Nghiên cứu một số đặc điểm cấu trúc rừng và đề xuất một số giải pháp bảo tồn và phát triển rừng tại Khu rừng đặc dụng Hương Sơn, Mỹ Đức, Hà Nội - Pdf 22

LỜI CẢM ƠN
Để kết thúc khóa học và đánh giá chất lượng sinh viên trước khi ra
trường, được sự đồng ý của nhà trường, khoa Lâm học, bộ môn Điều tra quy
hoạch, tôi thực hiện khoá luận tốt nghiệp. Dưới sự hướng dẫn của thầy
PGS.TS. Vũ Nhâm và sự giúp đỡ của các thầy cô trong bộ môn, qua hơn ba
tháng thực tập, đến nay khóa luận tốt nghiệp đã được hoàn thiện.
Nhân dịp này cho phép tôi được bày tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới các
thầy, cô trong khoa Lâm học và các thầy, cô trong bộ môn Điều tra quy
hoạch, đặc biệt là thầy PGS.TS. Vũ Nhâm đã nhiệt tình hướng dẫn và giúp đỡ
tôi hoàn thành khóa luận này.
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban quản lý rừng đặc dụng Hương Sơn, Mỹ
Đức, Hà Nội đã giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình thu
thập số liệu ngoại nghiệp.
Tuy nhiên, trong khuôn khổ thời gian và kinh nghiệm còn hạn chế, đề
tài mới chỉ phần nào giải quyết được một số đặc điểm cấu trúc và tái sinh của
trạng thái rừng tại Ban quản lý rừng đặc dụng Hương Sơn, Mỹ Đức, Hà Nội.
Do vậy, đề tài không tránh khỏi những thiếu sót nhất định. Tôi rất mong được
sự đóng góp ý kiến của các thầy cô, các bạn bè đồng nghiệp để đề tài của tôi
được hoàn thiện hơn.
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 5 năm 2009
Sinh viên thực hiện
Nguyễn Mạnh Tuyên
ĐẶT VẤN ĐỀ
Rừng là một hệ sinh thái có khả năng tái tạo, tự phục hồi và có khả
năng vận động phù hợp với điều kiện ngoại cảnh. Trong tự nhiên rừng là một
hệ sinh thái bền vững có giá trị nhiều mặt về kinh tế, xã hội và môi trường.
Trong những năm qua cùng với sự phát triển của nền kinh tế đất nước
nhu cầu gỗ và lâm sản ngày càng tăng kéo theo việc khai thác và sử dụng
rừng quá mức, công tác quản lý bảo vệ rừng kém hiệu quả ở nhiều địa phương
khiến các khu rừng giảm sút nhanh chóng cả về số lượng và chất lượng.

3
PHẦN 1
TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
Cấu trúc rừng là sự sắp xếp các thành phần tạo nên rừng, là nhân tố
quan trọng. Vì vậy, cấu trúc rừng tự nhiên được nhiều tác giả trong và ngoài
nước đề cập đến từ những năm đầu của thế kỉ XX. Các công trình nghiên cứu
về vấn đề này nhằm xây dựng các cơ sở khoa học phục vụ quản lý, bảo vệ,
kinh doanh rừng hợp lý, có hiệu quả cao, đạt yêu cầu về kinh tế lẫn môi
trường sinh thái. Những nghiên cứu về cấu trúc phát triển từ thấp đến cao
bước đầu là định tính, mô tả nay chuyển sang định lượng, chính xác với sự
ứng dụng của toán thống kê và tin học. Nghiên cứu cấu trúc rừng để biết được
những mối quan hệ sinh thái bên trong của quần xã thực vật rừng từ đó có cơ
sở đề xuất biện pháp kĩ thuật tác động phù hợp. Tuy nhiên, với sự đa dạng và
phong phú của hệ sinh thái rừng mưa nhiệt đới tại Việt Nam thì vấn đề nghiên
cứu cấu trúc rừng vẫn là một ẩn số đối với các nhà nghiên cứu
1.1. Trên thế giới
1.1.1. Nghiên cứu về cấu trúc rừng
Cấu trúc rừng là hình thức thể hiện bên ngoài của những mối quan hệ
bên trong giữa thực vật rừng với nhau và giữa chúng với môi trường. Nghiên
cứu cấu trúc rừng để biết được những mối quan hệ bên trong của quần xã, từ
đó có cơ sở đề xuất biện pháp tác động phù hợp. Nghiên cứu cấu trúc rừng,
người ta chia thành ba dạng cấu trúc: cấu trúc hình thái, cấu trúc không gian
và cấu trúc thời gian.
1.1.1.1. Về quy luật phân bố số cây theo cỡ đường kính (N/D
1.3
)
Quy luật phân bố số cây theo cỡ đường kính là một quy luật kết cấu cơ
bản của lâm phần và đã được nhiều nhà lâm học nghiên cứu từ những năm
đầu của thế kỷ 20. Để nghiên cứu mô tả quy luật này, hầu hết các tác giả đã
dùng phương pháp giải tích, tìm các phương trình toán học dưới dạng nhiều

