LỜI CẢM ƠN
Sau một thời gian nghiên cứu, tác giả đã hoàn thành luận văn thạc sĩ “Đánh
giá thực trạng công tác bảo vệ môi trường các khu công nghiệp trên địa bàn thành
phố Hà Nội và đề xuất giải pháp quản lý bảo vệ”. Đây là một đề tài phức tạp và khó
khăn trong cả việc thu thập, phân tích thông tin số liệu và cả những vấn đề liên quan
đến đề xuất các giải pháp cụ thể. Tuy vậy, trong quá trình triển khai thực hiện tác giả
đã cố gắng đến mức cao nhất để hoàn thành luận văn với khối lượng và chất lượng
tốt nhất có thể. Trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn, tác giả
đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ của thầy cô, bạn bè và gia đình.
Trước hết tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc và trân trọng tới TS. Vũ Đức
Toàn, người Thầy đã chỉ bảo, hướng dẫn và giúp đỡ tác giả rất tận tình trong suốt
thời gian thực hiện và hoàn thành luận văn. Tác giả xin trân trọng cảm ơn đến các
thầy: PGS.TS. Nguyễn Văn Thắng - Trường Đại học Thủy lợi, TS. Bùi Quốc Lập -
Trường Đại học Thủy lợi đã có những chỉ bảo, góp ý chân thành cho tác giả trong
quá trình thực hiện luận văn. Tác giả xin gửi lời cảm ơn đến Phòng Đào tạo đại học
và sau đại học, Khoa Môi trường của trường Đại học Thủy lợi và toàn thể các thầy
cô đã giảng dạy, giúp đỡ tác giả trong thời gian học tập cũng như thực hiện luận văn.
Cuối cùng tác giả xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các bạn bè, người thân,
đồng nghiệp trong gia đình đã động viên, ủng hộ, chia sẻ và là chỗ dựa tinh thần
giúp tác giả tập trung nghiên cứu và hoàn thành luận văn.
Do thời gian nghiên cứu không dài, trình độ và kinh nghiệm thực tiễn chưa
nhiều nên Luận văn chắc chắn không thể tránh được những hạn chế và thiếu sót. Tác
giả kính mong các thầy, cô giáo, đồng nghiệp đóng góp ý kiến để kết quả nghiên cứu
được hoàn thiện hơn.
Tác giả xin chân thành cảm ơn.
Hà Nội, ngày tháng năm 2014
Học viên Trần Thị Ngọc Linh
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN 3
1.1. Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội của thành phố Hà Nội 3
1.1.1. Những đặc điểm tự nhiên thành phố Hà Nội 3
1.1.2. Đặc điểm kinh tế, xã hội 6
1.2. Hiện trạng môi trường thành phố Hà Nội 7
1.2.1. Chất thải rắn 7
1.2.2. Nước thải 9
1.2.3. Khí thải và tiếng ồn 9
1.3. Tổng quan về khu công nghiệp, các nguyên tắc bảo vệ môi trường và định
hướng phát triển khu công nghiệp ở Việt Nam hiện nay 9
1.3.1. Tổng quan về khu công nghiệp 9
1 3.2. Các nguyên tắc bảo vệ môi trường 15
1.3.3. Định hướng phát triển khu công nghiệp ở Việt Nam hiện nay 15
1.4. Tình hình quy hoạch và hoạt động của các khu công nghiệp ở Việt Nam và
thành phố Hà Nội hiện nay 16
1.4.1. Tình hình quy hoạch và hoạt động các khu công nghiệp ở Việt Nam 16
1.4.2. Tình hình quy hoạch và hoạt động các khu công nghiệp TP. Hà Nội 17
1.5. Hệ thống chính sách pháp luật về BVMT KCN hiện hành ở Việt Nam 24
