Đặc điểm tái sinh tự nhiên của thảm thực vật rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới tại vườn quốc gia bạch mã thừa thiên huế - Pdf 31

i

LỜI CẢM ƠN

Sau ba năm học tập và rèn luyện, khóa học Cao học lâm nghiệp K15 (2007 2010) đã bước vào giai đoạn kết thúc. Được sự nhất trí của của nhà trường và
Khoa đào tạo Sau đại học, tôi tiến hành thực tập tốt nghiệp với đề tài“Đặc điểm tái
sinh tự nhiên của thảm thực vật rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới tại
Vườn quốc gia Bạch Mã - Thừa Thiên Huế”. Sau gần một năm thực hiện, đến nay
đề tài đã hoàn thành.
Nhân dịp này, cho phép em được bày tỏ lời cảm ơn chân thành nhất tới
PGS.TS Phạm Xuân Hoàn, người đã trực tiếp hướng dẫn và tận tình giúp đỡ, tạo
mọi điều kiện thuận lợi trong quá trình nghiên cứu để em có thể hoàn thành đề tài này.
Xin chân thành cảm ơn các Thầy, Cô giáo thuộc khoa Đào tạo Sau đại học,
Khoa Lâm học; Lãnh đạo và đồng nghiệp tại Thư viện Trường Đại học Lâm nghiệp
đã động viên, giúp tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài.
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến lãnh đạo Vườn quốc gia Bạch Mã, tỉnh Thừa
Thiên Huế cùng bạn bè đồng nghiệp đã tạo điều kiện tốt nhất, giúp đỡ động viên và
chia sẻ với tôi một phần công việc trong những ngày thu thập số liệu hiện trường.
Mặc dù đã rất cố gắng trong quá trình thực hiện, nhưng do kiến thức có hạn,
điều kiện về thời gian và tư liệu tham khảo còn hạn chế nên luận văn chắc chắn
không tránh khỏi thiếu sót. Kính mong nhận được những ý kiến đóng góp, bổ sung
của các nhà khoa học và các bạn đồng nghiệp để luận văn hoàn thiện hơn.
Tôi xin cam đoan các số liệu thu thập, kết quả xử lý, tính toán là trung thực
và được trích dẫn rõ ràng.
Xin trân trọng cảm ơn !
Hà Nội, năm 2010
Hoàng Thị Tuyết


ii


2.3.1. Một số đặc điểm cấu trúc và sinh trưởng của tầng cây cao..............................23
2.3.2. Đặc điểm tái sinh tự nhiên dưới tán các trạng thái rừng tại khu vực nghiên cứu
.....................................................................................................................................24
2.3.3. Đặc điểm tái sinh tự nhiên ở các lỗ trống trong rừng.......................................24
2.3.4. So sánh đặc điểm tái sinh dưới tán và đặc điểm tái sinh lỗ trống.....................24
2.3.5. Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng tới khả năng tái sinh tự nhiên...................24
2.4. Phương pháp nghiên cứu........................................................................................25
2.4.1. Quan điểm và phương pháp luận.......................................................................25
2.4.2. Phương pháp nghiên cứu...................................................................................26
Chương 3.............................................................................................................................38
ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN CỦA KHU VỰC NGHIÊN CỨU................................................38
3.1. Điều kiện tự nhiên VQG Bạch Mã.........................................................................38
3.1.1. Vị trí địa lý.........................................................................................................38
3.1.2. Địa hình địa thế.................................................................................................38
3.1.3. Địa chất, thổ nhưỡng.........................................................................................39
3.1.4. Khí hậu, thuỷ văn...............................................................................................39
3.1.5. Tài nguyên rừng.................................................................................................39
3.2. Điều kiện kinh tế - xã hội VQG Bạch Mã.............................................................41
Chương 4.............................................................................................................................43
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN................................................................43
4.1. Một số đặc điềm sinh trưởng và cấu trúc của tầng cây cao................................43
4.1.1. Cấu trúc tổ thành...............................................................................................43
4.1.2. Cấu trúc mật độ, độ tàn che và LAI...................................................................44
4.1.3. Đặc điểm sinh trưởng của tầng cây cao............................................................46
4.2. Đặc điểm tái sinh tự nhiên dưới tán thảm thực vật rừng tại VQG Bạch Mã....47
4.2.1. Tổ thành và mật độ cây tái sinh.........................................................................47


iv
4.2.2. Phân bố số cây tái sinh theo cấp chiều cao.......................................................50