đứng đã dựa vào phân bố số cây theo chiều cao. Phương pháp nghiên cứu cấu
trúc đứng rừng tự nhiên là vẽ các phẫu đồ đứng với các kích thước khác nhau
tuỳ theo mục đích nghiên cứu. Các phẫu đồ mang lại hình ảnh khái quát về
cấu trúc tầng tán, phân bố số cây theo chiều thẳng đứng từ đó rút ra các nhận
xét và đề xuất ứng dụng thực tế. Phương pháp này được nhiều nhà nghiên cứu
5
ứng dụng như: P.W.Richards (1952) [17], Rollet (1979), Meyer (1952), đáng
chú ý là công trình nghiên cứu của Richards P.W (1968) [23] trong cuốn
“Rừng mưa nhiệt đới”.
1.1.1.3. Nghiên cứu quy luật tương quan giữa chiều cao với đường kính
thân cây (H/D
1.3
)
Qua nghiên cứu của nhiều tác giả cho thấy, chiều cao tương ứng với
mỗi cỡ kính cho trước luôn tăng theo tuổi đó là kết quả tự nhiên của sự sinh
trưởng. Trong mỗi cỡ kính xác định, ở các tuổi khác nhau, cây rừng thuộc cấp
sinh truởng khác nhau, cấp sinh trưởng giảm khi tuổi các lâm phần tăng lên,
dẫn đến tỷ lệ H/D tăng theo tuổi. Từ đó đường cong quan hệ giữa H và D có
thể thay đổi dạng và luôn dịch chuyển về phía trên khi tuổi lâm phần tăng lên.
Rollet (1971), đã mô tả mối quan hệ giữa chiều cao với đường kính
bằng hàm hồi quy, phân bố đường kính bằng các dạng phân bố xác suất.
Nhiều tác giả đã sử dụng hàm Weibull để mô hình hóa cấu trúc đường kính
loài Thông theo mô hình của Schumarcher.
Tiourin, A.V (1972) (theo Phạm Ngọc Giao, 1995) [5] đã phát hiện
hiện tượng này khi ông xác lập đường cong chiều cao cho các cấp tuổi khác
nhau.
Curtis.R.O (1967) đã mô phỏng quan hệ chiều cao (H) với đường kính
(D) và tuổi (A) theo dạng phương trình:
Ad
b

