ ngày một lớn trên địa bàn huyện, đàn
ngựa và đàn dê duy trì tốc độ tăng trưởng 1%/năm.
- Chăn nuôi gia cầm: Phát huy ưu thế vườn đồi rộng, diện tích ao hồ
sông suối và nguồn thức ăn tự nhiên dồi dào, đảm bảo mức tăng tưởng bình
quân về chăn nuôi gia cầm hàng năm giai đoạn 2011 - 2020 là 5%/năm. Phấn
đấu đến năm 2020 đạt 800.000 con.
* Lâm nghiệp
Giai đoạn 2016 - 2020, tiếp tục đẩy mạnh công tác trồng rừng, chăm
sóc rừng và khai thác gỗ, sản lượng gỗ khai thác đạt khoảng 3.000 m
3
và
khoảng 60.000 cây tre nứa và diện tích rừng đến năm 2020 là: 59.600 ha.
* Tài nguyên rừng
- Tài nguyên rừng: Võ Nhai có 61.759,07 ha đất lâm nghiệp chiếm
73,57% so với tổng diện tích đất tự nhiên. Hiện tại tài nguyên rừng huyện Võ
Nhai còn nghèo, phần lớn là rừng non mới phục hồi, mới trồng, trữ lượng còn
ít nhưng với chủ trương xã hội hóa lâm nghiệp, giao đất giao rừng cho dân,
Nhà nước hỗ trợ tích cực vốn và giống vì vậy trong tương lai gần tài nguyên
rừng sẽ trở thành thế mạnh trong phát triển kinh tế huyện Võ Nhai.
Trong đó: Rừng đặc dụng là 17.300 ha; Rừng phòng hộ là 17.300 ha;
Rừng sản xuất là 25.000 ha.
2.2.3. Thực trạng cơ sở hạ tầng
* Giao thông: Toàn huyện Võ Nhai có 638,7 km đường giao thông,
trong đó đường quốc lộ dài 28 km (QL 1B); đường tỉnh lộ có chiều dài 23,5
km kéo dài từ Đình Cả đến Bình Long; 98,9 km đường giao thông liên huyện;
486,4 km đường giao thông liên xã, đường nội thị Đình Cả 1,4 km.
Trên địa bàn huyện hiện nay có quốc lộ 1B chạy qua, phần chạy qua
các đập, hồ chứa.
+ Do hệ thống kênh mương, rạch dẫn nước tưới chạy dọc theo sông
suối, theo sườn núi lại không được xây dựng kiên cố (chủ yếu là bằng đất)
nên tổn thất trên kênh rất lớn và thường hay bị hư hoặc bồi đắp khi có mưa lũ,
hiệu suất sử dụng thấp so với thiết kế ban đầu.
+ Công tác quản lý thuỷ nông còn kém, việc tưới nước còn thiếu khoa
học, gây lãng phí đặc biệt là với vụ đông xuân. Khi lưu lượng nước ở các
sông suối giảm, khả năng tưới càng bị giảm sút mạnh.
15
16
+ Ý thức sử dụng nước, bảo vệ các công trình thuỷ lợi của người dân
còn chưa cao.
Như vậy để các công trình thuỷ lợi phát huy được hiệu quả, huyện cần
đầu tư vốn làm kiên cố, nâng cấp số công trình đã cũ, làm mới một số công
trình mới theo kế hoạch đã đề xuất. Phải có chính sách thu thuỷ lợi phí bắt
buộc để tái đầu tư và tăng cường công tác quản lý thuỷ nông.
* Y tế: Võ Nhai là một huyện vùng cao của tỉnh Thái Nguyên nhưng đã
có 100% số xã, thị trấn có Bác sỹ đang công tác tại trạm Y Tế trong toàn
huyện. Các trạm Y Tế xã đã có công tác y học cổ truyền, có vườn thuốc nam
và điều trị bệnh nhân theo phương pháp y học cổ truyền. Hiện nay có 10/15
xã đạt chuẩn Quốc gia về Y tế, cơ sở nhà Trạm của các Trạm Y tế xã và thị
trấn được đầu tư xây mới, nâng cấp nên cơ bản đã đáp ứng được nhu cầu
khám chữa bệnh cho nhân dân trong huyện. Hiện trạng cơ sở vật chất kỹ thuật
trên địa bàn huyện năm 2010 như sau:
+ Bệnh viện đa khoa huyện: 1 bệnh viện (có 80 giường bệnh), với đội
ngũ bác sỹ là 44 người.
+ Phòng khám đa khoa khu vực: Đến nay huyện đã có 2 phòng khám
đa khoa (tổng cộng có 10 giường bệnh), với đội ngũ y, bác sỹ là 10 người.
