Góp phần nghiên cứu đa dạng các loài họ lan (orchidaceae) nhằm đề xuất giải pháp quản lý, bảo tồn đối với một số loài lan chủ yếu tại vườn quốc gia bạch mã, thừa thiên huế - Pdf 44

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
------------o0o------------

LƯƠNG VIẾT HÙNG

GÓP PHẦN NGHIÊN CỨU ĐA DẠNG CÁC LOÀI HỌ LAN (ORCHIDACEAE)
NHẰM ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP QUẢN LÝ, BẢO TỒN
ĐỐI VỚI MỘT SỐ LOÀI LAN CHỦ YẾU
TẠI VƯỜN QUỐC GIA BẠCH MÃ, THỪA THIÊN HUẾ

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP

Hà Tây, 2007


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
------------o0o------------

LƯƠNG VIẾT HÙNG

GÓP PHẦN NGHIÊN CỨU ĐA DẠNG CÁC LOÀI HỌ LAN (ORCHIDACEAE)
NHẰM ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP QUẢN LÝ, BẢO TỒN
ĐỐI VỚI MỘT SỐ LOÀI LAN CHỦ YẾU

tuyệt chủng ngoài tự nhiên [1].
Bạch Mã là một trong những Vườn quốc gia của Việt Nam có tính đa
dạng sinh học cao. Rừng ở đây đặc trưng bởi hai kiểu rừng chính, đó là kiểu
rừng kín thường xanh mưa mùa á nhiệt đới, phân bố ở độ cao trên 900 m và
kiểu rừng kín thường xanh mưa mùa nhiệt đới, phân bố ở độ cao dưới 900 m.
VQG Bạch Mã có vị trí địa lý là vùng chuyển tiếp của hai miền Bắc – Nam.
Do đó, khu vực này chứa đựng những điểm đặc trưng riêng về hệ động thực
vật. Theo đánh giá gần đây nhất, VQG Bạch Mã có khoảng 1648 loài thực
vật bậc cao có mạch, trong đó họ Lan vẫn được khẳng định là họ đa dạng
nhất với 117 loài [17]. Các loài thuộc họ Lan là những loài chỉ thị rất nhạy
cảm với môi trường nên khả năng bị đe doạ rất cao trong sinh cảnh không
mấy ổn định của khu vực.


2

Với đặc tính riêng của mình, là một Vườn quốc gia được bao bọc xung
quanh với dân cư khá đông thuộc 9 xã và 2 thị trấn nằm trong vùng đệm, nên
VQG Bạch Mã đã và đang chịu một sức ép khá lớn [22]. Bên cạnh đó sự phát
triển dân số làm tăng nhanh nhu cầu tiêu dùng mà nguồn tài nguyên thì có
hạn, vì vậy đây là nguyên nhân làm cho Bạch Mã dễ bị de doạ, làm ảnh
hưởng trực tiếp đến tính đa dạng sinh học nói chung và tính đa dạng sinh học
họ Lan nói riêng ở VQG Bạch Mã.
Để góp phần quản lý bảo tồn tính đa dạng sinh học VQG Bạch Mã nói
chung, đa dạng họ Lan nói riêng, chúng tôi đề xuất đề tài: “Góp phần nghiên
cứu đa dạng các loài họ Lan (Orchidaceae Juss.) nhằm đề xuất giải pháp
quản lý, bảo tồn đối với một số loài Lan chủ yếu tại Vườn quốc gia Bạch
Mã, tỉnh Thừa Thiên Huế"