⋅+⋅+⋅+=

(1.3)
( )
2
2
3.1
dba
d
H
⋅+
=−

(1.4)
dbaH log
⋅+=
(1.5)
dbdbaH log
21
⋅+⋅+=
(1.6)
b
dkH
⋅=
(1.7)
Petterson H. (1955) (theo Nguyễn Trọng Bình, 1996), đề xuất phương
trình tương quan:

d
b

đầu tiên được ghi trong lịch trình là điều tra tái sinh theo ô vuông 1/1000 mẫu
Anh (4 m
2
), để biết xem tái sinh có đủ hay không và sau đó mới tiến hành các
biện pháp tiếp theo.
Richards P.W (1952) [17] đã tổng kết việc nghiên cứu tái sinh trên các
ô dạng bản và phân bố tái sinh tự nhiên ở rừng nhiệt đới. Để giảm sai số trong
khi thống kê tái sinh tự nhiên Barnard (1955) đã đề nghị một phương pháp
“điều tra chuẩn đoán” mà theo đó kích thước ô đo đếm có thể thay đổi tùy
theo giai đoạn phát triển của cây tái sinh. Một số tác giả nghiên cứu tái sinh tự
nhiên rừng nhiệt đới Châu Á như Bara (1954), Budowski (1956) có nhận
định dưới tái sinh rừng nhiệt đới nói chung có đủ lượng cây tái sinh có giá trị
kinh tế, nên việc đề xuất các biện pháp lâm sinh để bảo vệ lớp cây tái sinh này
là cần thiết. Nhờ những nghiên cứu này, nhiều biện pháp tác động vào lớp cây
tái sinh đã được xây dựng và đem lại hiệu quả đáng kể.
Van Steenis (1956) đã nghiên cứu hai đặc điểm tái sinh phổ biến ở rừng
nhiệt đới đó là tái sinh phân tán liên tục và tái sinh vệt (tái sinh lỗ trống). Hai
đặc điểm này không chỉ thấy ở rừng nguyên sinh mà còn thấy ở rừng thứ sinh,
môt hiện tượng khá phổ biến ở nhiều nước nhiệt đới.
Khi nghiên cứu ảnh hưởng của các nhân tố sinh thái đến tái sinh tự
nhiên, nhân tố ánh sáng (thông qua độ tàn che của rừng), độ ẩm của đất, kết
cấu quần thụ, cây bụi thảm tươi được đề cập thường xuyên. Baur G.N (1952,
1964) [1] cho rằng, trong rừng nhiệt đới nếu thiếu ánh sáng thì sẽ ảnh hưởng
8
đến sự phát triển của cây con, sự nảy mầm và phát triển của cây nảy mầm thì
ảnh hưởng là không rõ ràng. Ngoài ra các tác giả nhận định: Thảm cỏ và cây
bụi có ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển của cây tái sinh. Mặc dù ở
những quần thụ kín tán, thảm cỏ và cây bụi kém phát triển nhưng chúng vẫn
ảnh hưởng đến cây tái sinh. Đối với rừng nhiệt đới số lượng loài cây trên một
đơn vị diện tích và mật độ tái sinh thường khá lớn. Số lượng loài cây có giá trị