VQG

2

Hvn

Chiều cao vút ngọn

3

Hdc

Chiều cao dưới cành

4

D1.3

Đường kính thân cây tại vị trí cao 1.3m so với mặt đất

5

Doo

Đường kính gốc

6

Dt


DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng
4.1
4.2
4.3
4.4
4.5
4.6
4.7
4.8
4.9
4.10
4.11
4.12
4.13
4.14
4.15
4.16
4.17
4.18
4.19
4.20
4.21
4.22
4.23
4.24

Tên bảng

50
53
54
55
57
58
60
62
64
65
66
68
70
72
75
76
77
79
82
84


vii

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình

Tên hình



72

4.6

Kết quả xác định ảnh hưởng của các nhân tố hoàn cảnh tới đường kính gốc

74

cây tái sinh loài chủ yếu

4.7

Quan hệ giữa diện tích lỗ trống với mật độ (a), số loài (b) cây tái sinh

78

4.8

Ảnh hưởng của các nhân tố hoàn cảnh tới mật độ các loài cây tái sinh

79

4.9

Ảnh hưởng của các nhân tố hoàn cảnh tới chiều cao các loài cây tái sinh

81

4.10

thác chọn tầng cây gỗ thường tạo nên lớp cây tái sinh với số lượng chiếm ưu thế của
một số loài tiên phong, ưa sáng. Sự xuất hiện của chúng tạo ra tiểu hoàn cảnh thuận
lợi cho quá trình tái sinh của các loài chịu bóng [89] góp phần hình thành các quần
xã thực vật đặc trưng trong tương lai.
Trên quan điểm quản lý và bảo tồn hệ sinh thái rừng, hiểu biết được quá
trình tái sinh tự nhiên của các quần xã thực vật là một trong những điều kiện quan


2
trọng để có thể hướng tới mục tiêu quản lý và sử dụng rừng bền vững. Nói cách
khác, những hiểu biết đầy đủ về quy luật và đặc điểm của quá trình tái sinh tự nhiên
dưới tán rừng cũng như ở các lỗ trống trong rừng là cơ sở quan trọng trong việc đề
xuất các biện pháp kỹ thuật lợi dụng tái sinh trong xúc tiến tái sinh tự nhiên và tái
sinh nhân tạo thông qua việc thúc đẩy sinh trưởng của cây mục đích [12].
Vườn Quốc gia (VQG) Bạch Mã nằm ở cuối dãy Trường Sơn - dãy núi tạo
nên ranh giới địa sinh vật giữa khu hệ động thực vật miền Bắc và miền Nam Việt
Nam. Nơi đây, cùng với khu bảo tồn thiên nhiên Bà Nà-Núi Chúa tạo thành một
mắt xích quan trọng trong dải rừng xanh nối liền biển Đông với biên giới Việt Lào.
Chính vì vậy, dãy Trường Sơn nói chung và VQG Bạch Mã được xem là một trong
các vùng sinh thái nổi bật nhất thế giới, là trung tâm đa dạng thực vật và là một
trong những địa bàn phân bố của nhiều loài thực vật độc đáo, quý hiếm đang có
nguy cơ bị tuyệt chủng cần được bảo vệ [11]. Mặc dù được thành lập nhằm bảo vệ
sự đa dạng vốn có của khu vực này, nhưng cho đến nay có nhiều quần xã thực vật
tại đây vẫn chưa có hướng bảo tồn và phát triển một cách có cơ sở khoa học do
chưa có được những hiểu biết đầy đủ về đặc điểm tái sinh của quần xã thực vật nơi
chúng phân bố gắn với từng điều kiện lập địa cụ thể. Để góp phần giải quyết vấn đề
trên, đề tài: “Đặc điểm tái sinh tự nhiên của thảm thực vật rừng kín thường xanh
mưa ẩm nhiệt đới tại Vườn quốc gia Bạch Mã - Thừa Thiên Huế” đã được đề
xuất thực hiện.