1.5.1. Các văn bản được thực thi trước khi có Luật Bảo vệ môi trường 2005 24
1.5.2. Các văn bản quy định về quản lý môi trường KCN đang được áp dụng 25
CHƯƠNG 2. ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG CÔNG TÁC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TẠI
MỘT SỐ KHU CÔNG NGHIỆP ĐANG HOẠT ĐỘNG TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH
PHỐ HÀ NỘI 27
2.1. Công tác chấp hành pháp luật về BVMT tại các KCN đang hoạt động trên địa
bàn TP. Hà Nội 27
2.1.1. Chấp hành các thủ tục pháp lý về bảo vệ môi trường 28
2.1.2. Chấp hành các quy định khác về bảo vệ môi trường 40
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 89
KẾT LUẬN 89
KIẾN NGHỊ HƯỚNG NGHIÊN CỨU TIẾP 90
TÀI LIỆU THAM KHẢO 91
PHỤ LỤC DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1. Lượng chất thải rắn phát sinh tại Hà Nội năm 2011 8
Bảng 1.2. Sự hình thành và phát triển các KCN trên toàn quốc 10
Bảng 1.3. Số lượng, quy mô KCN trên địa bàn cả nước năm 2012 12
Bảng 1.4. Tình hình thu hút đầu tư vào các KCN (đến tháng 9/2012) 13
Bảng 1.5. Tổng hợp quy hoạch các KCN đến năm 2030 thành phố Hà Nội 18
Bảng 1.6. Khối lượng chất thải rắn tại các KCN Hà Nội năm 2009 21
Bảng 1.7. Khối lượng chất thải rắn tại các KCN Hà Nội 21
Bảng 1.8. Khối lượng nước thải phát sinh tại các KCN Hà Nội 22
Bảng 2.1. Tình hình thực hiện công tác lập báo cáo ĐTM hoặc Đề án BVMT KCN trên
địa bàn thành phố Hà Nội 30
Bảng 2.2. Các văn bản xác nhận hoàn thành các công trình BVMT KCN TP. Hà Nội 33
Bảng 2.3. Tổng hợp hồ sơ môi trường các doanh nghiệp trong KCN 35
Bảng 2.4. Tổng hợp dự án trong KCN trên địa bàn thành phố Hà Nội thực hiện quan trắc
môi trường định kỳ 38
Bảng 2.5. Tình hình xây dựng cơ sở hạ tầng KCN trên địa bàn thành phố Hà Nội 41
Bảng 2.6. Tổng hợp trạm xử lý nước thải các KCN trên địa bàn thành phố Hà Nội 43
Bảng 2.7. Các thông số xả thải vượt QCVN tại các KCN thành phố Hà Nội 47
Bảng 2.8. Danh mục cơ sở phát sinh khí thải và các công trình xử lý khí thải 50
Bảng 2.9. Số lượng cán bộ phụ trách về môi trường tại các Công ty là chủ đầu tư kinh
doanh hạ tầng KCN trên địa bàn thành phố Hà Nội 56
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
TỪ VIẾT TẮT
GIẢI THÍCH
BQL
Ban Quản lý
BVMT
Bảo vệ môi trường
CTNH
Chất thải nguy hại
CTR
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của Đề tài
Các khu công nghiệp (KCN) ngày càng phát triển mạnh mẽ và là một trong
những nhân tố chủ yếu thúc đẩy tăng trưởng công nghiệp của đất nước. KCN phát
triển sẽ tăng khả năng thu hút vốn đầu tư trong và ngoài nước vào phát triển công
nghiệp, đẩy mạnh xuất khẩu, tạo công ăn việc làm và thu nhập cho người dân; đồng
thời hạn chế tình trạng ô nhiễm do các cơ sở sản xuất ngoài KCN gây ra. Ngoài ra,
KCN phát triển sẽ kéo theo các đô thị mới, các cơ sở phụ trợ và dịch vụ không
ngừng phát triển, tạo ra sự chuyển dịch tích cực trong cơ cấu kinh tế - xã hội, góp
phần đưa Việt Nam cơ bản trở thành nước công nghiệp vào năm 2020.