1.3
)
Tác giả Đồng Sĩ Hiền (1974) [6] đã chọn hàm Pearson với 7 họ đường
cong khác nhau để biểu diễn phân bố số cây theo cỡ đường kính rừng tự
nhiên. Nguyễn Hải Tuất (1975, 1982, 1990) [22] sử dụng hàm Mayer và hàm
phân bố khoảng cách biểu diễn cấu trúc rừng thứ sinh. Nguyễn Văn Trương
(1983) [20] sử dụng phân bố Poisson nghiên cứu mô phỏng quy luật cấu trúc
đường kính thân cây rừng cho đối tượng rừng hỗn giao khác tuổi.
Nghiên cứu của Vũ Văn Nhâm (1988) [14] và Vũ Tiến Hinh (1990) [7]
cho thấy, có thể dùng phân bố Weibull với hai tham số để biểu thị phân bố N/D
cho những lâm phần thuần loài, đều tuổi như Thông đuôi ngựa, Mỡ, Bồ đề,
Phạm Ngọc Giao (1995) [5] khi nghiên cứu quy luật N/D cho Thông
đuôi ngựa vùng Đông Bắc đã chứng minh tính thiết ứng của hàm Weibull và
xây dựng mô hình cấu trúc đường kính cho lâm phần Thông đuôi ngựa.
Lê Sáu (1996) đã dùng phân bố weibull để mô phỏng cho hầu hết các
phân bố thực nghiệm như phân bố N/D
1.3
ở các ô tiêu chuẩn cho kết quả tốt.
Nguyễn Ngọc Lung (1999) đã thử nghiệm 3 hàm phân bố: Poisson,
Charlier, Weibull khi nghiên cứu số cây theo cỡ đường kính cho rừng Thông
ba lá ở Việt Nam đã rút ra kết luận: Hàm Charlier là hàm phù hợp nhất và có
cách tính toán đơn giản.
1.2.1.2. Về phân bố số cây theo cỡ chiều cao (N/H)
Kết quả nghiên cứu của tác giả Đồng Sỹ Hiển (1974) [6] cho thấy, phân
bố số cây theo chiều cao (N/H) ở các lâm phần tự nhiên hay trong từng loài
cây thường có nhiều đỉnh, phản ánh kết cấu phức tạp của rừng chặt chọn. Thái
Văn Trừng (1978) [19] trong nghiên cứu của mình đã đưa ra kết quả nghiên
cứu cấu trúc của tầng cây gỗ rừng loại IV.
Bảo Huy (1993) [10], Đào Công Khanh (1996) [11], Lê Sáu (1996)
[18], Trần Cẩm Tú (1999) [21] đã nghiên cứu phân bố N/H để tìm tầng tích tụ

Chiêu liêu.
Lê Sáu (1996) [26] sử dụng hàm Weibull mô phỏng phân bố đường
kính và chiều cao cho rừng tự nhiên ở Kon Hà Nừng. Trần Cẩm Tú (1999)
[32] thử nghiệm hàm Weibull, Meyer và hàm khoảng cách, cuối cùng tác giả
chọn hàm khoảng cách để mô phỏng, vì hàm này khi kiểm tra cho tỷ lệ chấp
nhận cao nhất.
Nguyễn Thị Hải Yến (2002) [36] nghiên cứu các lâm phần Cao su ở
các tuổi khác nhau, đã thử nghiệm ba dạng phương trình:
11
h = a + b*logd (1.14)
h = a
o
+ a
1
*d + a
2
*d
2
(1.15)
h = k*d
b
(1.16)
Phương trình được chọn là phương trình được sử dụng đơn giản, hệ số
tương quan cao nhất, sai số nhỏ nhất. Cuối cùng tác giả chọn hàm (1.14) để
thể hiện quan hệ giưa H/D cho các lâm phần Cao su.
1.2.1.4. Nghiên cứu quy luật tương quan giữa đường kính tán và đường
kính ngang ngực (D
T
/D
1.3