4
rừng của các loài cây chịu bóng và tái sinh vệt ở các lỗ trống trong rừng của các loài
cây ưa sáng. Phía dưới tán rừng, cây con của đa số các loài cây thường phân bố cụm
xung quanh gốc cây mẹ mà ít khi bắt gặp dạng phân bố ngẫu nhiên hoặc phân bố đều
[74]. Khả năng tái sinh này của chúng phụ thuộc rất lớn loài cây (Budwski, 1956;
Bara, 1954; Catinot, 1965; Dẫn theo Đỗ Thị Ngọc Lệ, 2007) [24] và mức độ đa
dạng loài [74]. Điều này đã một phần minh chứng cho tính đa dạng và cấu trúc phức
tạp của các quần xã rừng mưa.
1.1.1.2. Phương pháp nghiên cứu tái sinh dưới tán
Khi đánh giá đặc điểm tái sinh dưới tán rừng, các tác giả đều quan tâm nghiên
cứu các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả của quá trình tái sinh bao gồm: cấu trúc tuổi, tổ
thành loài cây, khả năng sinh trưởng, chất lượng của từng cá thể và phân bố của chúng
trên bề mặt đất. Do mật độ cây tái sinh dưới tán rừng mưa nhiệt đới thường rất cao và
biến động mạnh theo không gian và thời gian, Odum (1970) [74] đã sử dụng hệ thống
50 ô dạng bản có kích thước 1 m2 để thu thập các dữ liệu về tái sinh trong nghiên cứu
của mình. Mặc dù quá trình điều tra thuận lợi vì các ô dạng bản có kích thước nhỏ
nhưng do tác giả chưa chứng minh được cơ sở xác định diện tích nghiên cứu tái sinh
tối thiểu khiến việc áp dụng chúng với từng đối tượng cụ thể gặp rất nhiều khó khăn.
Bên cạnh đó, phương pháp điều tra tái sinh theo các dải hẹp có diện tích biến
động từ 0,25÷1,0ha đã được Povarnixbun (1934) và Yurkevich (1938) (dẫn theo Đỗ
Thị Ngọc Lệ, 2007) [24] áp dụng trong nghiên cứu của mình. Tuy nhiên, phương pháp
này gặp rất nhiều khó khăn khi áp dụng do tốn thời gian, kinh phí nghiên cứu và đặc
biệt rất khó xác định quy luật phân bố hình thái của lớp cây tái sinh trên mặt đất nên ít
được áp dụng.
Để khắc phục những nhược điểm nêu trên, Lamprecht (1989) [65] đã đề xuất và
lựa chọn phương pháp lập ô và điều tra cây tái sinh theo từng giai đoạn sinh trưởng của
chúng. Theo đó, trong ô tiêu chuẩn điều tra tầng cây cao có diện tích 2.500m2 (50m x
50m), tác giả đề xuất sử dụng 01 ô dạng bản hình tròn diện tích 707 m 2 (d = 30m) có
tâm trùng với tâm của ô tiêu chuẩn để điều tra cây con - cây có đường kính ngang ngực

số các loài cây, ánh sáng là nhân tố giới hạn có ảnh hưởng rất lớn tới thành công