+ Trạm y tế xã: 15 trạm (có 75 giường bệnh).
Tính đến nay trên địa bàn huyện hiện có 41 bác sỹ, 36 y sỹ, 47 y tá, 17
- Dịch vụ:
+ Dịch vụ bưu chính - viễn thông: Đẩy mạnh việc ứng dụng công nghệ
thông tin, nhanh chóng đổi mới, đảm bảo thông tin liên tục, thông suốt, an
toàn, văn minh, tiện lợi. Phát triển mạng bưu cục, kiốt, điểm bưu điện một
cách hợp lý; nâng cao chất lượng dịch vụ bưu chính; phát triển các dịch vụ
mới; tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật.
+ Dịch vụ du lịch: Tập trung khai thác theo thứ tự ưu tiên các thị
trường sau: khách du lịch từ Hà Nội; khách trong tỉnh và một số tỉnh lân cận;
Sản phẩm du lịch: Du lịch sinh thái; du lịch lịch sử đặc biệt là “Du lịch về
chiến khu xưa”; du lịch văn hóa - lễ hội - làng nghề.
Khu vực ưu tiên đầu tư: Hang Phượng Hoàng - Suối Mỏ Gà, Khảo cổ
Thần Sa, Rừng Khuôn Mánh, Hang Huyện, Chùa Hoà
+ Dịch vụ vận tải, kho bãi: Với dự báo tăng trưởng kinh tế cao hơn hẳn
giai đoạn hiện tại và những bước đột phá trong phát triển một số ngành, lĩnh
17
18
vực của huyện trong thời kỳ quy hoạch, ngành dịch vụ vận tải, kho bãi có rất
nhiều cơ hội để phát triển. Chiều hướng phát triển vận tải chủ yếu trên địa bàn
huyện Võ Nhai chủ yếu là vận tải đường bộ, vì vậy cần nâng cao chất lượng
dịch vụ vận tải để đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu vận chuyển hàng hóa và
hành khách của huyện, vùng. Tạo điều kiện cho mọi thành phần kinh tế tham
gia cung ứng dịch vụ vận tải.
* Thành phần dân tộc, dân số
Theo số liệu thống kê của huyện đến năm 2010 trên địa bàn huyện
có 64.958 nhân khẩu, bao gồm 8 dân tộc anh em sinh sống, trong đó:
Người Tày, Nùng chiếm 21 %; Người Kinh chiếm: 38%; Người dân tộc
thiểu số khác chiếm: 41 %. Dân số trung bình của huyện Võ Nhai tăng
bình quân 1,42 %/năm
- % Số người sống ở thị trấn: 3.526 người, chiếm 5,48 %.
- % Số người sống ở thôn bản: 60.816 người, chiếm 94,52 %.
cư tập trung. Xây dựng thêm các điểm dân cư tiếp nhận dân.
Hiện nay toàn huyện mới có 60 % nhà kiên cố và bán kiên cố. Dự kiến
năm 2010 sẽ nâng lên 70 %, năm 2015 sẽ nâng lên 85% và đến năm 2020 đạt
95 % nhà kiên cố và bán kiên cố.
Phần 3
ĐỐI TƯỢNG, ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN, NỘI DUNG
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Tầng cây gỗ trạng thái rừng IIA tại huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên.
3.2. Địa điểm và thời gian nghiên cứu
- Địa điểm nghiên cứu: Chuyên đề thực hiện tại xã Liên Minh, Tràng Xá
là những xã có diện tích rừng phục hồi IIA tập trung thuộc huyện Võ Nhai,
tỉnh Thái Nguyên.
- Thời gian: Từ tháng 2 đến tháng 5 năm 2012.
3.3. Nội dung nghiên cứu
- Đặc điểm cấu trúc tổ thành và mật độ cây gỗ
+ Cấu trúc tổ thành sinh thái, mật độ tầng cây gỗ.
+ Đánh giá chỉ số đa dạng sinh học (Shannon - Weaver).
- Đặc điểm cấu trúc ngang
+ Phân bố số cây theo cấp đường kính.
+ Phân bố loài cây theo cấp đường kính.
+ Phân bố loài cây theo các nhóm tần số xuất hiện trong quần hợp cây gỗ.
- Đặc điểm cấu trúc đứng
19
20
+ Phân bố số cây theo cấp chiều cao.
+ Phân bố loài cây theo cấp chiều cao.
- Đặc điểm cấu trúc sinh khối tầng cây gỗ
- Đề xuất một số giải pháp
3.4. Phương pháp nghiên cứu
hình cho khu vực.
Cách bố trí các ô đo đếm được thể hiện trong hình 3.1.