Trong thời gian từ năm 1962 đến 1969, Viện Điều Tra Quy Hoạch rừng
đã điều tra tình tái sinh tự nhiên theo các “Loại hình thực vật ưu thế” rừng thứ
sinh ở Yên Bái (1965), Hà Tĩnh (1966), Quảng Bình (1969), và Lạng Sơn
(1969), đáng chú ý là kết quả điều tra tái sinh tự nhiên ở vùng sông Hiếu
12
(1962-1964), bằng phương pháp đo đếm điển hình. Từ kết quả điều tra tái
sinh, dựa vào mật độ cây tái sinh, Vũ Đình Huề (1969, 1984) [8], đã phân
chia khả năng tái sinh rừng thành 5 cấp: rất tốt, tốt, trung bình, xấu và rất xấu
với mật độ tái sinh tương ứng là: trên 12000 cây/ha, 8000-12000 cây/ha,
4000-8000 cây/ha, 2000- 4000 cây/ha và dưới 2000 cây/ha. Nhìn chung
nghiên cứu này mới chỉ chú trọng đến số lượng mà chưa đề cập đến chất
lượng cây tái sinh. Cũng từ kết quả điều tra trên, Vũ Đình Huề (1975, 1984)
[8] đã tổng kết và rút ra nhận xét: Tái sinh tự nhiên rừng miền Bắc Việt Nam
mang những đặc điểm tái sinh của rừng nhiệt đới. Dưới tán rừng nguyên sinh,
tổ thành loài cây tái sinh tương tự như tầng cây gỗ dưới tán rừng thứ sinh tồn
tại nhiều loài cây gỗ kém giá trị và hiện tượng tái sinh theo đám được thể hiện
rõ nét tạo nên sự phân bố số cây không đồng đều trên mặt đất rừng.
Khi nghiên cứu về tái sinh rừng không thể không nhắc tới hiện tượng
tái sinh lỗ trống. Theo Phạm Đình Tam (1987): Số lượng cây tái sinh xuất
hiện khá nhiều dưới những lỗ trống khác nhau, lỗ trống càng lớn cây tái sinh
càng nhiều và hơn hẳn những nơi kín tán. Đây là một trong những đặc điểm
tái sinh phổ biến ở rừng nhiệt đới.
Trần Ngũ Phương (2000), khi nghiên cứu các quy luật phát triển rừng
tự nhiên ở miền Bắc Việt Nam đã nhấn mạnh quá trình diễn thế thứ sinh của
rừng tự nhiên như sau: “Trường hợp rừng tự nhiên có nhiều tầng khi tầng trên
già cỗi, tàn lụi rồi tiêu vong thì tầng kế tiếp sẽ thay thế. Trường hợp chỉ có 1
tầng trong khi nó già cỗi 1 lớp cây con tái sinh xuất hiện và sẽ thay thế nó sau
khi nó tiêu vong, hoặc cũng có thể một thảm thực vật trung gian xuất hiện
thay thế, nhưng về sau dưới lớp thảm thực vật trung gian này sẽ xuất hiện một
lớp cây con tái sinh lại rừng cũ trong tương lai và sẽ thay thế thảm thực vật

29’ vĩ độ
Bắc, từ 105
0
41’đến 105
0
49’ kinh độ Đông và ranh giới hành chính:
Phía Đông giáp tỉnh Hà Nam
Phía Tây Nam giáp tỉnh Hòa Bình
Phía Tây giáp xã An Phú, huyện Mỹ Đức
Phía Bắc giáp xã Hùng Tiến, xã An Tiến huyện Mỹ Đức và huyện Ứng
Hòa, Hà Nội.
Tổng diện tích tự nhiên của xã là 4280 ha.
Đặc điểm về vị trí địa lý và ranh giới hành chính của xã Hương Sơn có
nhiều điều kiện thuận lợi cho việc giao lưu hàng hóa, đi lại với các tỉnh vùng
đồng bằng Bắc Bộ cũng như các tỉnh miền núi phía Tây Bắc, góp phần làm
tăng thu nhập, nâng cao đời sống của nhân dân trong vùng.
2.1.2. Đặc điểm điều kiện địa hình, địa thế
Hương Sơn là xã tiếp giáp với đồng bằng và vùng núi. Phần lớn diện
tích của xã thuộc địa hình vùng núi đá vôi, đây là phần cuối của hệ thống núi
và cao nguyên đá vôi Sơn La- Mộc Châu tiếp giáp với đồng bằng Bắc Bộ. Vì
vậy, khu vực này tồn tại kiểu địa hình vùng đồi và vùng núi thấp. Đỉnh cao
nhất là 381m. Tuy nhiên mức độ chia cắt theo chiều ngang khá lớn đã tạo ra
những dãy, khối núi nhỏ riêng biệt. Do đặc điểm nêu trên đã tạo ra một vùng
núi non hùng vĩ, đa dạng, cảnh quan thiên nhiên hiếm có.
Địa hình khu vực Hương Sơn được chia làm hai nhóm dạng và yếu tố
địa hình chủ yếu:
+ Nhóm dạng và yếu tố địa hình nguồn gốc Kaster: Nhóm này chủ yếu
là khối núi Hương Sơn, bao gồm Kaster bề mặt và Kaster ngầm.
15
Các dạng Kaster bề mặt mang đặc trưng Kaster nhiệt đới ẩm. Đó là các