Trên địa bàn thành phố (TP) Hà Nội hiện có 470 dự án đầu tư tại các KCN
đã đi vào hoạt động với doanh thu ước đạt 1,7 tỷ USD, góp phần thúc đẩy tăng
trưởng kinh tế xã hội của Thủ đô [1]. Tuy nhiên, công tác bảo vệ môi trường
(BVMT) tại các KCN ở cả nước nói chung và Hà Nội nói riêng đang phải đối mặt
với nhiều thách thức lớn về môi trường như: các bất cập trong cơ chế chính sách về
BVMT KCN nói riêng; công tác thực thi pháp luật về BVMT tại các KCN đã được
cải thiện theo từng năm tuy nhiên còn rất nhiều hạn chế cần được tháo gỡ; nhiều
thách thức lớn về ô nhiễm môi trường do các loại chất thải công nghiệp gây ra. Chính
vì vậy, việc đánh giá thực trạng công tác BVMT tại các KCN đang hoạt động trên
địa bàn TP. Hà Nội đồng thời đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu lực,
hiệu quả công tác BVMT của khu vực nghiên cứu là một việc hết sức cần thiết và
hữu hiệu trong công tác BVMT của Việt Nam nói chung và của Hà Nội nói riêng.
2. Mục tiêu của đề tài
Phân tích những thuận lợi, khó khăn trong các mặt cơ chế, chính sách, tổ
chức và trong quá trình chấp hành pháp luật về BVMT tại 08 KCN trên địa bàn TP.
Hà Nội. Đề xuất các giải pháp phù hợp nhằm hoàn thiện và tăng cường năng lực
thực thi công tác BVMT; đặc biệt đối với phạm vi các KCN đang hoạt động trên địa
bàn TP. Hà Nội.
2
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
3
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN
1.1. Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội của thành phố Hà Nội
1.1.1. Những đặc điểm tự nhiên thành phố Hà Nội
Vị trí địa lý thành phố Hà Nội:
Thành phố Hà Nội có diện tích tự nhiên 3.344 km
2
.
Thành phố Hà Nội thuộc khu vực đồng bằng Bắc Bộ, có địa giới hành chính:
Phía Bắc tiếp giáp với tỉnh Thái Nguyên và Vĩnh Phúc; Phía Nam tiếp giáp với tỉnh
Hà Nam và Hoà Bình; Phía Đông tiếp giáp với tỉnh Bắc Giang, Bắc Ninh và Hưng
Yên;Phía Tây tiếp giáp với tỉnh Hoà Bình và Phú Thọ.
Hà Nội nằm ở hữu ngạn sông Đà và hai bên sông Hồng, có vị trí thuận lợi để
phát triển thành một trung tâm chính trị, kinh tế, vǎn hoá và xã hội của cả nước.
Điều kiện về khí tượng, thủy văn thành phố Hà Nội:
* Điều kiện khí tượng:
Khí hậu Hà Nội là khí hậu nhiệt đới gió mùa: Mùa Hè nóng, mưa nhiều và
mùa Đông lạnh, mưa ít. Sự phân chia khí hậu nhiệt đới gió mùa theo bốn mùa, gồm
hai mùa chính là mùa Hè và mùa Đông, hai mùa chuyển tiếp: mùa Xuân, mùa Thu.
Khí hậu là một trong những yếu tố quan trọng góp phần vào quá trình phát
tán và chuyển hoá các chất ô nhiễm, đặc biệt là các yếu tố nhiệt độ không khí, độ
ẩm tương đối của không khí, lượng mưa, tốc độ và hướng gió, nắng và bức xạ mặt
trời. Theo tài liệu quan trắc tại Trạm khí tượng Láng, đặc trưng khí hậu TP. Hà Nội
như sau:
Nhiệt độ: Nhiệt độ không khí trung bình hàng tháng và hàng năm ở thành phố Hà
Nội dao động từ 23,7
o
C - 24,7
o
C, nhìn chung sự tăng giảm không theo quy luật.