4

được xem là ông tổ của thực vật học và cũng có thể nói là cha đẻ của ngành
học về Lan. Orkis là chữ Hy Lạp đã được ông dùng để chỉ những cây Lan tìm
thấy ở vùng Địa Trung Hải. Đến thế kỷ thứ nhất sau Công nguyên,
Dioscorides đã dùng chữ Orchis để mô tả hai loài Địa lan trong quyển sách
về dược liệu của ông và đã được Linnaeus công bố lại trong tác phẩm
“Species Plantarum” vào năm 1753 và sau đó được nhà thực vật người Pháp
Jussieu A.L. chính thức đặt tên cho họ Lan - Orchidaceae Juss. từ năm 1789
và tên này được sử dụng cho tới ngày nay [19].
Hệ Lan của Việt Nam rất đa dạng về mặt địa lý thực vật, các đại diện
đều gặp trong cả 6 tiểu vùng địa lý thực vật khác nhau của Việt Nam: Tây
Tạng - Vân Nam, Nam Trung Hoa, Bắc Đông Dương, Trung Trường Sơn,
Nam Trường Sơn, Nam Đông Dương [1] và phân bố từ độ cao mực nước
biển lên tới các độ cao khác nhau thuộc miền núi của Việt Nam. Lan Việt
Nam cũng rất đa dạng về môi trường sống và thường được chia thành 3
nhóm chính: nhóm loài sống bám trên cây (Phong lan), sống trên đất (Địa
lan) và sống bám trên đá (Thạch lan). Tuy nhiên cũng có loài sống cả trên đá
và đất hay trên đất và bì sinh v.v…
Ở Việt Nam, có lẽ người đầu tiên nghiên cứu về cây Lan là vua Trần
Anh Tông, nhà vua cho lập Ngũ Bách Lan Viên bên đồi Long Đỗ (nay là
Vườn Bách Thảo Hà Nội), không những để sưu tầm, nuôi trồng Lan trong
nước mà còn cả các nước lân bang như Campuchia, Lào và Trung Quốc.
Năm 1790, Joao de Loureiro, người truyền giáo Bồ Đào Nha, nhà tự
nhiên học đầu tiên nghiên cứu khu vực Đông Dương. Những phát hiện của
ông được tóm tắt trong “Flora Cochinchinensis” được xuất bản ở Bồ Đào
Nha năm 1790. Sự ra đời cuốn sách, bao gồm các bản mô tả gốc của hơn 185
chi mới và 630 loài thực vật mới, đã gây nên chấn động trong giới các nhà
thực vật châu Âu và là một sự kiện về thực vật có ảnh hưởng lớn trong thời

bộ các loài Lan Đông Dương (The Orchids of Indochina), Seidenfaden đã


6

công bố 800 loài thuộc 140 chi Lan ở Đông Dương trong đó 2 chi mới và 12
loài mới được đề nghị [31].
Các năm sau đó cũng có một vài công trình nghiên cứu có liên quan
đến họ Lan của Việt Nam. Như “The Genus Paphiopedilum” của Phillip
Cribb có đề cập mô tả đến 11 loài và 2 thứ Lan hài ở Việt Nam [27]. Năm
2000, Schuiteman A., de Vogel đã công bố 142 chi với 751 loài Lan của Lào,
Campuchia và Việt Nam [30]. Một công trình lớn phải kể đến là “Cây Cỏ
Miền Nam Việt Nam” của Phạm Hoàng Hộ xuất bản năm 1972 và “Cây Cỏ
Việt Nam” năm 1993, 2000. Trong các công trình này, ông đã thống kê 799
loài Lan thuộc 142 chi với mô tả ngắn gọn các thông tin khoa học kèm hình
vẽ minh họa [9], [10], [11].
Trong khoảng từ năm 1984 đến nay, một loạt các công trình của GS. L.
V.Averyanov được công bố liên quan tới nghiên cứu Lan Việt Nam, đặc biệt
là phát hiện những loài Lan mới đối với khoa học, các loài Lan có nguy cơ bị
đe dọa và các loài mới bổ sung cho hệ thực vật Việt Nam. Tuy nhiên đó chỉ
là các công trình được công bố dưới dạng các bài báo khoa học. Những công
trình quan trọng nhất phải kể tới là: năm 1994, ông công bố cuốn sách
“Identification guide to Vietnamese orchids (Orchidaceae Juss.)”. Trong
công trình này ông đã mô tả một số loài mới và kiểm kê được 718 loài thuộc
132 chi Lan của Việt Nam [23]. Đây là công trình nghiên cứu lớn đầu tiên về
Lan của Việt Nam trong giai đoạn mới.
Năm 1990, Nguyễn Thiện Tịch & Lê Công Kiệt đã liệt kê 29 loài
thuộc 16 chi trong “Ghi nhận một số loài Lan tại Daklak”, trong đó, có loài
Arides crassifolia lần đầu tiên ghi nhận cho Việt Nam. Từ năm 1992 – 1999,
Nguyễn Thiện Tịch đã ghi nhận thêm 33 loài Lan mới cho Việt Nam trong