Do đặc điểm của điều kiện lập địa của khu vực, đất ở Hương Sơn được
hình thành do hai nguồn gốc chính, bao gồm đất phát triển trên nền núi đá vôi
và đất hình thành và phát triển trên nền phù sa sông Đáy.
Trong các thung đất, tồn tại bốn kiểu đất chính, đều là đất Feralit phát
triển trên núi đá vôi thông qua quá trình Feralit hóa.
- Đất đen mùn trên núi đá vôi xói mòn mạnh, là loại đất bị xói mòn
tầng dày <30cm được phân bố thành vành đai giáp chân núi đá vôi thuộc các
thung Thiên Trù, Thung Cáo, Thung Vương, Bến Tiêu.
16
- Đất Feralit màu đỏ phát triển trên núi đá vôi, là loại đất tại chỗ, qua
quá trình xói mòn lớp đất mặt có tầng dày từ 30cm đến 85cm được phân bố
chủ yếu ở các sườn giữa các thung.
- Đất Feralit màu đỏ phát triển trên đá vôi và đá dăm, là loại đất tại chỗ,
kèm sản phẩm tích tụ, có tầng dày >80cm. Loại đất này có thành phần kết hợp
hai loại đất trên, chủ yếu phân bố các thung Chùa, thung Tá, thung Cáp…
- Đất phù sa được bồi đắp hàng năm và đất phù sa lầy thụt bị glây hóa.
Loại đất này được phân bố ở vùng canh tác Nông nghiệp, các vùng phụ cận
khu vực núi đá ven sông suối.
2.1.5. Đặc điểm điều kiện khí hậu, thủy văn
- Khí hậu vùng Hương Sơn mang đặc điểm của vùng khí hậu nhiệt đới
gió mùa. Theo số liệu của trạm khí tượng thủy văn Mỹ Đức, vùng Hương Sơn
có: Nhiệt độ bình quân năm là 23
0
C, lượng mưa bình quân năm là 1914,8mm,
độ ẩm không khí bình quân năm là 84%.
Những tháng mưa ẩm tập chung chủ yếu từ tháng 4 đến tháng 10 hàng
năm, mùa khô bắt đầu từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau. Tuy có hai mùa rõ rệt
nhưng mùa khô không quá khắc nghiệt tạo cho vùng Hương Sơn đủ đảm bảo
những điều kiện cần thiết thuận lợi cho sự phát triển của thực vật.
- Xã Hương Sơn có sông Đáy chảy qua ranh giới với chiều dài khoảng