Phương pháp lập ô tiêu chuẩn (OTC): Sử dụng địa bàn, thước dây, sơn
đỏ và dao, cuốc
- Đối với ô tiêu chuẩn (OTC) tạm thời:
+ Đối với rừng núi đá, diện tích OTC: 500 m
2
(25 m x 20 m), hình dạng
OTC phụ thuộc vào địa hình.
+ Đối với đất có rừng tự nhiên trên núi đất, diện tích OTC: 2500 m
2
(50
m x 50 m), hình dạng OTC phụ thuộc vào địa hình.
+ Phân bố: OTC đặt ngẫu nhiên, đại diện cho từng nhóm thực vật khác
nhau, đại diện cho địa hình, độ dốc, điều kiện thổ nhưỡng khác nhau.
+ Các OTC được đánh dấu ngoài hiện trường thông qua hệ thống cột
mốc gồm 4 cột đặt ở 4 góc của ô. Phần trên mặt đất 0,5m ghi rõ số hiệu OTC
và hướng xác định các góc còn lại.
- Đối với ô thứ cấp và ô dạng bản
+ Trong OTC, lập 5 ô thứ cấp 25m
2
(5 m x 5m) theo đường chéo của
OTC. Trong một ô thứ cấp lập 1 ô dạng bản 1m
2
(1 m x 1 m) ở chính giữa để
điều tra cây bụi thảm tươi, đất và vật rơi rụng.
21
22
Hình 3.01. Cách bố trí các ô đo đếm trong ô tiêu chuẩn diện tích 2500 m
2
- Đối tượng đo đếm: Tất cả các cây gỗ có D1,3 ≥ 6cm.
- Nội dung đo đếm:
(1) Đo đường kính:
• Đo đường kính các cây gỗ tại vị trí chiều cao ngang ngực (1,3 m).
• Trường hợp cây hai thân: Nếu chia thân từ vị trí 1,3m trở xuống thì coi như
hai cây, còn nếu chia thân trên 1,3m thì coi như một cây.
• Những cây nằm trên ranh giới ÔĐĐ được xử lý như sau: Chỉ đo đếm và ghi
chép vào phiếu những cây nằm trên cạnh trước và cạnh bên phải theo hướng
tiến của ÔĐĐ, còn những cây nằm cạnh sau và cạnh bên trái thì không đo
(xem Hình 3.02).
• Đơn vị đo đường kính là (cm), đo theo đường kính thực (không phân theo cấp
đường kính).
• Khi đo đường kính thân cây bằng thước kẹp kính cần đo theo 2 chiều vuông
góc (theo hướng Đông Tây và Bắc Nam) rồi lấy trị số bình quân. Có thể đo
chu vi thân cây tại độ cao 1,3 m cho những cây gỗ sau đó dùng chương trình
Excel và công thức chuyển đổi để tính đường kính theo công thức:
D=P/п
Trong đó: D là đường kính thân (cm); P là chu vi thân (cm); п =3,14
Xác định đường kính 1,3m cho tất cả các cây có đường kính > 6 cm
(hay có chu vi thân > 19 cm)
• Đánh dấu tại vị trí đo đường kính bằng 2 vạch sơn đỏ song song với mặt đất
về 2 phía của thân cây (mỗi phía 1 vạch sơn).
50
m
50m
23
24
Không tính vào ÔĐĐ
Đo tính và ghi vào ÔĐĐ
Hình 3.02: Xử lý các cây trên đường ranh giới ô đo đế́m
3.4.2.3. Phương pháp phân tích và xử lí số liệu
Các chỉ số thông dụng được tính theo các công thức đã được sử dụng
rộng rãi trong thực tiễn thống kê, quy hoạch rừng với việc sử dụng chương
trình Excel.
(1) Đặc điểm cấu trúc rừng
a. Cấu trúc tổ thành sinh thái tầng cây gỗ:
Tổ thành là chỉ tiêu biểu thị tỉ lệ mỗi loài hay nhóm loài tham gia tạo
thành rừng, tuỳ thuộc vào số lượng loài có mặt trong lâm phần mà phân chia
lâm phần thành rừng thuần hoài hay hỗn loài, các lâm phần rừng có tổ thành
loài khác nhau thì chức năng phòng hộ, bảo vệ môi trường sinh thái và tính đa
dạng sinh học cũng khác nhau.
2
%%
%
DiAi
IVI
+
=
Để đánh giá đặc điểm cấu trúc tổ thành sinh thái của
quần hợp cây gỗ, chúng tôi sử dụng chỉ số mức độ quan trọng (Importance
Value Index = IVI), tính theo công thức.
Trong đó:
IVI
i
là chỉ số mức độ quan trọng (tỷ lệ tổ thành) của loài thứ i.
A
i
là độ phong phú tương đối của loài thứ i:
Trong đó: N
i
i
N
N
25