6
của quá trình tái sinh [87]. Để phân biệt nhu cầu ánh sáng giữa các loài cây,
Lamprecht (1989) [65] đã phân cây rừng thành 3 nhóm: chịu bóng, ưa sáng và trung
tính dựa theo nhu cầu ánh sáng tối thiểu cho quá trình quang hợp của chúng. Dưới
tán rừng, khi lượng ánh sáng chiều xuống bị thiếu hụt mức độ chịu bóng của cây
rừng sẽ là đặc điểm quyết định khả năng tái sinh của chúng [2], [87].
Khi nghiên cứu mức độ ảnh hưởng của ánh sáng đến khả năng tái sinh của
cây rừng, các nhà sinh thái học đều nhận thấy ánh sáng là nhân tố có sự biến động
rất mạnh theo không gian, thời gian và đòi hỏi phải theo dõi trong thời gian dài.
Chính vì vậy, đa số các tác giả đều khuyến cáo sử dụng độ tàn che của tầng cây cao
làm nhân tố gián tiếp khi đánh giá ảnh hưởng trực tiếp của ánh sáng đối với cây tái
sinh trong những nghiên cứu tạm thời bởi ánh sáng lọt tán và độ tàn che có mối liên
hệ rất chặt. Theo quan điểm này, kết quả nghiên cứu của Yurkevich (1960; dẫn theo
Phạm Ngọc Thường, 2003) [38] và Anden (1981; dẫn theo Nguyễn Duy Chuyên,
1995) [3] cho thấy, độ tàn che phù hợp với đa số cây tái sinh biến động từ 0,6 ÷ 0,7.
+ Đất không chỉ là giá thể cho cây đứng vững mà con cung cấp nước, các chất
dinh dưỡng, muối khoáng và ô xy cho cây sinh trưởng và phát triển. Khác với cây
cao, bộ rễ của cây tái sinh chủ yếu tập trung ở tầng đất mặt. Do vậy, khi định lượng
mối quan hệ giữa cây rừng và đất, các nhà khoa học không chỉ tập trung vào các
tính chất của đất mà còn chú trọng nghiên cứu biến động nhiệt độ và độ ẩm tầng đất
mặt bởi chúng có liên quan trực tiếp tới khả năng hấp thụ nước, muối khoáng và các
chất dinh dưỡng khác trong đất của cây. Theo Tamari [83] hàm lượng mùn, độ xốp,
nhiệt độ và độ ẩm của tầng đất mặt có ảnh hưởng rất lớn tới khả năng nẩy mầm và
sinh trưởng của cây tái sinh. Khả năng tồn tại của cây tái sinh thường cao hơn khi
độ ẩm đầy đủ và nhiệt độ thích hợp. Với các loài thuộc họ Dầu (Dipterocapaceae),
nhiệt độ trong đất thích hợp cho quá trình nẩy mầm biến động từ 28÷30 oC, độ ẩm
đất là 60% và chúng không thể tồn tại ở độ ẩm thấp hơn 35%. Đây chính là lý do vì

Khi hạt giống tiếp xúc với đất, bên canh dưỡng khí, điều kiện tiên quyết để hạt
nẩy mầm bao gồm nước (độ ẩm), nhiệt độ. Chính cường độ mưa và tổng lượng bức