Tổng GDP của xã năm 2002 là 69 tỷ đồng. Tốc độ tăng trưởng GDP là
6,98% vào năm 2002. Cơ cấu kinh tế của xã có sự chuyển dịch đáng kể theo
hướng phát triển.
2.2.3. Tình hình phát triển của các ngành kinh tế
2.2.3.1. Nông nghiệp
Trong nông nghiệp đã có sự áp dụng tiến bộ khoa học kĩ thuật vào sản
xuất, năng suất và sản lượng không ngừng tăng lên.
a. Trồng trọt
Tổng diện tích trồng trọt cả năm là: 1569,2 ha.
Năng suất bình quân của cả năm đạt 58,54 ta/ha
Tổng sản lượng lương thực đạt 7488 tấn
b. Chăn nuôi
18
Trọng tâm là phát triển chăn nuôi gia súc, gia cầm có giá trị, nhiều mô
hình chăn nuôi hoạt động có hiệu quả.
Tổng đàn Trâu, Bò 959 con, Lợn 9200 con, gia cầm 52000 con.
Diện tích nuôi trồng thủy sản ổn định là 18 ha
Công tác thú y được trú trọng, không có dịch bệnh lớn sảy ra.
c. Thủy lợi
Trong xã có 4 trạm bơm đảm bảo việc tưới tiêu cho toàn bộ diện tích
nông nghiệp trong đê. Có 10 km kênh mương được cứng hóa và dải đều trên
toàn diện tích nông nghiệp.
2.2.3.2. Lâm nghiệp
Năm 1993, Khu rừng đặc dụng Hương Sơn được thành lập. Ban quản
lý rừng có nhiệm vụ quản lý toàn bộ rừng trong phạm vi lãnh thổ của vùng
rừng đặc dụng, hướng dẫn chuyển giao kĩ thuật cho các hộ gia đình trồng
rừng. Do có sự kết hợp tốt giữa Ban quản lý, cơ quan kiểm lâm và các ban
ngành địa phương nên hiện tượng chặt phá, xâm lấn rừng được hạn chế.
Công tác trồng cây bảo vệ rừng trong khu vực thắng cảnh Hương Sơn
được coi là một nhiệm vụ trọng tâm nhằm tôn tạo cảnh quan giữ gìn môi

hai bến xe với diện tích khoảng 21000m
2
. Một bến xe hai bánh ở bến Đục
Khê.
2.2.4.3. Y tế và sức khỏe cộng đồng
Trong xã một trạm y tế xã và một phân viện của huyện Mỹ Đức với
hơn 20 giường bệnh. Trạm xá có 6 cán bộ y tế và một bác sĩ. Việc tuyên
truyền kế họach hóa gia đình, sức khỏe vị thành niên, tiêm phòng, vệ sinh môi
trường được tiến hành thường xuyên
2.2.4.4. Về giáo dục
Xã có một trường trung học cơ sở, ba trường tiểu học và một trường
mầm non. Nhìn chung, số phòng học đã đáp ứng được nhu cầu học tập của
các em học sinh. Công tác giáo dục đã góp phần tích cực vào việc nâng cao
20
kiến thức, xóa mù chữ, phổ cập giáo dục, tạo tiền đề nâng cao đời sống tinh
thần, vật chất cho người dân trong xã.
2.2.4.5. Về các vấn đề văn hóa xã hội
Trong xã có khoảng 95% phương tiện nghe nhìn. Thông tin liên lạc ở
xã rất thuận lợi. Tỷ lệ gia đình có điện thoại khoảng 10%. Xã đã có hệ thống
truyền thanh. Các hoạt động tuyên truyền như ca ngợi lễ hội, cảnh đẹp Hương
Sơn, ca ngợi một vùng văn hóa được phát thường xuyên hàng ngày. Lối sống
văn minh trong xã được nâng cao, tình trạng chùa giả đã được giải quyết. Tuy
nhiên trong xã một số người dân mắc vào tệ nạn xã hội. Địa phương đã có
nhiều biện pháp nhằm xóa bỏ tệ nạn xã hội, tiếp tục phát huy mô hình gia
đình văn hóa, tinh thần của nhân dân trong xã được cải thiện hơn.
2.2.4.6. Cơ cấu tổ chức, an ninh quốc phòng
Xã có 5 tổ chức đoàn thể chính trị xã hội chịu sự lãnh đạo của Đảng ủy
xã, đó là: mặt trận tổ quốc xã, đoàn thanh niên, hội phụ nữ, hội nông dân tập
thể, hội cựu chiến binh. Công tác quân sự địa phương được coi trọng. An ninh
chính trị, trật tự, an toàn xã hội nhìn chung được giữ vững và ổn định.