(tại cửa sông) với tổng lượng nước chảy qua tới 83,5 tỷ m³, tuy nhiên lưu lượng
nước phân bổ không đều. Về mùa khô lưu lượng giảm chỉ còn khoảng 700 m³/giây,
nhưng vào cao điểm mùa mưa có thể đạt tới 30.000 m³/giây.
Ngoài ra, trên địa phận TP. Hà Nội còn nhiều sông khác như sông Đáy, sông
Đuống, sông Cà Lồ,… Các sông nhỏ chảy trong khu vực nội thành Hà Nội như
sông Tô Lịch, sông Kim Ngưu, là những đường tiêu thoát nước thải của Hà Nội.
5
Sông Đuống: Là phần lưu của sông Hồng dài 65km, nối liền hai con sông
lớn của miền Bắc là sông Hồng và sông Thái Bình. Sông Đuống tách sông Hồng ra
xã Ngọc Thuỵ (huyện Gia Lâm) chảy về phía Đông rồi Đông Nam qua các huyện
Thuận Thành, huyện Gia Lương (tỉnh Bắc Ninh) đổ vào sông Thái Bình ở Đại
Than, gần Phả Lại. Đoạn chảy qua thành phố Hà Nội dài 17,5 km.
Sông Tô Lịch: Là phần lưu của sông Hồng, tách từ “cửa cống thôn Hương
Bài” tức nay là chỗ trường Trần Nhật Duật, theo hướng Đông - Tây đến chợ Bưởi
quay lại theo hướng Bắc Nam vòng vo tới xã Hà Liễu (huyện Thường Tín) thì nhập
vào sông Nhuệ. Năm 1889, thực dân Pháp đã lấp nhánh sông Tô từ cửa Hương Bài
(Hà Khẩu) đến Thuỵ Khuê. Từ khi bị lấp, sông chỉ còn là dòng thoát nước thải của
Thành phố và ngày càng bị ô nhiễm nặng.
Sông Nhuệ: Còn gọi là sông Từ Liêm, sông Thanh Oai. Dòng sông chảy
theo hướng Tây Bắc- Đông Nam qua đất huyện Thanh Trì, huyện Thường Tín rồi
nhập vào sông Đáy ở thị xã Phủ Lý. Đoạn chảy trên đất Hà Nội gần 40 km.
Sông Kim Ngưu: Vốn là một nhánh của sông Tô Lịch từ phường Yên Lãng
chảy theo hướng đường La Thành qua cống Nam Đồng, Phương Liệt (quận Đống
Đa) tới xã Thịnh Liệt thông với sông Sét, rồi chảy vào huyện Thường Tín nhập vào
sông Nhuệ. Ngoài dòng chính đó còn có nhiều nhánh khác chảy trong quận Hai Bà
Trưng và huyện Thanh Trì song tác dụng chủ yếu ngày nay là đường thoát nước thải
của nội thành.
Sông Cà Lồ: Trước kia là một nhánh của sông Hồng, tách ra từ xã Trung
Hà, huyện Yên Lạc, Vĩnh Phú. Năm 1920, Pháp xây một đập chắn ở chỗ hợp lưu
sông Hồng với sông Cà Lồ (thuộc xã Vạn Yên, huyện Mê Linh). Phù sa lấp đoạn
đạt 7,49% (năm 2012 là 8,06%); chỉ số sản xuất công nghiệp ước tăng 4,4%-4,6%
(năm 2012 là 5,1%).