8
xạ mặt trời lớn tại các vùng nhiệt đới đã hình thành nên hệ thực vật đa dạng về loài,
phong phú về cấu trúc so với các vùng ôn đới [2].
+ Động vật rừng bao gồm côn trùng, động vật ăn quả, động vật và vi sinh vật
đất có vai trò thụ phấn làm tăng lượng quả, hạt giống [51], góp phần phát tán hạt hạt
giống [73] và phân giải các chất hữu cơ trong đất thúc đẩy khả năng sinh trưởng của
cây tái sinh [58]. Một số loài động vật trong quá trình đào bới đất để kiếm thức ăn
hoặc loài giun đất đã đưa hạt giống từ các tầng đất sâu hơn lên phía trên từ đó hạt có
thể nẩy mầm sau thời gian dài chờ đợi [90]
(ii) Hiệu quả của xử lý lâm sinh: đây là vấn đề được nhiều tác giả quan tâm
nghiên cứu. Kết quả đã cho ra đời nhiều phương thức tái sinh và phục hồi rừng
được áp dụng rộng rãi ở các nước vùng nhiệt đới đó. Điển hình trong số đó là
phương thức rừng đều tuổi ở Mã Lai (Bernard, 1954,1959; Wyatt, 1961,1963) và
phương thức chặt dần tái sinh dưới tán ở Nijeria (Jone, 1960) (dẫn theo Baur, 1964)
[1] hay hệ thống các biện pháp kỹ thuật phục hồi rừng sau cháy rừng (Melekhop,
1966), sau khai thác (Maslacop, 1981) (dẫn theo Vũ Tiến Hinh và cộng sự, 2006) [14].
1.1.2. Nghiên cứu tái sinh lỗ trống
1.1.2.1. Lỗ trống: khái niệm và phương pháp xác định
Lỗ trống là những khoảng trống trong rừng có diện tích lớn hơn 25m 2, đa số
các cây trong đó có chiều cao nhỏ hơn 5m và ≤ 50% chiều cao trung bình của tầng
cây cao xung quanh [42], [67], [76] được hình thành do quá trình chết, hoặc đổ của
một hoặc một vài cây rừng, do qúa trình khai thác chọn [72], [93] và được lấp đầy
khi chiều cao của cây tái sinh đạt từ 10m ÷ 20m [93].
Do lỗ trống có hình dạng rất khác nhau [50], để xác định diện tích của chúng
các công trình nghiên cứu đã chú trọng 3 phương pháp chính: (1) sử dụng ảnh viễn
thám, (2) xác định theo diện tích hình ellipse và (3) chia lỗ trống theo các hình tam

loài này đảm nhiệm vai trò tiên phong, khởi đầu cho quá trình phủ kín lỗ trống. Khi
lỗ trống được che phủ hoàn toàn, dưới tán lớp cây tiên phong sẽ xuất hiện thế hệ
cây con của các loài chịu bóng có mặt ở tầng cây cao xung quanh, lớp cây này sẽ


10
dần vươn lên thay thế chúng. Vì vậy, lỗ trống đã góp phần duy trì và nâng cao mật
độ và tính đa dạng sinh học của các loài ưa sáng [49], [67], của các loài dây leo [80]
nhưng lại làm giảm mức độ đa dạng của các loài không tiên phong, chịu bóng [59],
[80], [86].
Căn cứ vào thời điểm xuất hiện của cây tái sinh trong lỗ trống, Brokaw
(1958) [49] đã phân chúng thành 2 nhóm: (1) các loài cực đỉnh (climax non-pioneer
species) hoặc các loài cây rừng nguyên sinh (primary tree species) và (2) các loài
tiên phong. Trong đó, loài tiên loài sinh thái là những loài xuất hiện trước các loài
tiên phong sau khi lỗ trống được hình thành.
Yamamoto (1996) [92] chi tiết hơn khi phân chúng thành 4 nhóm bao gồm
(1) nhóm 1: gồm các loài xuất hiện trong tất cả các tầng cây rừng như cây tầng cao,
cây tạo lỗ trống, cây tái sinh trước khi có lỗ trống và trước khi có lỗ trống được lấp
lại. Nhóm này diễn tả những cây ở tầng tán tái sinh trong các lỗ trống được bổ sung
từ các cây con trước khi xuất hiện lỗ trống và thường là các loài cực đỉnh (hoặc các
loài cây rừng nguyên sinh); (2) nhóm 2: gồm các loài không có mặt trong lớp cây tái
sinh trước khi lỗ trống được thành lập. Nhóm này đề cập đến lớp cây mạ không thể
sinh trưởng được dưới tán rừng mà chỉ có thể sinh trưởng được trong các lỗ trống
và thường là các loài cây tiên phong; (3) nhóm 3: gồm các loài không phải là cây ở
tầng tán, hay cây tạo nên lỗ trống. Nhóm này đề cập đến lớp cây con tái sinh trong
các lỗ trống được bổ sung trước khi có lỗ trống nhưng bị chết trước khi tham gia
vào tầng tán rừng; (4) nhóm 4: gồm những loài không có khả năng tái sinh trước khi
lỗ trống được hình thành và bị lấp kín. Nhóm này đề cập đến những loài không thể
tái sinh trong các lỗ trống được tạo ra trong điều kiện hiện tại.
Quá trình tái sinh lỗ trống chỉ kết thúc khi cây rừng có chiều cao lớn hơn