Nghiên cứu các trạng thái rừng khu vực Hương Sơn thuộc địa bàn quản
lý của Ban quản lý Khu rừng đặc dụng Hương Sơn, Mỹ Đức, Hà Nội.
3.2.3. Giới hạn nghiên cứu của đề tài
Nghiên cứu một số đặc điểm cấu trúc tổ thành, phân bố số cây theo cấp
kính, phân bố cây theo cấp chiều cao, phương trình tương quan giữa chiều cao
và đường kính, giữa đường kính tán với đường kính ngang ngực.
3.3. Nội dung nghiên cứu
Căn cứ vào đặc điểm của đối tượng nghiên cứu, mục tiêu, phạm vi và giới
hạn của đề tài nội dung nghiên cứu được xác định như sau:
3.3.1. Nghiên cứu đặc điểm cấu trúc tầng cây cao
- Cấu trúc tổ thành
- Quy luật phân bố số cây theo cấp đường kính( N/D
1.3
)
22
- Quy luật phân bố số cây theo cấp chiều cao( N/H
vn
)
- Quy luật tương quan H
vn
/D
1.3
, D
t
/D
1.3
3.3.2. Nghiên cứu đặc điểm cấu trúc tầng cây tái sinh
- Cấu trúc tổ thành.
- Phân bố số cây theo cấp chiều cao và cấp chất lượng.
- Mật độ.

, Hvn, Dt,
Hdc của những cây có đường kính từ 6cm trở lên, kết quả được ghi vào mẫu
biểu theo đúng quy định.
Việc thu thập số liệu được tiến hành theo đúng quy trình của bộ môn
Điều tra Quy hoạch rừng của Trường Đại học Lâm nghiệp.
Với đề tài này, tôi tiến hành điều tra như sau:
a. Điều tra tầng cây cao.
Tiến hành điều tra trong ô tiêu chuẩn các chỉ tiêu sau:
- Đường kính ngang ngực (D
1.3
): Được đo chu vi bằng thước dây tại vị
trí 1,3 m của tất cả các cây có chu vi từ 19cm (tức 6 cm) trở lên, sau đó suy ra
đường kính thân cây.
- Chiều cao vút ngọn (H
vn
): Được đo bằng thước đo cao Blumless của
tất cả các cây trong ô tiêu chuẩn.
- Đường kính tán (D
T
): Đo đường kính tán của tất cả các cây trong ô
tiêu chuẩn bằng cách đo gián tiếp thông qua hình chiếu tán của cây trên mặt
đất theo hai hướng (Đông bắc – Tây nam).
Để tránh bỏ qua hay đo lặp lại, trong quá trình điều tra, tôi tiến hành
đánh số thứ tự của các cây trong ô tiêu chuẩn. Tất cả số liệu được ghi vào
mẫu biểu sau:
Bảng 3.1: Phiếu điều tra tầng cây cao
ÔTC số:
Khoảnh:
Trạng thái rừng:
Độ dốc:

(5m x 5m).
Trong các ô dạng bản tiến hành điều tra các cây thuộc tầng cây cao có
D
1.3
< 6 cm. Điều tra các chỉ tiêu: Tên loài, chiều cao, chất lượng, nguồn gốc.
Kết quả được ghi vào biểu mẫu sau:
Bảng 3.2: Phiếu điều tra cây tái sinh
TT
ODB
TT
cây
Loài
cây
Cấp chiều cao (m) Chất lượng Nguồn gốc
<0,5 0,5-1 1-1,5 1,5-2 >2 Tốt TB Xấu Hạt Chồi
1

3.4.2.3. Phương pháp xử lý và phân tích số liệu
Số liệu đo đếm ngoài thực địa trước khi xử lý, phân tích cần tiến hành
tính toán và kiểm tra lại để tìm ra sai sót trong quá trình ghi chép.
a. Đối với tầng cây cao
* Phân loại trạng thái rừng
Các tiêu chuẩn phân loại trạng thái rừng dựa vào hệ thống phân loại
rừng của Loeschau (1960):
- Trạng thái rừng II
B
: Rừng cây tiên phong phục hồi phát triển đã lớn,
đường kính cây cao phổ biến bình quân D> 10cm, ∑G> 10m
2
- Trạng thái rừng IIIA


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status