Các hoạt động thương mại và dịch vụ tiêu dùng xã hội vẫn tăng trưởng, tuy
nhiên, mức độ sôi động kém hơn năm 2012. Tổng mức bán ra tăng 13,8% (năm
2012 tăng 18,8%). Kim ngạch xuất khẩu tăng 0,2% (năm 2012 tăng 5,3%, kế hoạch
năm 2013 tăng 9%-10%). Kim ngạch nhập khẩu giảm 3,7%.
7
Hoạt động du lịch duy trì sự phát triển, khách du lịch đến Hà Nội vẫn ổn định.
Tổng lượng khách lưu trú trên địa bàn tăng 12%, trong đó, khách quốc tế tăng
15,2% so với năm 2012. Hà Nội được bình chọn là điểm đến hấp dẫn thứ 5 trong
top 10 điểm đến hấp dẫn hàng đầu châu Á năm 2013.
Sản lượng và năng suất của hầu hết các loại cây trồng đạt cao. Diện tích sản
xuất lúa hàng hóa chất lượng cao chiếm tỷ lệ cao trên tổng diện tích gieo trồng
(25%). Sản xuất rau an toàn được đẩy mạnh [1].
Tập trung phát triển hạ tầng đô thị, đảm bảo trật tự đô thị, BVMT
Công tác quy hoạch được triển khai tích cực: đã hoàn thành phê duyệt quy
hoạch phát triển kinh tế - xã hội của tất cả các huyện, thẩm định và phê duyệt 37/38
quy hoạch phát triển ngành, lĩnh vực. Dự kiến hoàn thành phê duyệt 30/32 đồ án
quy hoạch chung xây dựng huyện, thị trấn huyện lỵ, thị trấn sinh thái, đô thị vệ tinh
và 18/38 đồ án quy hoạch phân khu.
Cấp, thoát nước đô thị và các dự án cải tạo môi trường được chú trọng. Mạng
lưới cấp nước đô thị tới các hộ dân tại các khu vực quận Hoàng Mai, Hà Đông và
huyện Thanh Trì được đầu tư. Xây dựng trạm xử lý nước thải hồ Bảy Mẫu; chuẩn bị
đưa nhà máy xử lý nước thải Yên Sở vào hoạt động. Đã cơ bản hoàn thành cải tạo
hạ tầng xung quanh hồ Ba Mẫu. Đã triển khai giải phóng mặt bằng và thi công 03
gói thầu xây dựng các ô chôn lấp hợp vệ sinh thuộc khu phía Nam Dự án Khu liên
hiệp xử lý chất thải Sóc Sơn giai đoạn II. Tiến độ các dự án xử lý rác bằng vốn xã
hội hóa được đẩy nhanh. Đã vận hành dây chuyền xử lý rác bằng công nghệ đốt 300
tấn/ngày.đêm, cơ bản hoàn thành dự án nhà máy xử lý rác và sản xuất nguyên liệu
tái tạo công suất 300 tấn/ngày.đêm (tại Xuân Sơn) [1].
Thu hồi và tái chế: ~10%,
tự phát tại các làng nghề
2
CTR công
nghiệp
~1.950
Cặn sơn, dung môi, bùn thải
công nghiệp, giẻ dính dầu
mỡ, dầu thải, …
Một phần được xử lý tại
Khu xử lý chất thả
i công
nghiệp
3 CTR y tế ~15
Bao bì, bông băng thải phẫu
thuật, dụng cụ y tế nhiễm
khuẩn,…
Xử lý bằng công nghệ Lò
đốt Delmonego 200 -
Italia: 100%
Nguồn: Báo cáo môi trường Quốc gia - Chất thải rắn, Bộ TN&MT, 2011.