loài. Số loài của 10 chi đó chiếm 49,9% tổng số loài Lan đã biết ở Việt Nam
[1]. Bên cạnh đó, một công trình chuyên khảo quan trọng của các tác giả
Averyanov, Phillip Cribb, Phan Kế Lộc & Nguyễn Tiến Hiệp về “Lan hài
Việt Nam” đã mô tả 18 loài mọc tự nhiên và 4 loài lai tự nhiên, còn 5 loài lai
tự nhiên khác vẫn còn chưa được khẳng định chắc chắn đã được liên tục công
bố bằng tiếng Anh và tiếng Việt vào các năm 2003- 2004. Cuốn sách đã trình


8

bày chi tiết về địa chất, khí hậu và thảm thực vật Việt Nam với tất cả tính đa
dạng nổi bật của chúng. Phần trọng tâm của cuốn sách dành cho việc tổng kết
toàn diện về lịch sử, danh pháp và các mối quan hệ của tất cả 22 loài và dạng
lai tự nhiên phát hiện ở Việt nam. Như vậy, có thể nói, Việt Nam thật sự là
thiên đường của Lan Hài. Cuốn sách còn trình bày chi tiết về nơi sống, các
đặc điểm sinh học và sinh thái học của chúng, mối đe doạ bị tuyệt chủng của
phần lớn loài. Cuốn sách đã đóng góp đáng kể cho những hiểu biết của chúng
ta về tính đa dạng của thực vật Việt Nam [24]. Gần đây nhất Nguyễn Tiến
Bân, Averyanov L. & Dương Đức Huyến đã công bố họ Lan của Việt Nam
trong “Danh lục các loài Thực vật Việt Nam” tập 3 và thống kê được 865 loài
thuộc 154 chi Lan ở Việt Nam [2].

1.2. Bảo tồn đa dạng sinh học trên Thế giới và Việt Nam
Vấn đề bảo tồn đa dạng sinh học nói chung, đa dạng các loài Lan nói
riêng đã trở thành một chiến lược sống còn trên toàn thế giới. Thật vậy, đa
dạng sinh học có rất nhiều giá trị trong đời sống tự nhiên và con người. Theo
J. McNeely và cộng sự thì giá trị đó được thể hiện như sau:
- Các hệ sinh thái của trái đất là cơ sở sinh tồn của sự sống cho cả trái đất và
cả con người. Các hệ sinh thái đảm bảo các vòng tuần hoàn của oxy và các
nguyên tố dinh dưỡng khác trên toàn hành tinh. Chúng duy trì tính ổn định và

toàn cầu.
Năm 1991, WRI, WCU, WB, WWF xuất bản cuốn bảo tồn đa dạng
sinh học thế giới hoặc IUCN, UNEP, WWF xuất bản cuốn “Hãy cứu lấy trái
đất”. Cùng năm, WRI , IUCN, UNEP xuất bản cuốn “Chiến lược đa dạng
sinh học và chương trình hành động”.
Tất cả các cuốn sách đó nhằm hướng dẫn và đề ra các phương tiện để
bảo tồn đa dạng sinh học, làm nền tảng cho công tác bảo tồn và phát triển
trong tương lai.