Để thu thập thông tin chi tiết về lỗ trống bao gồm mật độ, loài cây tái sinh,
chiều cao, Sapkota và Oden (2009) [79] đã thiết lập 01 ô tiêu chuẩn có kích thước
25m2 (5m x 5m) có tâm là điểm giao nhau của 2 đường kính được dùng khi xác
định diện tích lỗ trống và đo đường kính của tất cả các cây con có chiều cao ≥ 2m.


12
01 ô dạng bản có diện tích 4m2 (2m x 2m) được thiết lập tại góc của ô tiêu chuẩn để
đo đường kính gốc của tất cả các cây mạ chiều cao từ 20cm ÷ 2m.
Với lâm phần xung quanh lỗ trống, Sapkota và Oden (2009) [79] đã xác định,
đo chiều cao và đường kính của tất cả các cây cao có đường kính ngang ngực >
20cm ở mép lỗ trống. Trong khi, Babaasa và cộng sự (2004) [45] thiết lập 08 ô dạng
bản có kích thước 100m2 (10m x 10m) tại 8 vị trí cách 8 điểm dùng khi xác định
diện tích lỗ trống từ 10 m ÷20 m và đo đếm tất cả cây cao hơn 1,5m và đường kính
< 10cm nhằm xác định ảnh hưởng của chúng tới cây tái sinh trong các lỗ trống
nghiên cứu.
1.1.2.4. Các nhân tố ảnh hưởng đến tái sinh lỗ trống
(+) Kích thước lỗ trống: Các lỗ trống được hình thành do quá trình đổ gẫy
hoặc chết đi của một hoặc một số cây ở tầng tán chính là thường được bắt gặp nhất
ở rừng mưa nhiệt đới [78]. Quá trình tái sinh trong các lỗ trống không chỉ phụ thuộc
vào các nhân tố lịch sử hình thành lỗ trống, đặc điểm sinh thái học của các loài tái
sinh [66], mức độ sinh trưởng của cây tái sinh trước khi lỗ trống được hình thành và
khả năng xâm lấn của các loài khác [43] mà còn phụ thuộc chặt chẽ vào đặc điểm
vật lý của lỗ trống [79], mà chủ yếu là kích thước của chúng [50], [68].
Đi sâu tìm hiểu vấn đề này, các nghiên cứu đều khẳng định kích thước lỗ trống
không chỉ có ảnh hưởng trực tiếp tới cây tái sinh thể hiện qua sự thay đổi của tổ
thành loài, đặc điểm sinh trưởng, mật độ, và cấu trúc tuổi của chúng giữa các lỗ
trống có kích thước khác nhau [46], [52], [56], [70], [88] mà còn ảnh hưởng gián tiếp
thông qua ảnh hưởng trực tiếp tới cường độ ánh sáng chiếu xuống mặt đất, tới các
nhân tố tiểu hoàn cảnh và dinh dưỡng đất [90].

bao gồm: (i) cường độ khai thác, (ii) sự hình thành và thời gian duy trì của lớp cây
bụi thảm tươi, (iii) tần xuất họat động của voi và (iv) cường độ họat động của động
vật gặm nhấm ăn hạt trong các lỗ trống kích thước lớn.