Khối lượng chất thải rắn trên địa bàn Thủ đô Hà Nội tăng trung bình
15%/năm. Ước tính, tỷ lệ thu gom CTR sinh hoạt ở các quận nội thành đạt khoảng
95%, các huyện ngoại thành chỉ đạt 60%; lượng chất thải rắn công nghiệp được thu
gom đạt 85%-90% và chất thải nguy hại chỉ đạt khoảng 60%-70%. Việc xử lý, tiêu
hủy, tái chế chất thải rắn hiện chủ yếu dựa vào chôn lấp tại bãi rác Nam Sơn (Sóc
Sơn), Xuân Sơn (Sơn Tây), Kiêu Kỵ (Gia Lâm), Núi Thoong (Chương Mỹ) và Nhà
máy xử lý rác ở Cầu Diễn, Nhà máy đốt rác ở Sơn Tây [2].
Chất thải rắn công nghiệp và chất thải nguy hại
Tổng lượng CTR công nghiệp phát sinh trung bình khoảng 1.747 tấn/ngày
; 46.000 tấn khí CO
2
từ các cơ
sở công nghiệp thải ra [3]. Ngoài ra, các phương tiện giao thông ô tô, xe máy cũng
được xác định là nguồn thải lớn.
1.3. Tổng quan về khu công nghiệp, các nguyên tắc bảo vệ môi trường và định
hướng phát triển khu công nghiệp ở Việt Nam hiện nay
1.3.1. Tổng quan về khu công nghiệp
1.3.1.1. Khái niệm khu công nghiệp
Khái niệm KCN ở Việt Nam đã được quy định tại Nghị định số 36-CP ngày
24/4/1997 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy chế KCN, khu chế xuất, khu
công nghệ cao như sau: KCN là khu tập trung các doanh nghiệp chuyên sản xuất
hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, có ranh giới
địa lý xác định, không có dân cư sinh sống; do Chính phủ hoặc Thủ tướng Chính
phủ quyết định thành lập.
Hiện nay, khái niệm KCN được dựa trên cơ sở Quy chế về KCN ban hành
kèm theo Nghị định số 29/2008/NĐ-CP ngày 14/3/2008 của Chính Phủ quy định về
KCN, khu chế xuất và khu kinh tế như sau:
10
KCN là khu chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho
sản xuất công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định, được thành lập theo điều kiện,
trình tự và thủ tục do pháp luật quy định.
Khu chế xuất là KCN chuyên sản xuất hàng xuất khẩu, thực hiện dịch vụ cho
sản xuất hàng xuất khẩu và hoạt động xuất khẩu, có ranh giới địa lý xác định, được
thành lập theo điều kiện, trình tự và thủ tục áp dụng đối với khu công nghiệp.
Khu công nghiệp, khu chế xuất được gọi chung là khu công nghiệp, trừ
trường hợp quy định cụ thể.
1.3.1.2. Đặc điểm các khu công nghiệp
a. Quy mô:
Các KCN của Việt Nam phần lớn có quy mô diện tích nhỏ hơn 500 ha, trong
11964
11
STT
Năm
Số lượng KCN
Diện tích (ha)
4
2005
131
29392
5
2006
139
31116
6
2007
179
42986
7
2008
219
57264
8
2009
223
61472
9
2010
253
68541
Bảng 1.3. Số lượng, quy mô KCN trên địa bàn cả nước năm 2012
STT
Khu vực
Số lượng KCN
Tỷ lệ (%)
1
Đông Nam Bộ
94
33
2
Đồng bằng sông Hồng
72
25
3
Đồng bằng sông Cửu Long
44
16
4
Miền Trung
43
15
5
Trung du miền núi phía Bắc
22
8
6
Tây Nguyên
8
3
sông Hồng, Đồng bằng sông Cửu Long có tỷ lệ lấp đầy đất công nghiệp đã vận
hành cao (Đông Nam Bộ (cả Long An) là 73%; Đồng bằng sông Hồng là 73%;
Đồng bằng sông Cửu Long là 89%) [5].