10

Năm 1966, IUCN đã công bố Sách Đỏ thế giới (Red Data Book) trong
đó có phần thực vật. Tài liệu này đã gây được sự chú ý của các chuyên gia,
các chính phủ và các tổ chức phi chính phủ. Sau đó nhiều nước, nhiều vùng
cũng đã xây dựng Sách Đỏ của mình hay những tập hướng dẫn ghi chép các
loài hiếm và nguy cơ tuyệt chủng cao.
Sách Đỏ (Red Data Book), Danh mục Đỏ (Red List) được xem là
những tài liệu có tính chất quốc gia và mang ý nghĩa quốc tế, công bố các
loài động thực vật thuộc loại quí hiếm ở mỗi nước và trên toàn thế giới đang
bị đe doạ giảm sút số lượng hoặc đã có nguy cơ bị tuyệt chủng cần được bảo
vệ, phục hồi và phát triển. Đây là cơ sở khoa học, tạo cơ sở pháp lý cho việc
đề xuất, quyết định các biện pháp bảo vệ, phục hồi đối với từng đối tượng
thuộc loại này, đồng thời cũng là căn cứ để xử lý các hành vi phá hoại thiên
nhiên, gây tác hại cho sự tồn tại, phát triển của các loài sinh vật cần được bảo
vệ trong hoạt động khai thác, sử dụng tài nguyên sinh vật ở mỗi nước...
Năm 1978, IUCN đã đưa ra các mức độ đe doạ để đánh giá loài, song
các mức độ đó khá đơn giản và không truyền đạt đủ thông tin cần thiết cho
người đánh giá và sử dụng. Các mức độ đó là:
- Ex (Extinct) - Tuyệt chủng: Loài đã không còn tìm thấy sau nhiều lần tìm

+ NE (Not evaluated) - Chưa đánh giá
Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã
(Công ước CITES) ra đời năm 1973 tại Washington với 13 thành viên ban
đầu. Hiện nay, số thành viên tham gia vào công ước này đạt con số 158 quốc
gia. Công ước CITES là công cụ, khuôn mẫu nhằm ngăn chặn nạn buôn lậu
quốc tế các loài động thực vật đang nguy cấp. Họ Lan (Orchidaceae) là họ
thực vật được công ước CITES quan tâm nhất vì giá trị thương mại của
chúng, có số loài lớn nhất được công ước CITES đưa vào Phụ lục I và Phụ
lục II [4].


12

Trên những quan điểm bảo tồn đa dạng sinh học nêu trên, Việt Nam đã
có chính sách và hành động tích cực góp phần thực hiện chương trình bảo tồn
đa dạng sinh học trên phạm vi toàn cầu nói chung và Việt Nam nói riêng.
Việt Nam được đánh giá là một trong 16 nước có tính đa dạng sinh học
cao trên toàn cầu với nhiều loài động, thực vật hoang dã quý hiếm và các hệ
sinh thái đặc trưng. Theo dự đoán của các nhà thực vật học, số loài thực vật
có mạch ít nhất sẽ lên đến 12.000 loài, trong đó có khoảng 2.300 loài đã được
nhân dân ta dùng làm nguồn lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh, thức
ăn cho gia súc, lấy gỗ, tinh dầu và nhiều nguyên vật liệu khác [16].
Để bảo tồn tài nguyên của đất nước, ngay từ năm 1991, Luật Bảo vệ và
Phát triển rừng được ban hành và đến năm 1993 thì Luật Bảo vệ Môi trường
ra đời. Tiếp đó một loạt văn bản pháp quy được ban hành để bảo vệ các loài
quý hiếm: Nghị định số 18/HĐBT qui định danh mục động vật, thực vật rừng
quý hiếm và chế độ bảo vệ (1992); Chỉ thị số 130/TTg của Thủ tướng Chính
phủ về việc quản lý bảo vệ động vật, thực vật rừng quý hiếm (1993); Chỉ thị
283/TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc thực hiện biện pháp cấp bách để
quản lý gỗ quý hiếm (1993); Nghị định 48/CP sửa đổi và bổ sung danh mục

Song song với việc đánh giá tình trạng đe doạ của các loài thực vật
theo các cấp độ nguy cấp của mỗi loài, Sách Đỏ Việt Nam còn mô tả, giới
thiệu các đặc điểm sinh học, sinh thái, vùng phân bố, giá trị sử dụng, tình
trạng bảo tồn và đề nghị các biện pháp bảo vệ [3].
Để bảo tồn các quần thể động thực vật quý, hiếm, có nguy cơ đe doạ
tuyệt chủng và các hệ sinh thái rừng đặc trưng của Việt Nam, trong những
năm gần đây, nhà nước đã quyết định thành lập 30 VQG với tổng diện tích
910.709 ha và rất nhiều KBTTN trên toàn quốc (nguồn: Cục Kiểm lâm,
2006).
Trong những năm vừa qua, nhiều công trình nghiên cứu đánh giá đa
dạng sinh học cho các VQG và các KBTTN làm cơ sở cho việc hoạch định