14

1.2. Ở Việt Nam
1.2.1. Nghiên cứu tái sinh rừng
Nhận thức tái sinh rừng là chìa khóa quyết định nội dung điều chế rừng [8],
các nhà lâm học trong nước cũng đã có nhiều nghiên cứu để tìm ra những đặc điểm
và quy luật tái sinh của rừng nhiệt đới Việt Nam. Công trình nghiên cứu quy mô lớn
do Viện điều tra quy hoạch rừng thực hiện trong 8 năm (từ 1962-1969) nhằm đánh
giá đặc điểm tái sinh của các loại hình thực vật ưu thế tại Yên Bái, Hà Tĩnh, Quảng
Bình và Lạng Sơn đã khẳng định: tái sinh tự nhiên rừng nhiệt đới miền Bắc Việt
Nam cũng mang những đặc điểm của tái sinh rừng nhiệt đới đó là đặc điểm tái sinh
phân tán và liên tục của các loài chịu bóng được dưới tán rừng và tái sinh theo vệt
của các loài ưa sáng ở các lỗ trống [17]. Đặc điểm này lần nữa được khẳng định
trong tổng kết nghiên cứu của Trần Văn Con (2006) [6].
Dưới tán rừng kín thường xanh mưa mùa nhiệt đới cây tái sinh của một số
loài ưa sáng chiếm tỷ lệ rất thấp, thậm chí không có mặt trong tổ thành cây tái sinh,
thay vào đó là cây tái sinh của các loài chịu bóng [9]. Tuy nhiên, nghiên cứu của Vũ
Đình Huề (1975) [17] tại Yên Bái, Hà Tĩnh, Quảng Bình và Lạng Sơn; của Phùng
Tửu Bôi (1978) (dẫn theo Đỗ Thị Ngọc Lệ, 2007) [24] tại Kon Hà Nừng; Vũ Tiến
Hinh (1991) [13] tại Quảng Ninh và Vũ Đức Năng (2003) [26] tại Hương Sơn, Hà
Tĩnh lại cho thấy tổ thành loài của tầng cây tái sinh có liên hệ chặt chẽ với tổ thành
tầng cây cao. Một loài cây chiếm hệ số cao trong tổ thành tầng cây cao sẽ có hệ số
tương tự trong tổ thành của lớp cây tái sinh. Khi rừng chỉ có một tầng nếu tầng cây
cao già cỗi và chết đi thì lớp cây tái sinh của chính loài đó sẽ xuất hiện đồng loạt
hoặc cũng có thể một thảm thực vật trung gian xuất hiện để thay thế và cây tái sinh

những con số đánh giá tái sinh qua điều tra thực tế không phản ánh đúng, chính xác
tiềm năng tái sinh của rừng nghèo kiệt sau khai thác. Bằng chứng quan trong có thể
quan sát ở Hương Sơn khi rừng Lim xanh tái sinh hàng loạt gần 100ha trên rừng nghèo
kiệt đã cải tạo để trồng mỡ sau khi khai thác mỡ ở Cầu Hai, Phú Thọ một số băng chừa
rừng nghèo kiệt dường như không phát hiện cây tái sinh có giá trị kinh tế nhưng sau 10


16
năm một số loài có giá trị như Lim xanh, Ràng ràng, Re gừng...đã xuất hiện trở lại
[32].
Khi nghiên cứu tái sinh lỗ trống, Phạm Đình Tam (1987) [33] và Nguyễn Thị
Kha (2009) [21] đều nhận thấy đây là một trong các đặc điểm tái sinh phổ biến của
rừng tự nhiên, là quá trình hàn gắn những lỗ trống trong rừng do cây chết hay do cây
bị đổ do bão của cây tái sinh [6]. Trong quá trình này, các loài cây tiên phong ưa
sáng, mọc nhanh như Nanh Chuột, Chẹo, Sồi, Mán đỉa, Ràng ràng [20] ; Đỏm gai,
Dướng, Hu đay, Mắt trâu... [30] hay Sau sau, Trám trắng, Dẻ [21] xuất hiện đầu tiên
và nhanh chóng lấp đầy lỗ trống. Dưới tán cây tiên phong vốn có tuổi thọ ngắn, các
loài cây định vị trong thành phần quần thụ cũ thường đòi hỏi che bóng trong 1÷2
năm đầu như Lim xanh, Nghiến, Re hương [21] sẽ xuất hiện và từng bước vươn lên
thay thế chúng tạo nên những quần xã có cấu trúc gần giống cấu trúc của quần xã
xung quanh.
Khi đánh giá phân bố của cây tái sinh theo cấp chiều cao, các tác giả Tạ Thị
Hương (2009) [20]; Nguyễn Thị Nhàn (2009) [30] và Nguyễn Thị Kha (2009) [21]
đều kết luận: cũng giống như tái sinh dưới tán, số lượng cây tái sinh ở các lỗ trống
trong rừng giảm đi khi chiều cao của chúng tăng lên. Ở các lỗ trống trong rừng phục
hồi sau nương rẫy, phân bố cây tái sinh trên bề mặt đất có dạng phân bố cụm. Tuy
nhiên, ở trạng thái IIIA1 cây tái sinh trong 58,33% lỗ trống nghiên cứu có dạng
phân bố cụm và 41,67% có dạng phân bố ngẫu nhiên [21].
1.2.2. Phương pháp nghiên cứu tái sinh rừng
1.2.2.1. Giai đoạn tái sinh và chỉ tiêu đánh giá tái sinh