e. Tình hình thu hút đầu tư vào các KCN:
Trong 20 năm qua, các KCN đã trở thành điểm đến hấp dẫn đối với các nhà
đầu tư, đặc biệt là các nhà đầu tư nước ngoài (FDI). Tính đến cuối tháng 9/2012,
các KCN đã thu hút được hơn 4.300 dự án FDI còn hiệu lực với tổng vốn đầu tư
đăng ký đạt hơn 64,8 tỷ USD, tổng vốn đầu tư thực hiện đạt 32,7 tỷ USD, bằng 51%
tổng vốn đầu tư đăng ký. Hàng năm vốn FDI vào KCN, KCX chiếm từ 40%-45%
tổng vốn FDI đăng ký tăng thêm của cả nước, trong đó các dự án FDI về sản xuất
công nghiệp trong KCN, KCX chiếm gần 80% tổng vốn FDI vào ngành công
nghiệp cả nước. Riêng trong 9 tháng đầu năm 2012, tổng vốn FDI đã đăng ký vào
các KCN, KCX đạt 4,43 tỷ USD, tăng 30% so với cùng kỳ năm 2011.
Tình hình thu hút đầu tư vào các KCN được trình bày tại Bảng 1.4:
Bảng 1.4. Tình hình thu hút đầu tư vào các KCN (đến tháng 9/2012)
STT
Tên hạng mục
Khối lượng
1 Số lượng Dự án
Thu hút 4.300 dự án FDI, với vốn đăng ký
64,8 tỷ USD
2
Vốn thực hiện
FDI: 32,7 tỷ USD (Bằng 51% vốn đăng ký)
3 Tỷ lệ lấp đầy
Tỷ lệ lấp đầy cả nước 47%; các KCN đã đi
vào hoạt động: 179 KCN (chiếm 62%)
Nguồn: Tổng cục Môi trường, 2013. Báo cáo trình Chính phủ về hiện trạng công
tác quản lý và BVMT tại các khu kinh tế, khu công nghiệp, cụm công nghiệp.
Đầu tư phát triển hạ tầng KCN trong đó có đầu tư nước ngoài đã tạo ra một
lớn và có nguyện vọng hoạt động sản xuất lâu dài tại Việt Nam [6].
Nhìn chung tất cả các KCN của Việt Nam đều là KCN tập trung đa ngành.
15
1.3.2. Các nguyên tắc bảo vệ môi trường
Theo Luật Bảo vệ môi trường 2005 số 52/2005/QH11 được Quốc hội nước
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày
29/11/2005 và có hiệu lực từ ngày 01/7/2006 thì các nguyên tắc BVMT là:
BVMT phải gắn kết hài hòa với phát triển kinh tế và bảo đảm tiến bộ xã hội
để phát triển bền vững đất nước; BVMT quốc gia phải gắn với BVMT khu vực và
toàn cầu. Bảo vệ môi trường là sự nghiệp của toàn xã hội, quyền và trách nhiệm của
cơ quan nhà nước, tổ chức, hộ gia đình, cá nhân.
Hoạt động bảo vệ môi trường phải thường xuyên, lấy phòng ngừa là chính
kết hợp với khắc phục ô nhiễm, suy thoái và cải thiện chất lượng môi trường.
Bảo vệ môi trường phải phù hợp với quy luật, đặc điểm tự nhiên, văn hóa,
lịch sử, trình độ phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong từng giai đoạn.
Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân gây ô nhiễm, suy thoái môi trường có trách
nhiệm khắc phục, bồi thường thiệt hại và chịu các trách nhiệm khác theo quy định
của pháp luật [7].