14

các chính sách bảo tồn ngay tại cơ sở như: công trình của Phan Kế Lộc
(1986) về cấu trúc hệ thực vật ở Cúc Phương; Nguyễn Nghĩa Thìn (1992 –
1994) về đa dạng thực vật Cúc Phương; Nguyễn Nghĩa Thìn và cộng sự, từ
năm 1995 – 2002, đã công bố nhiều bài báo về đa dạng thành phần loài ở
VQG Cúc Phương, vùng núi đá vôi Hoà Bình, KBTTN Na Hang, khu mỏ
vàng ở Bồng Miêu (Tam Kỳ, Quảng Nam), lưu vực sông Đà, các VQG Cát
Bà, Bến En, Cát Tiên, Pù Mát, Phong Nha, Ba Bể, Yôk Đôn. Đặc biệt, công
trình của tập thể tác giả Leonid Averyanov, Phillip Cribb, Phan Kế Lộc và
Nguyễn Tiến Hiệp về “Lan Hài Việt Nam” công bố năm 2004 [24], đã nâng
tổng số Lan Hài Việt Nam là 22 loài. Cuốn sách đã nhấn mạnh đến mối đe
doạ bị tuyệt chủng của phần lớn loài, nêu lên các biện pháp cấp thiết sắp tới
để bảo vệ tất cả những gì còn lại. Đây là những thông tin khoa học quý giá
giúp cho các nhà quản lý, các nhà hoạch định chính sách có những định
hướng trong chiến lược bảo tồn đa dạng sinh học nói chung và bảo tồn các
loài Lan Hài nói riêng của Việt Nam.

8 loài cần phải được bảo vệ theo NĐ 18/HĐBT và 26 loài được ghi vào
SĐVN. Một đề nghị tập trung vào việc bảo vệ các loài bị đe doạ này trong
thời gian 3 năm tới đã được đề ra, trong đó cần lưu ý các loài đặc hữu [7].
Trong báo cáo của các công trình trên, hầu như các loài Lan không
được nhắc đến, chúng chỉ hiện diện trong các danh lục chỉ để làm tăng số
lượng loài trong khu vực.
Đến năm 1998, Mai Văn Phô và Nguyễn Hoàng Lộc đã cho đăng bài
“Tính đa dạng về thành phần loài của họ Lan (Orchidaceae Juss.) ở Vườn
Quốc gia Bạch Mã” trên tạp chí Sinh học số 20 với kết quả điều tra xác định
được 83 loài thuộc 40 chi của họ Phong lan, trong đó có 3 loài được ghi vào
SĐVN: Giải thùy sapa (Anoectochilus chapaensis), lan Cầu diệp hiệp
(Bulbophyllum hiepii), Hoàng thảo hương thơm (Dendrobium amabile).
Ngoài ra các tác giả đề nghị bảo vệ, phát triển một số loài có giá trị như: Vân
hài (Paphiopedium callosum), Nhất điểm hồng (Dendrobium draconis),


16

Hoàng thảo xoắn (Dendrobium tortile), Quế lan hương (Aerides odorata),
Hạc đính vàng (Phaius flavus) [15].
Năm 2001, Huỳnh Văn Kéo đã tổng hợp, hệ thống các nghiên cứu điều
tra động, thực vật của VQG Bạch Mã và cho xuất bản công trình “Vườn
quốc gia Bạch Mã - Bach Ma National Park”, đây là tài liệu đầu tiên giới
thiệu một cách tổng quan nhất về Vườn cũng như công tác quản lý, bảo tồn
và phát triển Vườn. Tác giả đã thống kê được 1406 loài thực vật, trong đó có
30 loài thực vật có nguy cơ bị suy thoái được đưa vào Sách đỏ Việt Nam
(SĐVN). Một số loài Lan đẹp đã được giới thiệu kèm hình ảnh [12].
Cùng trong năm này Huỳnh Văn Kéo, Trần Thiện Ân, Trần Khắc Bảo
đã hoàn thành công trình “Đa dạng sinh học cây thuốc vườn quốc gia Bạch
Mã, Thừa Thiên - Huế”. Trong tác phẩm đó tập thể tác giả đã công bố danh