diện tích điều tra tái sinh tối thiểu biến động trong khoảng 4-5% tổng diện tích ô
tiêu chuẩn điều tra [39], ô dạng bản điều tra tái sinh có diện tích 4m 2 (2m x 2m) và
được bố trí đều trên các tuyến điều tra trong ô tiêu chuẩn. Với phương pháp này,
theo Đỗ Thị Ngọc Lệ (2007) [24], mặc dù số lượng ô nhiều nhưng diện tích điều tra
của mỗi ô nhỏ nên độ chính xác của kết quả không cao. Từ đó tác giả cho rằng
phương pháp điều tra 5 ô dạng bản mỗi ô có diện tích 25m 2 (5m x 5m) với 4 ô nằm


18
ở 4 góc của ô tiêu chuẩn, ô còn lại được lập ở vị trí giao nhau giữa hai đường chéo
của ô mặc dù số lượng ô dạng bản ít nhưng diện tích điều tra của mỗi ô lớn nên kết
quả nghiên cứu có độ chính xác tương đối cao. Đây cũng là phương pháp được
nhiều nhà lâm học trong đó có Nguyễn Minh Đức (1998) [9], Phạm Ngọc Thường
(2003) [38] và Phạm Quốc Hùng (2006) [19] áp dụng trong nghiên cứu của mình.
(b) Nghiên cứu tái sinh trong các lỗ trống:
Cho đến nay, mặc dù số lượng các công trình nghiên cứu về tái sinh lỗ trống
ở trong nước còn rất ít nhưng trong phương pháp nghiên cứu, các tác giả đã xác
định được 3 chỉ tiêu có ảnh hưởng rất lớn đến kết quả nghiên cứu đó là: (1) phương
pháp lựa chọn lỗ trống, (2) phương pháp xác định diện tích và (3) phương pháp điều
tra trong lỗ trống.
- Lựa chọn lỗ trống: trong các nghiên cứu của mình, lỗ trống đã được Tạ Thị
Hương (2009) [20] lựa chọn ngẫu nhiên trong ô tiêu chuẩn định vị dùng để nghiên
cứu tầng cây cao. Kết quả đã lựa chọn được 46 lỗ trống trong 6 ô tiêu chuẩn có diện
tích biến động từ 7,23m2 ÷ 33,36m2; Nguyễn Thị Nhàn (2009) [30] đã lựa chọn 36
lỗ trống, mỗi lỗ trống có diện tích tối thiểu là 100m 2 trên 03 tuyến điều tra được xác
lập trong khu vực nghiên cứu. Lỗ trống được lựa chọn, nhưng do chưa xác định tiêu
chí về diện tích tối thiểu của lỗ trống nên nhiều khoảng trống có diện tích tương đối
nhỏ đã được lựa chọn nghiên cứu làm ảnh hưởng không nhỏ đến kết quả nghiên cứu.
- Xác định diện tích lỗ trống: do hình dạng của lỗ trống rất đa dạng, khó xác
định chính xác và chưa có phương pháp chuẩn nên các phương pháp trong các


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status