1.3.3. Định hướng phát triển khu công nghiệp ở Việt Nam hiện nay
Theo Quyết định số 1107/QĐ-TTg ngày 21/8/2006 do Thủ tướng Chính phủ
ban hành về việc phê duyệt Quy hoạch phát triển các khu công nghiệp ở Việt Nam
đến năm 2015 và định hướng đến năm 2020, mục tiêu tổng quát:
Mục tiêu phát triển các khu công nghiệp tại Việt Nam đến năm 2015 và định
hướng đến năm 2020 là hình thành hệ thống các khu công nghiệp chủ đạo có vai trò
dẫn dắt sự phát triển công nghiệp quốc gia, đồng thời hình thành các khu công
nghiệp có quy mô hợp lý để tạo điều kiện phát triển công nghiệp, nhằm chuyển dịch
cơ cấu kinh tế tại những địa phương có tỷ trọng công nghiệp trong GDP thấp.
Đưa tỷ lệ đóng góp của các khu công nghiệp vào tổng giá trị sản xuất công
nghiệp từ trên 24% hiện nay lên khoảng 39% - 40% vào năm 2010 và tới trên 60%
vào giai đoạn tiếp theo. Tăng tỷ lệ xuất khẩu hàng công nghiệp của các khu công
trong đó vốn thực hiện đạt 50%, thu hút 2,1-2,2 triệu lao động. Trong giai đoạn
2020, hoàn thiện cơ bản mạng lưới KCN trên toàn lãnh thổ, với tổng diện tích
120.000 ha, đưa giá trị sản xuất công nghiệp trong các KCN đạt 25% GDP cả nước.
17
Theo Quyết định số 1107/QĐ-TTg ngày 21/8/2006 của Thủ tướng Chính phủ
phê duyệt Quy hoạch phát triển các khu công nghiệp ở Việt Nam đến năm 2015 và
định hướng đến năm 2020, Danh mục các KCN dự kiến ưu tiên thành lập mới đến
năm 2015 và định hướng đến năm 2020; Danh mục các KCN dự kiến mở rộng đến
năm 2015 trên phạm vi cả nước được trình bày tại Phụ lục 1 của Luận văn.
1.4.2. Tình hình quy hoạch và hoạt động các khu công nghiệp TP. Hà Nội
1.4.2.1. Tình hình quy hoạch các KCN trên địa bàn TP. Hà Nội
TP. Hà Nội hiện có 19 KCN và khu công nghệ cao (KCNC) được Thủ tướng
Chính phủ quyết định thành lập hoặc ghi danh vào mạng lưới quy hoạch các KCN
cả nước tới năm 2015. Trong đó, 01 KCNC Hòa Lạc do Bộ Khoa học Công nghệ
quản lý, Ủy ban nhân dân (UBND) TP. Hà Nội (Ban Quản lý các KCN và Chế xuất
Hà Nội) trực tiếp quản lý 18 KCN, KCNC với tổng diện tích 3.941 ha; hiện nay, đã
và đang triển khai 12 KCN, gồm:
- 08 KCN đang hoạt động với tổng diện tích là 1.236 ha bao gồm: KCN
Thăng Long (274 ha); Nội Bài (114 ha); Nam Thăng Long (30,4 ha); Hà Nội - Đài
Tư (40 ha); Sài Đồng B (47,3 ha); Thạch Thất - Quốc Oai (155 ha); Phú Nghĩa (170
ha); Quang Minh I (407 ha).
- 04 KCN đã có quyết định thành lập đang trong giai đoạn triển khai xây
dựng với tổng diện tích 925,5 ha bao gồm: KCN phụ trợ Nam Hà Nội (440 ha);
Phụng Hiệp (174 ha); Khu công viên công nghệ thông tin Hà Nội (38 ha); Quang
Minh II (266 ha).
- 06 KCN có trong danh mục quy hoạch phát triển các KCN cả nước đến năm
2020 nhưng đang trong giai đoạn lập quy hoạch, điều chỉnh quy hoạch, tổng diện tích
khoảng 1.808 ha, bao gồm: Khu công nghệ cao sinh học Hà Nội (200 ha); KCN Bắc
Thường Tín (430 ha); KCN sạch Sóc Sơn (340 ha); KCN Đông Anh (300 ha); KCN
Nam Phú Cát (500ha).