cứu đặc điểm sinh thái, sinh học, tình trạng bảo tồn của một số loài Lan bị đe
dọa tuyệt chủng, đặc biệt là các loài nằm trong sách đỏ Việt Nam và nghị
định số 32/2006/NĐ-CP của Chính phủ ngày 30 tháng 3 năm 2006 về quản lý
thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm. Kết quả của những nghiên
cứu trên chắc chắn sẽ làm phong phú thêm sự hiểu biết về Lan ở VQG Bạch
Mã nói riêng và Lan Việt Nam nói chung, đề xuất các biện pháp cụ thể để
bảo tồn và phát triển bền vững hệ Lan tại VQG Bạch Mã, góp sức vào công
cuộc bảo tồn đa dạng sinh học của Việt Nam và Thế giới.


18

Chƣơng 2
ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ KINH TẾ XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊN CỨU

2.1 Điều kiện tự nhiên
2.1.1 Vị trí địa lý
VQG Bạch Mã với tổng diện tích tự nhiên là 22.031 ha nằm ở phía
Đông Nam của tỉnh Thừa Thiên - Huế, giữa 2 thành phố Miền Trung Việt
Nam là Huế và Đà Nẵng, thuộc hai huyện Phú Lộc và Nam Đông bao gồm
các xã: Lộc Điền, Lộc Trì (Phú Lộc); Huơng Phú, Hương Lộc, Thượng Lộ
(Nam Đông).
Tọa độ địa lý:
Từ 16005’ đến 16015’ vĩ độ Bắc.
Từ 107043’ đến 107 053’ kinh độ Đông.
2.1.2 Địa hình địa thế
Bạch Mã là phần cuối cùng của dãy Trường Sơn Bắc, địa hình chia cắt
phức tạp có nhiều dải núi với các đỉnh cao trên 1000 m chạy ngang theo
hướng Tây-Đông và thấp dần khi ra biển Đông. Các đỉnh Bạch Mã có độ cao
từ 1200 m đến 1450 m như Động Truồi cao 1170 m, Động Nôm 1208 m.

mưa bình quân hàng năm 3441,9 mm, thay đổi từ 2.440 mm - 3.000 mm, cá
biệt có những năm lên tới 7.977 mm [21]. Đây là một đặc điểm quan trọng
cùng với hệ thống sông suối dày đặc, trong đó các nhánh đầu nguồn của sông
Hương, sông Truồi là nguồn cung cấp, dự trữ nước cực kỳ quan trọng cho các
xã vùng đệm cũng như thành phố Huế.
Sự phân biệt hai mùa không rõ rệt hay có thể nói hầu như không có 2
mùa như các vùng khác. Thời gian mưa tập trung nhiều nhất bắt đầu từ tháng


20

5 và kết thúc vào tháng 12. Các tháng khác đều có lượng mưa lớn trừ tháng 3
hàng năm (mưa dưới 50 mm). Độ ẩm bình quân hàng năm là 84%, tháng cao
nhất là 90 - 91% (tháng 11 - 12). Ở khu vực hàng năm chịu ảnh hưởng của
gió mùa Đông Bắc và Tây Nam. Khí hậu vùng này là khí hậu gió mùa, có
mùa Đông hơi lạnh, mưa Hè - Thu - Đông, thời kỳ khô 0,1 - 1,0 tháng [21].
2.1.5 Tài nguyên rừng
Với vị trí địa lý tương đối đặc biệt, nằm ở miền Trung Việt Nam, là
phần cuối của dãy Trường Sơn Bắc, địa hình có nhiều dãy núi cao chia cắt
thấp dần ra biển (có nhiều đỉnh núi cao trên 1000 m), lại là nơi chuyển tiếp
của hai luồng khí hậu Bắc - Nam, Bạch Mã có tính Đa dạng sinh học cao. Có
hai kiểu rừng chính:
- Rừng kín thường xanh mưa mùa á nhiệt đới trên núi: kiểu này phân
bố ở độ cao trên 900m. Do hậu quả của chiến tranh nên kiểu rừng này không
còn dạng nguyên sinh mà chỉ còn hai trạng thái: rừng nghèo và rừng phục
hồi. Những cây gỗ chiếm ưu thế chủ yếu thuộc các họ Chè (Theaceae), Dẻ
(Fagaceae), Kim giao (Podocarpaceae), Long não (Lauraceae), Côm
(Elaeocapaceae)... Các loài thường gặp như Hoàng đàn giả (Dacrydium
elatum), Chắp tay (Bucklantia purpunea), Thông tre (Podocarpus
neriifolius), Dẻ (Lithocarpus spp., Quercus spp.), Côm (Elaeocarpus spp.)...

Một số loài tiêu biểu cho hệ thực vật miền Bắc di cư xuống như Gụ lau
(Sindora tonkinensis), Lim (Erythrophloeum fordii), Chay lá bồ đề
(Artocarpus styracifolius)... Một số loài tiêu biểu cho hệ thực vật miền Nam
di cư lên như Kiền kiền (Hopea pierei), Chò đen (Parashorea stellata)...
Hệ động vật ở VQG Bạch Mã cũng rất phong phú. Bạch Mã được xếp
loại là một trong 3 khu vực có tính đặc hữu về chim (EBA) ở Việt Nam
(ICBP 1992), được tổ chức Chim thế giới (Birdlife) ghi nhận là khu vực có
tính đặc hữu trong tổng số 221 khu vực toàn cầu. Do tính chất độc đáo về vị


22

trí của vườn, dưới chân núi Bạch Mã có các đầm phá lớn như Cầu Hai, Tam
Giang... đã tạo nên sự hấp dẫn cho các loài chim di cư, nên Bạch Mã nằm
trên trục đường của chim di cư qua Châu á từ Bắc xuống Nam. Hiện nay đã
ghi nhận được 330 loài chiếm 39% trong tổng số 840 loài đã thống kê được ở
Việt Nam. Tuy với diện tích 22.031 ha nhưng VQG Bạch Mã có 7 loài chim
Trĩ, so sánh với các quốc gia như Lào (có 7 loài), Campuchia (có 5 loài),
Malaixia (có 6 loài) thì ở đây số lượng loài chim Trĩ khá lớn. Về các động vật
khác: ếch nhái có 20 loài; bò sát có 31 loài, cá nước ngọt có 33 loài. Về côn
trùng bước đầu mới định loại được 218 loài, gồm 63 loài bướm đêm, 155 loài
bướm ngày.
Mặc dù danh lục động thực vật ở VQG Bạch Mã chưa đầy đủ, nhưng
cũng đã cho thấy tính đặc thù của động thực vật quý hiếm ở đây. Riêng về
loài đặc hữu, chỉ xét đến kết quả điều tra các loài và phân loài thuộc bộ Gà thì
ở VQG Bạch Mã có 2 loài: Gà lôi lam mào trắng (Lophura edwardsi), Gà lôi
trắng (Lophura nycthemera) và 2 loài Gà so: gà So trung bộ (Arborophila
merlini), gà So gutta (Arborophila rufogularis) là những loài chỉ phân bố
trong phạm vi hẹp (1 - 2 tỉnh).
Ngoài ra, VQG Bạch Mã còn là một phần chính quan trọng trong dải

cũng đốt rừng làm nương rẫy. Họ cũng sống nhờ vào rừng nhiều hơn người
Kinh.
Người Mường là nhóm dân tộc ít nhất trong vùng đệm, chỉ có 23 thành
viên. Những người này đến định cư tại Lộc Trì từ năm 1994. Trong đó có
người đã mang kiến thức về sử dụng cây thuốc từ quê hương mình vào.
Mật độ dân cư rất khác biệt: bình quân là 253 người/km2. Mật độ này
thay đổi từ 10 người/km2 tại xã Hoà Bắc ở vùng núi đến 760 người/km2 ở thị
trấn Phú Lộc.
2.2.2 Tình hình sản xuất và sinh kế của các cộng đồng vùng đệm



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status